Chiến Tranh Việt Nam: Vụ Thảm Sát Ở Miền Trung


RA - Producer: Bảo Vũ - Monday, 27 October 2003

Mới đây một tờ báo tại Hoa Kỳ loan tin về những tội ác mà một đơn vị lính Mỹ phạm phải trong suốt thời gian 6 tháng ở miền Trung hồi còn chiến tranh Việt Nam.

Vụ thảm sát đã diễn ra như thế nào ?

Phản ứng chính thức của Hoa Kỳ và Việt Nam về vụ này ra sao ?

Để biết thêm về vấn đề này, trong mục Thời Sự của Đài Phát Thanh Uc Châu, chúng tôi mời quý vị nghe bài của ký giả Christina Toh Pantin thuộc hãng thông tấn Reuters:

Ong Nguyễn Đàm, một nhà nông vẫn còn nhớ như in ngày 10 nông gia lớn tuổi khác đã bị lính Mỹ bắn hạ trong lúc họ đang ở ngoài đồng hồi tháng Bảy năm 1967, khi cuộc chiến tranh Việt Nam đang tiếp diễn.

Đứng bên cánh đồng, ông phác tay chỉ cho các ký giả thuộc thông tấn xã Reuters biết: “Lính Mỹ đứng ở đây bắn ra. Tôi không thể tả nổi quang cảnh lúc đó. Khi nghĩ về chuyện đó, lòng tôi tan nát.”

Năm đó ông Đàm 31 tuổi. Ong đã chôn hai phụ nữ. Một trong những người bị giết là mẹ vợ.

Tất cả những người bị giết đều đã già quá, không thể chiến đấu gì cả; và ít nhất 5 trong số những người bị giết đều là phụ nữ.

Vụ bắn giết tại một làng ở miền Trung Việt Nam là một trong những vụ tàn sát lớn nhất nhắm vào thường dân. Vụ này do một đơn vị đặc biệt Mỹ mang tên Lôi Hổ thực hiện.

Nhật báo Toledo Blade tại tiểu bang Ohio loan tin về vụ này hôm 19 tháng 10. Tờ báo cho hay, không một ai trong số các lính Mỹ tham gia vụ tàn sát bị truy tố.

Đơn vị này gồm 45 binh sĩ nhảy dù có nhiệm vụ trinh sát lực lượng cộng sản tại các tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam trong thời gian từ tháng Năm tới tháng Mười Một năm 1967.

Tờ Blade loan tin, người ta biết ít nhất 81 người Việt, có thể còn nhiều hơn nữa, bị giết. Trong số này có cả đàn bà, trẻ em và thường dân lớn tuổi.

Một số thi thể bị lột da đầu và cắt tai. Theo tin cho biết một em bé bị chặt đầu và một bé gái 13 tuổi bị cưỡng hiếp và sau đó bị giết.

Tờ Toledo Blade cho hay, những tin tức vừa đề cập được dựa trên những cuộc phỏng vấn hơn 100 quân nhân thuộc đơn vị Lôi Hổ, thường dân Việt Nam và hàng nghìn trang tài liệu của chính phủ.

Khi được hỏi về vụ này, Ngũ Giác Đài, tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết, Mỹ không có kế hoạch mở lại cuộc điều tra. Trước đây, trong suốt 4 năm điều tra, quân đội Mỹ đã thấy 18 quân nhân phạm phải tội ác chiến tranh; thế nhưng quân đội không truy tố ai cả.

Trong khi đó, Hà Nội nói rằng Việt Nam muốn đóng lại vấn đề này. Còn các nhân chứng và những người sống sót lại nói, họ vẫn còn hãi hùng khi nhớ lại cuộc thảm sát; đồng thời họ muốn được bồi thường và những kẻ từng gây ra tội ác phải bị trừng phạt.

Bà Huỳnh Thị Giỏi, năm nay 68 tuổi, cho biết lính Mỹ đã giết đứa con trai 6 tuổi của bà khi bà cõng con trên lưng lúc trốn trong hầm trú ẩn.

Vụ này xảy ra hồi tháng Tám năm 1967. Bà nói: “Hai tên lính Mỹ vào nhà tôi. Bọn chúng không nói câu nào cả mà chỉ bắn mà thôi.” Con trai của bà chết ngay lập tức. Đây là một trong số 5 đứa con bà có lúc đó. Bà Giỏi không hề hấn gì; thế nhưng bà ngất xỉu khi vụ thảm sát diễn ra.

Bà Giỏi cho hay các nạn nhân người Việt phải được bồi thường về số tài sản bị lính Mỹ phá hoại. Bà nói: “ Còn về số tổn thất nhân mạng, bọn lính này phải bị trừng phạt.”

Cuộc chiến tranh giữa phe cộng sản miền Bắc và chính thể Sài Gòn được Hoa Kỳ hậu thuẫn đã chấm dứt hồi tháng Tư năm 1975. Khoảng 58.000 quân nhân Mỹ đã chết trong cuộc chiến. Trong khi đó, Hà Nội nói rằng 3 triệu thường dân và bộ đội đã hy sinh.

VN không muốn khơi lại quá khứ


VietMerc - Posted on Thu, Oct. 23, 2003

HÀ NỘI (AP) – Phản ứng về một bài đăng trên một nhật báo ở Hoa Kỳ nói rằng một đơn vị tinh nhuệ của quân đội Mỹ đã giết chết hàng trăm thường dân vô tội trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Hà Nội hôm thứ Ba nói cuộc xung đột đã gây “nhiều đau thương” nhưng đất nước không muốn khơi lại quá khứ.

Tờ Blade ở Toledo, tiểu bang Ohio, hôm Chủ Nhật đã nói rằng các binh sĩ thuộc đơn vị Tiger Force của Sư Đoàn 101 Không Vận Hoa Kỳ đã tiến hành một chiến dịch giết chóc điên cuồng kéo dài baœy tháng vào năm 1967 ở Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam.

Các binh lính đã giết phụ nữ, trẻ em và các nông dân già cả. Vài binh lính còn cắt tai của những người chết để đeo quanh cổ, tờ báo nói.

“Cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ đã gây nhiều đau thương và mất mát cho nhân dân Việt Nam,” phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Lê Dũng nói trong một bản tuyên bố, để trả lời một bức thư của thông tấn xã Associated Press yêu cầu bình luận về báo cáo của tờ Blade.

Nhưng ông nói Việt Nam muốn cuộc xung đột được nằm yên trong quá khứ.

“Với truyền thống nhân đạo và hòa hoãn, trong các quan hệ với Hoa Kỳ cũng như với các quốc gia từng một thời thù địch với Việt Nam, chúng tôi chủ trương tăng cường sự hiểu biết hỗ tương qua sự hợp tác để cải thiện những liên hệ song phương ngày càng gia tăng,” ông nói. “Đó là căn bản để giải quyết những hậu quả mà quá khứ để lại.”

Quân đội Hoa Kỳ đã thực hiện một cuộc điều tra kéo dài bốn năm rưỡi sau khi một binh sĩ giận dữ vì những vụ giết chóc đã ra mặt tố cáo, tờ Blade nói. Cuộc điều tra đã lên tới Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc, nhưng đã bị đóng lại vào năm 1975 và không hề được đưa ra trước công chúng, tờ báo nói.

Lục Quân hôm Chủ Nhật nói đã không đủ bằng chứng để truy tố những người bị cho là có liên can.

Căn cứ vào những cuộc phỏng vấn các người dân và cựu binh lính Tiger Force, người ta ước lượng rằng đơn vị đã giết chết hàng trăm người dân không võ trang, theo bài báo.

Tỳ vết một cuộc chiến


RA - Producer: Trường Giang - Tuesday, 21 October 2003

Kính thưa quý vị, gần 30 năm đã trôi qua, kể từ ngày kết thúc cuộc chiến tranh tại Việt Nam; thế nhưng, thực tế cho thấy thời gian chưa thể bôi xóa hết những dấu tích tội ác mà nạn nhân bao giờ cũng là những người dân vô tội sống giữa thời loạn ly.

Theo kết quả cuộc điều tra do tờ The Toledo Blade thực hiện tại Mỹ và Việt Nam trong 8 tháng qua, một trung đội trinh sát từng lập nhiều chiến công hiển hách thuộc Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ, bị cho là đã tra tấn và giết hại hằng trăm thường dân Việt Nam vào năm 1967, thời gian đơn vị này hoạt động trên vùng Tây Nguyên.

Tuy nhiên, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ hôm Chúa Nhật vừa qua tuyên bố, quân đội Mỹ sẽ không mở lại cuộc điều tra những hành vi dã man mà đơn vị này bị cho là đã phạm phải, vì lý do không có bằng chứng cụ thể. Hơn nữa, sự việc cũng đã xẩy ra từ cách đây hơn 35 năm !!

Trong mục Thời Sự hôm nay, mời quý vị nghe bài tường thuật chi tiết của phóng viên Maxim Kniazkov thuộc thông tấn xã AFP về chuyện này.

Để tìm hiểu những gì xẩy ra cách đây hơn 35 năm, tờ The Toledo Blade tại Hoa Kỳ đã mở một cuộc điều tra độc lập, gồm cả hơn 100 cuộc phỏng vấn, và điều mà tờ báo kết luận là trung đội Lôi Hổ có thể đã từng tàn sát hằng trăm thường dân Việt tại vùng Tây Nguyên.

Theo chi tiết bài phóng sự mà tờ nhật báo bắt đầu cho đăng tải hôm Chúa Nhật vừa qua, trong nhiều trường hợp, binh sĩ Mỹ đã cố ý phá sập các hầm ngầm để chôn sống phụ nữ và trẻ con ẩn náu bên dưới. Ngoài ra, sau khi tra tấn và hành quyết tù nhân, lính Mỹ còn cắt tai, lột da đầu xác chết làm vật lưu niệm.

Một cựu quân nhân Mỹ từng làm y tá trong đơn vị Lôi Hổ, Harold Fischer thuật lại rằng, trong nhiều trận càn, binh sĩ Mỹ xông vào các làng mạc, gặp ai bắn nấy, không cần biết phải trái. Điều này khiến ông không khỏi kinh tởm cuộc chiến Việt Nam.

Nhật báo The Blade cho hay, một số sĩ quan chỉ huy, dù biết rõ hành vi dã man của binh sĩ trong trung đội; nhưng lắm khi, họ lại còn khuyến khích.

Thời gian đó, vì lý do một số binh sĩ thuộc đơn vị Lôi Hổ ngày càng bị tố cáo về hành vi gây tội ác, nên đến năm 1970, quân đội Mỹ đã cho điều tra 30 quân nhân trong trung đội. Tiến trình kéo dài suốt 4 năm rưỡi để rồi cuối cùng, 18 binh sĩ Lôi Hổ bị cho là có thể đã phạm tội ác chiến tranh.

Tờ The Toledo Blade cho biết, mặc dù Bộ Quốc Phòng và nhiều viên chức cao cấp Tòa Bạch Ốc, kể cả John Dean, cựu cố vấn của Tổng Thống Richard Nixon, theo dõi sát nội vụ; thế nhưng, không một nghi can nào bị truy tố trước pháp luật.

Ngày nay, hơn một phần tư thế kỷ, sau khi cuộc điều tra được đóng lại; thực tế cho thấy lập trường của Ngũ Giác Đài về vụ này hầu như không có gì thay đổi.

Theo lời một sĩ quan xin được dấu tên làm phát ngôn viên cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, Phòng Điều Tra Tội Ác đã "bỏ rất nhiều thời gian tìm hiểu", ngay sau khi hành vi dã man của binh lính Mỹ bị tố cáo 4 năm sau.

Phát ngôn viên cho hay, những dữ kiện thu thập được sau đó, đã được đệ trình lên các viên chức hữu trách. Tuy nhiên, trong thẩm quyền cho phép, các vị chỉ huy này cho rằng không có đủ bằng cớ về chuyện lính Mỹ bị cho là gây tội ác. Vì vậy, không thể truy tố trước tòa án quân sự.

Dù vậy, một y tá từng phục vụ trong đơn vị Lôi Hổ, ông Rion Causey cho rằng quân đội Hoa Kỳ nên điều tra lại vụ này, nhất là hành vi của vị trung đội trưởng, có biệt danh Ghostrider, người mà ông cho là kẻ đầu têu cho binh sĩ dưới quyền làm bậy.

Như ông thuật lại, chính mắt ông trông thấy ít nhất 120 thường dân Việt bị bắn chết vào thời gian năm 1967.

Ngày nay, thay vì phủ nhận những việc đã gây ra trong quá khứ, các cựu binh trung đội Lôi Hổ có mở một trang nhà trên mạng Internet. Tại đây, người xem có thể ngắm những hình ảnh, đọc các bài tường thuật về gương anh dũng của những chiến sĩ xuất sắc nhất trong đơn vị.

Hòa hợp hòa giải


RA - Producer: Trường Giang - Wednesday, 22 October 2003

Kính thưa quý vị, phải nói rằng mối quan hệ giữa hai kẻ cựu thù, sau một cuộc chiến, bao giờ cũng gặp nhiều thử thách, với đầy dẫy những vấn đề tế nhị dễ khơi lại sự chia rẽ, hiềm khích và hằn thù lẫn nhau.

Thực vậy, qua những vụ tranh chấp về ngoại giao và thương mại giữa Việt Nam với Hoa Kỳ gần đây, thêm vào đó là chuyện một tờ báo ở Mỹ vừa công bố việc lính Mỹ tàn sát dân lành vào thời chiến tranh Việt Nam, tất cả những điều này cho thấy mối quan hệ Việt-Mỹ cũng không thoát khỏi quy luật vừa nêu.

Tuy nhiên, cả hai nước hiện có vẻ như chỉ muốn quên quá khứ mà nhìn về tương lai. Về phần Việt Nam, trong hoàn cảnh thực tế nhằm cải thiện bang giao, Hà Nội đã tỏ ra không chú tâm vào những lời tiết lộ của tờ The Toledo Blade tại Mỹ.

Trong mục Thời Sự hôm nay, Trường Giang xin gởi đến quý vị bài tường trình của phóng viên Ben Rowse thuộc thông tấn xã AFP về chuyện này.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, Lê Dũng cho rằng, người dân Việt đã phải nhận quá nhiều thương đau và mất mát trong cuộc chiến tranh xâm lược do Hoa Kỳ gây ra". Thế nhưng, ông nói, "với truyền thống nhân đạo và hòa giải, nhà nước Việt Nam chủ trương hợp tác để hai nước Việt-Mỹ hiểu nhau hơn hầu thắt chặt quan hệ song phương hiện nay". Như ông Dũng còn nói, đây là phương cách cơ bản để "giải quyết những hậu quả còn để lại trong quá khứ".

Cần nên biết, lời lẽ vừa nêu của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam là phản ứng đầu tiên của Hà Nội, sau khi tờ The Toledo Blade ở Mỹ cho công bố cuối tuần qua, những vụ binh lính Mỹ giết hại dân lành vào thời Chiến Tranh Việt Nam.

Thực ra trước đây, nhà nước Việt Nam cũng đòi hỏi Hoa Kỳ phải bồi thường cho các nạn nhân chịu tác động từ Chất Độc Mầu Da Cam, một loại thuốc khai quang mà quân đội Mỹ dùng để làm trụi cây cối rừng già khiến bộ đội cộng sản không còn chỗ ẩn nấp vào thời chiến tranh Việt Nam.

Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều quan sát viên, việc Hà Nội không có phản ứng gì cả lần này, khi binh lính Mỹ bị tố cáo gây tội ác chiến tranh, tất cả cho thấy Việt Nam hiện chỉ muốn dẹp bỏ qúa khứ để hướng về tương lai.

Giám đốc Phòng Thương Mại Hoa Kỳ tại Hà Nội, Adam Sitkoff bầy tỏ rằng, mối quan hệ Việt-Mỹ ngày nay không phải là chuyện ngồi xét lại những gì đã xẩy ra mà hai bên phải đưa mối liên hệ về phía trước trong tinh thần xây dựng. Theo ông, điều này cho thấy bang giao giữa hai nước đã đi vào giai đoạn trưởng thành, mặc dù không phải là không xẩy ra chuyện xung khắc.

Nói qua về bài phóng sự của tờ The Toledo Blade tại tiểu bang Ohio, tờ báo cho biết vào thời chiến tranh Việt Nam, một đơn vị Lôi Hổ từng lập nhiều chiến tích thuộc Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ, đã giết hại hằng trăm thường dân vào năm 1967.

Theo chi tiết bài phóng sự mà tờ báo bắt đầu đăng tải hôm Chúa Nhật, trong 7 tháng hoạt động trên vùng Tây Nguyên, lính Mỹ thuộc đơn vị Lôi Hổ đã phá sập các hầm ngầm để chôn sống phụ nữ và trẻ con ẩn náu bên dưới. Ngoài ra, sau khi tra tấn và hành quyết tù nhân, lính Mỹ còn cắt tai, lột da đầu xác chết làm vật lưu niệm.

Nhật báo The Blade cho hay, một số sĩ quan chỉ huy, dù biết rõ hành vi dã man của binh sĩ dưới quyền; nhưng trong nhiều trường hợp, họ lại còn khuyến khích; chứ không ngăn cản.

Thời gian đó, vì lý do một số binh sĩ thuộc đơn vị Lôi Hổ ngày càng bị tố cáo về hành vi tàn ác, nên đến năm 1971, quân đội Mỹ đã cho điều tra 30 quân nhân trong đơn vị. Tiến trình này kéo dài hơn 4 năm để rồi cuối cùng, 18 binh sĩ Lôi Hổ bị cho là có thể đã phạm tội ác chiến tranh; thế nhưng, không một nghi can nào bị truy tố trước pháp luật.

Hôm Thứ Hai vừa qua tại thủ đô Washington, phát ngôn viên quân đội Hoa Kỳ cho biết, tòa án quân sự không thể xử lại vụ này, vì không đủ chứng cớ. Chính vì vậy, cuộc điều tra đã được đóng lại từ năm 1975.

Ông này khẳng định rằng, việc làm vừa nêu của quân đội Hoa Kỳ là đúng; thế nhưng, phát ngôn viên cam kết rằng quân đội Mỹ sẽ cứu xét chuyện các cựu quân nhân nhìn nhận rằng lính Mỹ có giết hại thường dân Việt Nam.

'Quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến chậm mà chắc'


BBC 08 Tháng 10 2003

Trong chuyến thăm Mỹ vừa qua, bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên đã dừng chân tại đại học Johns Hopkins, Washington. Ông và đoàn Việt Nam tham dự hội thảo về quan hệ Việt-Mỹ ngày 2-10.

Về phía Mỹ có trợ lý ngoại trưởng, James Kelly, các học giả Mỹ và một số trí thức Việt Kiều, bao gồm giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (ĐH George Mason), giáo sư Lê Xuân Khoa (từng dạy ở ĐH Johns Hopskins) và ông Kiên Phạm (Vietnam Education Foundation).

Giáo sư Frederick Brown, khoa Nghiên cứu quốc tế, đại học Johns Hopkins, là thành viên ban tổ chức Hội thảo. Ông cho đài BBC viết về nội dung bài nói chuyện mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên đọc tại hội thảo:

Đó là bài diễn văn khai mạc hội thảo dài hai ngày tại Washington giữa phái đoàn Việt Nam gồm 14 quan chức và học giả cùng số lượng tương ứng từ phía Mỹ, cũng gồm quan chức và các nhà nghiên cứu. Hội thảo đã được chuẩn bị từ sáu tháng trước và được trù định diễn ra cùng lúc bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên đi thăm Mỹ.

Bài diễn văn của ông Niên rất tích cực, thể hiện qua một số trích đoạn:

“Chẳng có gì mới khi nói hai nước chúng ta có những điểm khác biệt. Điều mới là chúng ta có một mối quan hệ đang phát triển đáp ứng những lợi ích chung của hai nước. Sự hội tụ trong quan điểm hai nước cần được đẩy mạnh, trong lúc những bất đồng cần được thu hẹp.

“Một quan hệ song phương vững bền sẽ không chỉ phục vụ những lợi ích chung mà còn giúp giải quyết các khác biệt theo cách xây dựng."

BBC: “Sự hội tụ trong quan điểm hai nước” có thể nhìn thấy trong những lĩnh vực nào, theo ông ?

Đã có hợp tác tốt đẹp trong vấn đề lâu dài về người Mỹ mất tích. Khía cạnh quan trọng thứ hai là hiệp định thương mại Việt-Mỹ, hoàn tất tháng 12-2001. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã trở thành đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam theo nghĩa Hoa Kỳ nhập hàng xuất khẩu của Việt Nam nhiều hơn mọi nước khác. Mỹ đã ký thỏa thuận bán bốn máy bay Boeing 777 mà chiếc đầu tiên được giao hồi tuần này.

BBC: Còn những bất đồng mà đã được thảo luận tại hội thảo ?

Có những bất đồng liên quan vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam. Những câu hỏi đó được thảo luận tại hội thảo và tôi nghĩ các bên đều nói thẳng quan điểm của mình. Phía Việt Nam nói rất rõ rằng với họ, nhân quyền cũng là vấn đề tiến bộ kinh tế. Giờ đây người dân Việt Nam có nhiều lựa chọn hơn với một thị trường tương đối tự do, số doanh nghiệp tư nhân tăng lên. Những điểm này, nhìn từ phía Việt Nam, là thành phần quan trọng tạo nên “nhân quyền.” Vậy là có những khác biệt trong cách nhìn nhận nhân quyền bao gồm những gì, và chúng được thảo luận thẳng thắn tại hội thảo.

BBC: Từ bài diễn văn khai mạc mà theo ông là tích cực cho đến cuộc thảo luận thẳng thắn, xin ông cho biết những người Mỹ tham dự có phản ứng thế nào ?

Theo tôi không khí từ phía Mỹ rất tích cực. Xin nhắc đây không phải cuộc gặp mở rộng cho công chúng, mà là hội thảo dành cho những nhà nghiên cứu, người của chính phủ và thành viên quốc hội. Hội thảo diễn ra theo tinh thần như vậy. Trợ lý ngoại trưởng Mỹ, James Kelly, là người đọc bài diễn văn thứ hai, sau ông Niên. Có thể trích đoạn bài nói chuyện này như sau:

“Quan hệ hai nước đã đi một bước dài trong ba thập niên qua. Hai mươi năm sau chiến tranh, chúng ta chính thức thiết lập quan hệ và kể từ đó chúng ta đã hợp tác trong một loạt lĩnh vực từ thương mại đến khoa học-kỹ thuật và quân sự.”

Ông James Kelly nhắc lại trị giá hàng xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ đã ở mức 2.4 tỉ đôla vào năm 2002, và tăng 129% trong chưa đầy 12 tháng. Xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam cũng tăng đáng kể trong cùng kỳ. Hơn hai ngàn sinh viên Việt Nam đang học tại Mỹ.

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ cũng nói Mỹ trông đợi chuyến thăm sắp tới của bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà tháng Mười một này. Và có thể trong năm tới một chiến hạm Mỹ sẽ cập cảng TP. HCM. Những sự kiện này chứng tỏ Việt Nam và Hoa Kỳ đang tập trung vào tương lai, chứ không phải quá khứ.

BBC: Ông có nghĩ là chính phủ Việt Nam rất muốn cải thiện quan hệ với Washington một phần vì họ không thể làm điều tương tự trong quan hệ với cộng đồng người Việt ở Mỹ, mà nhiều người trong đó có quan điểm “chống cộng” ?

Tôi không đồng ý với tiền đề của anh. Tôi nghĩ phía Mỹ tại hội thảo nói rất rõ là một khía cạnh quan trọng cho một quan hệ tốt hơn giữa hai nước là nhu cầu đưa cộng đồng Việt kiều trở thành một phần không thể thiếu của tiến trình đó. Thực tế Việt kiều mỗi năm gửi về Việt Nam hai tỉ đôla. Việt kiều ở Mỹ cũng chiếm hơn một nửa trong số du khách vào Việt Nam. Vì thế tôi không nghĩ là chính phủ Việt Nam lại đã không thể cải thiện quan hệ với cộng đồng người Việt ở Mỹ.

BBC: Ông đánh giá quan hệ Việt-Mỹ trong tương lai gần sẽ đi theo hướng nào ?

Quan hệ với Việt Nam sẽ luôn đi một cách chậm chạp. Vẫn sẽ luôn có di chứng từ điều mà chúng tôi gọi là cuộc chiến Việt Nam, và người Việt Nam thì gọi là kháng chiến chống Mỹ. Mặc dù 28 năm đã qua, nhưng sẽ phải mất thêm một thế hệ để đạt được một quan hệ thật đầm ấm. Nhưng hiện tại, chúng tôi đang đi chậm và xây dựng từng chút một. Tôi nghĩ nó đang tốt đẹp, mà hội thảo là một minh chứng.

Năm năm trước, tôi đến một hội thảo tương tự, nơi có hai người Việt Nam tham dự. Hôm nay, trong hội thảo không chỉ có 14 đại biểu từ Việt Nam mà còn cả số người Việt từ sứ quán và những người liên quan việc chuẩn bị hội thảo. Nó cho thấy Việt Nam đã cởi mở hơn trong quan hệ, và tôi nghĩ Hoa Kỳ sẵn sàng đi chậm rãi và xây dựng một nền tảng vững chắc.

BBC: Liệu Hoa Kỳ có áp dụng một hình thức đối thoại đồng thời gây sức ép trong mối quan hệ với Việt Nam không ?

Chúng tôi sử dụng kiểu sức ép đó trong quan hệ với mọi nước, bao gồm Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, và nhiều nước khác nơi mà nhân quyền chiếm một vị trí quan trọng. Dĩ nhiên, có cả Việt Nam bởi vì quá khứ, bởi vì cộng đồng người Mỹ gốc Việt to lớn tại đây. Dĩ nhiên, nhân quyền và tự do tôn giáo là những vấn đề quan trọng. Nhưng đó chỉ là một phần trong mối quan hệ.

Về phía Mỹ, điều người Mỹ đang làm là cải thiện, một cách chậm chạp nhưng chắc chắn, mối quan hệ. Chúng tôi không có ảo tưởng về tình hình tại Việt Nam, và phải tính đến điểm nhìn của đảng và chính phủ Việt Nam. Chúng tôi cố gắng tiến thật nhanh trong khả năng của mình, đối thoại và nhấn mạnh đến những tiến bộ đạt được. Mười năm trước không có một hoaṭ động thương mại song phương nào, Việt Nam vẫn bị xem như một nước khá là khó chịu trong quan hệ. Giờ đây có nhiều tiến bộ. Nhưng theo tôi, sẽ không thực tế nếu tin là sự cải thiện trong mối quan hệ sẽ đến nhanh. Nó sẽ tiến chậm nhưng chắc chắn. Theo tôi đó là cách nhìn của phía Mỹ.

Vài nét về GS. Frederick Brown:

Quan hệ Mỹ Việt và thái độ thận trọng của Hà Nội


RFA 2003-10-03 - Trần Sơn Nam

Tuần trước đây từ Hà Nội người ta được tin là nhà cầm quyền Việt Nam đã xác nhận việc Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, ông Donald Rumsfield, mời Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, tướng Phạm Văn Trà, viếng thăm Hoa Kỳ. Trong hành lang ngoại giao tin này đã có từ lâu, nhưng nay mới được chính thức xác nhận. Giới quan sát quốc tế cho rằng sở dĩ có tình trạng này là vì Việt Nam từ trước đến nay vẫn hết sức thận trọng trong vấn đề bang giao với Mỹ. Trần Sơn Nam hôm nay có bài nhận định sau đây về hoàn cảnh hết sức tế nhị của Việt Nam trong vấn đề này và những lý do tại sao Việt Nam cần phải thận trọng.

Mối bang giao giữa hai nước cựu thù địch Mỹ và Việt Nam trong thập niên gần đây,1994-2004, trải qua nhiều giai đoạn. Trước hết là quyết định của Mỹ bãi bỏ cấm vận năm 1994, rồi sau đó là bình thường hóa ngoại giao năm 1995, trao đổi Đại Sứ năm 1997 và Hiệp Định Song Phương về Thương Mại năm 1999.

Trình tự của những bước đường đã qua như vậy có thể được coi là hợp lý và nếu chỉ nhìn vào bề ngoài của những diễn tiến đưa đến kết quả tích cực trên đây thì ai cũng có cảm tưởng là hai nước đã vượt được lên trên hết mọi trở ngại để đạt tới một tình trạng hoàn toàn bình thường. Sự thực thì vấn đề không đơn giản vì hoàn cảnh nội bộ của cả hai bên Mỹ và Việt đều phức tạp.

Riêng về phía Mỹ thì tương đối sự chống đối việc cải tiến mối bang giao với Việt Nam không mạnh vì đối với siêu cường quốc Mỹ vấn đề không thuộc vào loại ưu tiên quan trọng. Nhưng về phía Việt Nam thì, trái lại, sự giằng co giữa những khuynh hướng trong nội bộ của đảng Cộng Sản có thể được coi như một yếu tố then chốt trong vấn đề lựa chọn trong hàng ngũ nhà cầm quyền giữa hai đường lối: đẩy mạnh hay không đẩy mạnh mối quan hệ với Mỹ.

Trong giới quan sát quốc tế người ta còn nhớ là Thủ Tướng Phan Văn Khải trong khi đã lên đường đi dự hội nghị Apec ở Tân Tây Lan với mục đích là thỏa thuận với Tổng Thống Mỹ Clinton về Hiệp Định Thương Mại mà còn nhận được chỉ thị vào phút chót của Bộ Chính Trị là không được ký kết gì hết.

Sự kiện này đã cho thấy sự tranh chấp gay gắt giữa những khuynh hướng đổi mới và thủ cựu trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam. Và Việt Nam phải đợi đến khi nước bạn đàn anh Trung Quốc ký với Mỹ một bản thỏa ước tương tự, rồi mới được rộng đường ký với Mỹ bản Hiệp Định này.

Sự thực thì không như Mỹ, một nước lớn được rảnh tay dễ dàng trong một vấn đề thuộc hạng ưu tiên thấp, Việt Nam bị đặt vào một hoàn cảnh thật tế nhị. Cùng một ý thức hệ với nước bạn đàn anh Trung Quốc, Việt Nam phải dựa vào Trung Quốc, nhưng không phải vì thế mà không lo về sức ép của nước láng giềng đã cả từng thế kỷ đè nặng lên đầu Việt Nam.

Thể hiện cụ thể mới nhất cho sức ép này là những bản hiệp ước trên bộ và phân định lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ, thiệt thòi cho Việt Nam nhưng Việt Nam vẫn phải ký gần đây dưới áp lực của Trung Quốc. Trong mọi tính toán của nhà cầm quyền Việt Nam, trước khi chọn một hướng đi về mặt ngoại giao, yếu tố Trung Quốc là một yếu tố hàng đầu cả về hai mặt ý thức hệ và chiến lược. Trong hoàn cảnh khó khăn này, tuy không nói ra nhưng một số người ở Việt Nam có lẽ trong thâm tâm cũng nghĩ rằng phải chăng việc Mỹ trở lại Việt Nam là một cơ hội để Việt Nam có thêm được một người bạn, vừa có lợi cho mình vừa có thể làm nhẹ bớt đi áp lực của Trung Quốc.

Nói thì dễ nhưng thực hiện được không phải là dễã vì mối đe dọa của Trung Quốc thì ở ngay sát nách trong khi đó thì Mỹ ở xa ngoài ngàn dậm. Vả lại, trong số ngạn ngữ của Việt Nam đã có câu “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, hơn nữa trong qua khứ, Việt Nam cũng đã được một bài học, vì tỏ ra thân thiện với nước đàn anh phương xa là Liên Bang Xô Viết mà phải chịu cảnh chiến tranh năm 1979.

Đặc biệt về tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, tướng Phạm Văn Trà, được Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, ông Donald Rumsfield, mời viếng thăm Hoa Kỳ, được loan báo tuần trước đây, giới quan sát quốc tế ghi nhận trước hết lời tuyên bố hết sức thận trọng của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam, ông Lê Dũng. Ông không loan báo ngày nào thì tướng Phạm Văn Trà lên đường và chỉ đưa ra lời tuyên bố là nếu chuyến viếng thăm được thực hiện thì đây là lần đầu tiên một vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam viếng thăm Hoa Kỳ.

Về phương diện này, người ta cũng được biết là dưới thời chính quyền Clinton, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ thời đó là ông William Cohen viếng thăm Việt Nam hồi tháng 3 năm 2000 và đã ngỏ ý bán chính thức mời Bộ Trưởng Quốc PhòngViệt Nam sang thăm Hoa Kỳ. Giới lãnh đạo Hà Nội lúc đó tuy chưa nhận lời nhưng kín đáo đã cho Mỹ biết rằng Việt Nam hoan nghênh sự có mặt quân sự của Mỹ ở Á Đông, mặc dầu Mỹ không nên chờ đợi Việt Nam công khai nói lên điều này. Rồi đến bây giờ, sau khi trên nguyên tắc đã nhận lời mời của Mỹ, Việt Nam lại còn phải đắn đo thêm là chuyến viếng thăm của tướng Phạm Văn Trà sẽ phải vào dịp nào cho thuận tiện. Nếu Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn dị Niên đằng nào cũng phải đi Mỹ để dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp quốc thì ai là người đi trước ai là người đi sau ?

Về phía Mỹ thì tất cả đều không phải là mối quan tâm lớn, nhưng trái lại về phía Việt Nam thì tất cả là một sự cân nhắc thận trọng. Mối bang giao Mỹ Việt từ lãnh vực ngoại giao và kinh tế có thể đã bắt đầu bước sang lãnh vực quân sự và chiến lược, vì vậy mà Việt Nam lại càng phải thận trọng. Nhưng đây cũng là điều dễ hiểu nếu người ta nghĩ đến hoàn cảnh tế nhị của nhà cầm quyền Hà Nội.

Bắt tay với kẻ cựu thù ?


BBC 27 Tháng 10 2003 - Cập nhật 00h24 GMT

Nếu không có gì thay đổi, thì tháng Mười một tới sẽ chứng kiến lần đầu tiên kể từ năm 1975, một bộ trưởng quốc phòng Việt nam, ông Phạm Văn Trà, đến thăm Mỹ.

Ba năm trước, bộ trưởng quốc phòng Mỹ khi đó là ông William Cohen trở thành lãnh đạo quân sự Mỹ đầu tiên tới thăm Việt Nam thời hậu chiến.

Các nhà quan sát cho rằng mối quan hệ quân sự Việt-Mỹ là một phần trong chiến lược của Hà Nội trong việc bình thường hóa quan hệ với Washington.

Cạnh đó họ cho rằng mối quan hệ này phần nào chịu sự chi phối của nước láng giềng Trung Quốc.

Cùng lúc với sự loan báo về chuyến thăm sắp tới của Bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà, người ta cũng được biết một chiến hạm Mỹ sẽ cập cảng thành phố Hồ Chí Minh trong một tương lai gần, mặc dù thời gian cụ thể chưa được quyết định.

Hoa Kỳ từ lâu đã nói họ muốn được tiếp cận các cảng biển của Việt Nam, không phải với mục đích thiết lập căn cứ cố định tại đây nhưng ít nhất được quyền đưa tàu cập bến một cách tự do.

Diễn biến này cho thấy hai nước đang muốn mở rộng mối liên lạc giữa quân đội hai nước. Trung tướng Nguyễn Đình Ước, thuộc Viện Lịch sử quân sự Việt Nam ở Hà Nội tin là chuyến đi của ông Trà sẽ mang tính tích cực:

Chuyến đi sẽ góp phần thúc đẩy sự hiểu biết giữa hai nước, thúc đẩy thêm một số chương trình như chương trình tìm kiếm người Mỹ mất tích, MIA, hay phát triển quan hệ quân sự.

Quan hệ quân sự Việt-Mỹ bắt đầu cho thấy những dấu hiệu cải thiện từ ba năm trước khi bộ trưởng quốc phòng Mỹ William Cohen khi đó trở thành lãnh đạo quân sự Mỹ đầu tiên đến Việt Nam thời hậu chiến.

Trong bài diễn văn đọc năm 2000 tại học viện quốc phòng ở Hà Nội, ông William Cohen đã nói vấn đề người Mỹ mất tích vẫn sẽ là ưu tiên cao nhất trong quan hệ quân sự song phương. Tháng Năm vừa qua, Việt Nam trao cho Washington năm bộ hài cốt lính Mỹ, đưa tổng số hài cốt quân nhân được đưa về Mỹ kể từ năm 1973 là 805.

Đình hoãn và dè chừng

Tuy vậy, không phải không có những sự dè dặt.

Theo một số nhà phân tích, giới chức quân sự của Việt Nam thật sự muốn Mỹ vẫn đóng vai trò tích cực tại khu vực nhưng họ lo ngại về phản ứng của Trung Quốc.

Chuyến thăm của ông Phạm Văn Trà đã bị đình hoãn nhiều lần một phần cũng vì lý do này. Đến hôm nay, các chi tiết về chuyến thăm của ông Phạm Văn Trà vẫn chưa được tiết lộ. Thiếu tá Flex Plexico là phát ngôn nhân của Lầu Năm Góc nói rằng ông không thể cung cấp thông tin về một cuộc gặp kín:

Tôi biết chuyến thăm đang được hoạch định, nhưng ngày chính xác thì chưa có hay chưa thể công bố. Theo tôi hiểu, đây là cuộc gặp kín và vì thế chúng tôi không công khai vấn đề này. Dĩ nhiên, nói chung người ta có thể đoán rằng hai bên sẽ bàn về quan hệ quân sự song phương giữa Mỹ và Việt Nam. Về việc liệu Bộ trưởng Donald Rumsfeld có gặp bộ trưởng Phạm Văn Trà hay không thì vấn đề này, đến hôm nay, chưa được quyết định.”

Giáo sư Zachary Abuza, dạy môn chính trị học tại đại học Simmons của Mỹ, nói cả Việt Nam lẫn Mỹ đều không muốn khiến nước láng giềng Trung Quốc phải chột dạ:

Việt Nam không phải không muốn có quan hệ gần gũi với Mỹ, nhưng họ lo ngại về phản ứng của Trung Quốc. Người Mỹ cũng nhạy cảm trước vấn đề này và họ không muốn quan hệ quân sự Việt-Mỹ đặt Việt Nam vào tình thế giống như đang đi đêm với Mỹ hay đang muốn thắt chặt quan hệ với Washington mà bỏ qua Bắc Kinh.

Những tuần gần đây, Việt Nam đã tỏ ý muốn tham gia đầy đủ hơn trong cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ.

Với tiềm năng của Việt Nam trong khu vực, Hoa Kỳ muốn Việt Nam sẽ đóng vai trò tích cực hơn để đáp ứng nhu cầu an ninh của Mỹ.

Mặt khác, tại Việt Nam, nơi mà đến giờ phút này đối tượng duy nhất bị nhà chức trách gọi là khủng bố là một số tổ chức người Việt đặt trụ sở tại Mỹ, nhiều nhà phân tích đặt câu hỏi về nhu cầu tham gia chống khủng bố của Việt Nam.

Theo ông Carl Thayer - giáo sư thuộc học viện quốc phòng Úc thì có thể xem đây là cách để Việt Nam ngầm tỏ ý muốn hợp tác với Washington mà không làm mất lòng các đối trọng khác:

Bằng cách ra tín hiệu muốn tham gia cuộc chiến chống khủng bố, Việt Nam có thể tăng cường quan hệ với Mỹ mà vẫn có lớp vỏ yểm hộ trước Trung Quốc hay các cường quốc khu vực khác. Vì đằng nào thì Trung Quốc, Philippines hay Thái Lan cũng đã tham gia cuộc chiến này.

Cũng theo giáo sư Carl Thayer, những vấn đề như chất độc màu da cam hay yêu cầu Mỹ xin lỗi về cuộc chiến sẽ không phải là trọng tâm đối với giới chức quân sự Việt Nam lúc này.

Ông Thayer nói thêm Việt Nam xem mối quan hệ quân sự với Hoa Kỳ chỉ là một phần trong chiến lược khôi phục quan hệ với Washington.

Trong khi đó, các phóng viên cho rằng cần phải để ý thêm đến thái độ mềm mỏng gần đây của Hà nội.

Mới đây khi một tờ báo Mỹ loan báo họ có bằng chứng về vụ tàn sát dân thường của lực lượng Mãnh hổ của Mỹ hồi năm 1967, Bộ ngoại giao Việt Nam nói Việt Nam muốn quên quá khứ và phát triển quan hệ song phương là cách hay nhất để giải quyết hậu quả của chiến tranh.

Đọc sách: Death of a Generation JFK đảo chính Ngô Đình Diệm


VietMerc - Posted on Thu, Oct. 23, 2003 - Bùi Văn Phú

Tháng Mười Một, 2003 đánh dấu 40 năm ngày Ngô Đình Diệm, tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa bị lật đổ và bị giết chết. Đây cũng là dịp kỷ niệm 40 năm tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bị ám sát. Hai cái chết chỉ cách nhau ba tuần lễ đã làm thay đổi cuộc diện chiến tranh Việt Nam mà cho đến nay vẫn thường có giả thuyết là nếu không có những cái chết đó thì VNCH còn tồn tại và Hoa Kỳ đã không thất bại như đã xảy ra.

The Death of a Generation là một tác phẩm dẫn đến sự giả định là nếu hai vị tổng thống trên còn sống thì Hoa Kỳ đã rút quân và cuộc diện chiến tranh Việt Nam đã khác. Tác phẩm sử liệu này của Howard Jones viết về những biến chuyển trong chính sách của Hoa Kỳ đưa đến việc Bạch Cung chủ trương một cuộc đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm, mà theo tác giả là một "hành động sai lầm khi Kennedy đồng ý lật đổ Diệm với hy vọng việc thay đổi chính quyền ở đó sẽ giúp cho những nỗ lực chiến tranh tốt hơn và để Mỹ rút quân dễ dàng hơn".

Howard Jones là giáo sư sử tại Đại Học Alabama, nghỉ dạy một năm để nghiên cứu và viết sách. Theo tác giả thì việc Hoa Kỳ quyết định loại bỏ ông Diệm, cùng với cái chết của Kennedy vào ba tuần sau đó đã làm hỏng việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam như Kennedy đã có kế họach. Ông cho đó là sự khai tử một thế hệ thanh niên Mỹ vì sau hai cái chết của hai tổng thống, hơn 57 ngàn thanh niên Mỹ đã phải hy sinh vì cuộc chiến leo thang, cùng với vô số thanh niên Việt Nam phải bỏ mình.

Dựa vào những nguồn tài liệu từ thư viện John F. Kennedy, thư viện Lyndon B. Johnson, văn khố quốc gia, văn khố của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; những dữ kiện lịch sử ghi băng của những nhân vật từng tham gia chính quyền Kennedy như Dean Rusk, Walt W. Rostow, Robert McNamara, Edward G. Lansdale, Maxwell Taylor, Henry Cabot Lodge, Frederick E. Nolting.

Jones đưa ra hình ảnh Kennedy là một người bị ảnh hưởng bởi Chiến Tranh Lạnh, muốn bảo vệ thế giới khỏi hiểm họa cộng sản, nhưng không muốn đổ quân chiến đấu vào Nam Việt Nam, nơi được Bạch Cung coi như vùng để đo sức với khối cộng sản sau khi Hoa Kỳ bị thất bại trong Vịnh Con Heo ở Cuba, bị Nga Sô cảnh cáo buộc rút quân khỏi Bá Linh, và việc ký hiệp định Genève 1961 tôn trọng nền trung lập của Lào Quốc, một nền trung lập mà cả Hoa Kỳ lẫn cộng sản Bắc Việt đều không tôn trọng.

Kennedy coi việc chiến đấu chống cộng sản, bảo vệ độc lập là việc của người miền Nam Việt Nam. Trả lời phóng viên báo chí trong ngày 2 tháng Chín, 1963 Kennedy nói: "Chúng ta có thể giúp họ, cung cấp dụng cụ, chúng ta có thể gửi những cố vấn, nhưng họ, dân tộc Việt Nam, phải chiến đấu để thắng cộng sản".

Cuộc chiến chống cộng sản lại bị những phóng viên trẻ đưa tin với giọng điệu rằng sĩ quan và lính VNCH không chịu chiến đấu. Điển hình là vụ Ấp Bắc xảy ra vào đầu năm 1963 đã được những phóng viên trẻ như Neil Sheehan, David Halberstam, Peter Arnett gửi tin về cho các báo lớn ở Hoa Kỳ loan tải, cùng với những lời bình luận là quân đội VNCH không muốn chiến đấu. Việc này đã khiến Hoa Kỳ phải xét lại chính sách đối với Nam Việt Nam.

Mấu chốt quan hệ giữa Bạch Cung và ông Diệm có lẽ là vấn đề Hoa Kỳ đem quân tham chiến vào Việt Nam. Khi Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đến Việt Nam tháng Năm, 1961, ông đưa ra hai đề nghị: Hoa Kỳ gửi quân tham chiến và Nam Việt Nam ký một hiệp ước song phương với Mỹ. Ông Diệm từ chối, vì làm thế sẽ mất đi thanh danh quốc gia và cho Bắc Việt cơ hội lên án ông là tay sai Mỹ như họ tuyên truyền. Ông Diệm chỉ muốn Hoa Kỳ viện trợ để huấn luyện thêm 20,000 quân và viện trợ quân sự cho các tổ chức Vệ Quốc Đoàn và Dân Vệ.

Bênh vực cho luận cứ rằng đề nghị đem quân chiến đấu không phải là ý của Kennedy - qua đề nghị của Johnson - mà vì Johnson bị áp lực từ bộ tổng tham mưu và phái bộ cố vấn quân sự Hoa Kỳ. Tác giả trích lời Kennedy tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 5 tháng Năm, 1961 nói việc gửi quân chiến đấu còn đang trong vòng nghiên cứu. Như thế để mở cửa cho Johnson muốn đề nghị gì với ông Diệm khi hai người gặp nhau thì tuỳ ông phó tổng thống.

Chính sách của ông Diệm đưa đến những bất mãn trong giới quân nhân, vụ đảo chính hụt năm 1960 là điển hình của những bất mãn đó. Trong chuyến đi vào tháng Mười, 1961 để thẩm định tình hình, trưởng đoàn Maxwell Taylor đã nghe Tướng Dương Văn Minh phàn nàn về Tổng Thống Diệm không tin tưởng quân đội nên không cho các tướng có thực quyền. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cũng không tin tưởng ông Diệm đang làm điều tốt cho đất nước.

Trong chuyến đi này có điều lý thú là cuộc đụng độ ngoại giao giữa Taylor và Lansdale. Trưởng đoàn là Maxwell Taylor không muốn Lansdale - người có nhiều thân tình với ông Diệm và được coi như đặc sứ của Kennedy - được tiếp xúc nhiều và dự những buổi tiếp tân. Nhưng khi vừa đến sân bay, Lansdale đã được người riêng của Tổng Thống Diệm ra đón và đưa về dinh để tham khảo. Taylor và Lansdale vì vậy có những bất bình với nhau.

Khi gặp Lansdale, ông Diệm hỏi ý kiến có nên yêu cầu Hoa Kỳ gửi quân tham chiến không ? Lansdale hỏi lại ông Diệm là tình hình quân sự bết bát lắm chăng ? Ông Diệm trả lời là không tệ và có thể tự lo được. Lansdale nói thế thì không nên yêu cầu Hoa Kỳ gửi quân chiến đấu vì chính Lansdale cũng không muốn Hoa Kỳ đổ quân vào tham chiến. Trong khi ông Diệm nói chuyện với Lansdale thì ông cố vấn Ngô Đình Nhu cũng có mặt và hay xía vào. Lansdale nhận xét ông Diệm dã không còn phong thái tự tin như cách đây một năm, sau lần đảo chính hụt. Ông Diệm đã bị ông Nhu lấn áp quyền hành.

Với tình hình chống cộng không khả quan và một chính quyền đang xa rời dân, bản báo cáo của Taylor về chuyến đi đã khiến một số người làm chính sách trong Bạch Cung và bộ ngoại giao yêu cầu sứ quán Mỹ ở Sài Gòn lập danh sách những người có thể thay thế ông Diệm, trong đó có Nguyễn Ngọc Thơ và bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần. Tài liệu cũng nhắc đến mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và ông Thơ đã từng bị Pháp bắt giam. Lá bài Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo đảo chánh thành công và đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên thay đã bắt đầu được nhen nhúm thành hình từ đó.

Nhưng hoạch định một kế hoạch đảo chánh - và để thành công - là một công việc đòi hỏi nhiều mưu kế. Bạch Cung chỉ muốn làm giấu tay. Trong khi đó các tướng lãnh VNCH lại chỉ chờ Mỹ "bật đèn xanh".

Phải tốn một thời gian mới đưa đến vụ đàn áp Phật Giáo ở Huế vào tháng Năm, 1963 trong đó có sự việc hai tiếng nổ lớn xảy ra khi Phật tử biểu tình trước đài phát thanh đòi bỏ Dụ Số 10 về việc treo cờ tôn giáo. Tác giả ghi nhận hai tiếng nổ đó có thể là do Việt Cộng trà trộn, hoặc phe chính quyền gài vào, hay là do CIA làm ra để bắt đầu tiến trình đưa ông Diệm xuống. Vụ Phật Giáo xuống đường theo tác giả đã làm hoãn lại kế hoạch rút 1,000 cố vấn về nước trước cuối năm 1963 đã được Kennedy chấp thuận vào đầu tháng Năm, 1963.

Cần nhắc lại rằng những năm trước Hoa Kỳ đã có kế hoạch đảo chánh ở những nơi có chính quyền không nghe lời Mỹ, như ở Iran với Thủ Tướng Mohammed Mossedegh đã bị CIA lật đổ năm 1953 - trong một kế hoạch tương tự được dùng lại ở Việt Nam - để đưa vua Shah thân Mỹ lên thay.

Ở Iran chương trình tiếng Farsi của đài VOA được dùng như một phương tiện thúc đẩy rối loạn, đưa đến đảo chánh. Tại Nam Việt Nam, Hoa Kỳ cũng dùng đài VOA loan tin tạo hậu thuẫn cho phe đảo chính.

Ngay sau khi có những vụ tấn công vào chùa, sáng ngày 26 tháng Tám, 1963 đài VOA truyền đi bản tin động trời, nội dung nói rằng theo các quan chức ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn cho biết những người lãnh đạo quân đội VNCH không - lập lại không - có trách nhiệm tấn công vào chùa chiền. Đài cũng loan tin Bạch Cung có thể cắt giảm nhiều viện trợ nếu ông Diệm không loại bỏ những người lo mật vụ, ám chỉ ông Nhu, dù chính quyền Kennedy chưa lên tiếng. Đài VOA sau đó cải chính, nhưng ông Nhu coi đó là dấu chỉ người Mỹ muốn loại bỏ ông.

Những diễn tiến dẫn đến ngày 1 tháng Mười Một, 1963 được sự điều động của một quan chức CIA là Connein, người đã đứng ra móc nối với các tướng lãnh Việt Nam để thực hiện cuộc đảo chính. Sách dẫn chứng các tài liệu cho thấy Kennedy là người đã chấp thuận kế hoạch xóa bỏ chế độ Ngô Đình Diệm. Nhưng việc giết anh em ông Diệm thì tài liệu lại nói là do Tướng Dương Văn Minh chủ động chỉ vì ông Diệm đã không dành cho Tướng Minh một nghi lễ chuyển giao quyền hành trang trọng. Luận cứ này không vững vì ông Minh đã chờ Hoa Kỳ "bật đèn xanh" mới làm đảo chánh thì không thể không có sự đồng tình của Mỹ khi ra lệnh giết ông Diệm. Sau này Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng sợ số mệnh của mình có thể như ông Diệm khi ông đưa ra chính sách không hài lòng người Mỹ.

Lúc đầu Hoa Kỳ còn tìm cách che dấu việc nhúng tay vào vụ đảo chánh bằng cách không thừa nhận chính quyền mới cho đến cả tuần lễ sau. Death of a Generation đã chứng minh Bạch Cung chủ động trong việc loại bỏ ông Diệm, với hy vọng một chính quyền khác được lòng dân và có khả năng chống cộng hơn để Hoa Kỳ có thể rút quân, như Kennedy đã hoạch dịnh.

Cuốn sách ngừng lại ở chỗ chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và không bàn đến nguyên nhân đưa đến cái chết của Kennedy ba tuần sau đó. Đây mới là mấu chốt của việc rút quân hay leo thang chiến tranh như đã xảy ra.

Trên quan điểm chiến lược toàn cầu, Hoa Kỳ muốn một Nam Việt Nam độc lập trong lăng kính Chiến Tranh Lạnh thời bấy giờ, còn Hà Nội lại quyết tâm thống nhất đất nước theo tinh thần hiệp định Genève 1954 bằng mọi giá. Như thế Kennedy nếu còn sống thì những quyết định rút quân không phải là việc làm dễ dàng vì trong chính quyền Kennedy cũng có những thành phần rất diều hâu muốn phong tỏa cảng Hải Phòng và bỏ bom Hà Nội và Kennedy đã chấp thuận cho CIA và bộ quốc phòng đưa người qua Lào bí mật tuyển quân và hoạt động. Trong hơn hai năm nắm quyền Kennedy đã tăng số cố vấn quân sự cho Nam Việt nam từ chưa đến 1,000 lên 16,000. Hơn nữa khi đã coi Nam Việt Nam là nơi đọ sức giữa hai thái cực tự do và cộng sản thì Hoa Kỳ không thể bỏ cuộc dễ dàng lúc bấy giờ.

Mà tham chiến thì kết quả như đã thấy. John Kenneth Galbraith, quan chức trong chính quyền Kennedy, sau này nói rằng chính ông, và Kennedy, lầm tưởng ông Diệm là nguyên do khiến cuộc chiến chống cộng không hữu hiệu như Hoa Kỳ muốn. Ông nói chính địa bàn rừng núi và lối đánh du kích của đối phương là nguyên do làm Hoa Kỳ thất bại trong việc bảo vệ miền Nam.

_________________________
Death of a Generation: How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War. Howard Jones. NXB Đại Học Oxford, London, 2003. 546 trang.

Windows on the World / Cánh Cửa Nhìn Ra Thế Giới Bên Ngoài


Margot Cohen / Hà Nội (FEER - Issue cover-dated August 28, 2003)
Văn Hiền dịch

Hà Nội đang chuẩn bị thành lập ba trung tâm văn hóa ngoại quốc mới, tất cả đều nhắm đến một vai trò nổi bật hơn ở Việt Nam. Nhưng liệu các trung tâm này có thể thực sự góp phần nhen nhóm sự hồi sinh cuộc sống nghệ thuật trên đất nước này hay không ?

Mọt rỗng và mốc meo, tòa nhà song lập ở số 58 đường Nguyễn Thái Học đã bị bỏ hoang suốt gần một thập niên nay. Nhưng khi Franz Xaver Augustin vừa nhìn thấy hai ngôi nhà cũ kỹ này, ông đã cảm thấy vừa mắt ngay.

Augustin là giám đốc chi nhánh Hà Nội của Học Viện Goethe, thuộc mạng lưới toàn cầu của trung tâm văn hóa Đức, đã vô tình bắt gặp tòa nhà đổ nát này khi đang tìm một địa điểm mới để tổ chức những cuộc triển lãm nghệ thuật, trình diễn, chiếu phim, hội thảo và các lớp học ngoại ngữ. Trong đống đổ nát trên đường Nguyễn Thái Học, ông khám phá ra những điều mình đang tìm kiếm, cùng những dấu vết của một vẻ đẹp bị phai mờ: những tấm lưới Art Deco, những ô kính màu, một khoảng sân ngoài trời thắm xanh màu lá.

Nhưng điều thu hút ông nhất là kiến trúc mặt tiền của tòa nhà lớn: sáu cây cột xếp hàng hai bên lối vào dẫn đến cầu thang chính. "Khi người ta bước vào, nó giống như một vòng tay rộng mở", Augustin nói, "Đó chính là cách tiếp cận của chúng tôi".

Vượt qua khuynh hướng cắt giảm ngân sách dành cho nghệ thuật trên toàn thế giới, Hà Nội đang chứng kiến sự xôn xao trong ngành ngoại giao văn hóa. Không chỉ có Đức làm như thế. Chính phủ Pháp cũng đã sẵn sàng khánh thành một cơ sở văn hóa mới ở thành phố này, một trung tâm trị giá 1,6 triệu đôla tại một tòa nhà đồ sộ được chỉnh trang lại, trước đây từng là nhà in báo chí thuộc địa. Nga cũng dựng lên một trung tâm văn hóa sáu tầng lầu cho mọi lãnh vực hoạt động, từ các điệu vũ dân gian đến những hội nghị sinh viên. Tấm màn khai trương sẽ được vén lên tại cả ba cơ quan này trong tháng chín và tháng mười.

Tại sao lại là Việt Nam ? Có một số lý do lịch sử và thương mại. Theo số liệu thống kê chính thức, Việt Nam tự hào vì mình có nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á sau Trung Quốc. Đó là một trong những lý do vì sao cả Pháp lẫn Nga đều tỏ ra rất nhiệt tình trong việc đánh bóng ảnh hưởng của mình đối với một đất nước từng trực tiếp nằm trong quỹ đạo của họ. Đức cũng mong muốn xây dựng những mối quan hệ thân thiện mà Đông Đức cũ đã dẫn đầu sau bức màn sắt (dù Học Viện Goethe không phải là một tổ chức chính phủ). Nhiều người tin rằng nhiều lớp học ngoại ngữ hơn sẽ giúp nhiều sinh viên được đi du học hơn, trong đó có thể nhiều sinh viên sẽ trở thành những nhà lãnh đạo chính trị và các doanh nhân trong tương lai. "Sự hợp tác văn hóa tạo ra môi trường tốt hơn cho các hoạt động kinh tế ngoại giao", ông Vladimir Tokmakov, đệ nhất bí thư ở đại sứ quán Nga tại Hà Nội nói, "Bạn càng tiếp xúc nhiều trong lĩnh vực văn hóa thì vị thế tổng quát của bạn trên toàn quốc sẽ càng tốt hơn".

Song các nước châu Âu nhấn mạnh rằng họ đang hướng đến một mục đích cao hơn: khuyến khích sự đa dạng tri thức và nghệ thuật. Trung tâm mới của Pháp được đặt tên là "L'Espace". "Không gian là cái gì đó mở ra tất cả", Antoine Pouillieute, đại sứ Pháp tại Việt Nam giải thích, "Đối với tôi, tiến bộ có nghĩa là đa dạng hóa và sẵn sàng tiếp thu cái mới". "Việc truyền bá văn hóa Pháp không phải là ưu tiên trên hết", Dominique L' Huillier, phụ tá tùy viên văn hóa đại sứ quán Pháp nói. "Chúng tôi không chỉ ở đây để đẩy mạnh những đặc tính Pháp", ông phát biểu, "Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự tồn tại của những đặc tính khác biệt và đôi khi còn trái ngược nữa".

Về khía cạnh này, Việt Nam là một thử thách đầy cám dỗ hơn nhiều so với những nơi khác ở châu Á, quê hương của các trung tâm văn hóa nước ngoài. So với những thành phố như Hong Kong và Bangkok, những thành phố tràn đầy văn hóa du nhập với nhiều công dân có tiền đi du học hay du lịch nước ngoài, Hà Nội hãy còn khá hoang sơ. Việc du lịch ngoại quốc hãy còn là một chuyện xa xỉ đối với hầu hết mọi người. Và văn hóa vẫn còn bị các nhà tư tưởng cộng sản xem là một công cụ của nhà nước.

Sự thoát khỏi tình trạng hoang sơ này đồng nghĩa với việc xây dựng lực lượng khán thính giả nghệ thuật rộng lớn hơn tại địa phương. Chắc chắn sự trao đổi sáng tạo này không phải là một điều mới mẻ. Viện văn hóa Pháp, Khối Liên minh Pháp, đã có mặt ở Việt Nam từ năm 1991, trong khi Học Viện Goethe chỉ mới mở cửa vào năm 1998. Nhưng khi chuyển sang những cơ ngơi sang trọng hơn nằm ở trung tâm, Pháp và Đức hy vọng vượt ra khỏi nhóm nhỏ quý tộc thường xuất hiện tại những sinh hoạt nghệ thuật trước đây. Đây không chỉ là vấn đề du nhập nghệ thuật sáng tạo từ nước ngoài. Các nước châu Âu cũng đã cung cấp viện trợ trực tiếp cho những nghệ sĩ địa phương. Ví dụ như trong một cuộc triển lãm nghệ thuật gần đây, Pháp đã tặng bốn nghệ sĩ Việt Nam từ 1.000$ đến 2.000$ tiền vật liệu; trung tâm L'Espace sẽ được khai trương ngày 6/9 với những tác phẩm âm nhạc do các nhạc sĩ địa phương biên soạn.

Nga cũng có những hoài bão rộng lớn của riêng mình: "Mục đích của trung tâm này là để thu hút sự chú ý của phần lớn người dân Việt Nam", Mikhail Simonov, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Khoa học Nga cho biết. Nằm đối diện với khách sạn Daewoo, trung tâm này tọa lạc "ngay tại ngã tư đường chính, mỗi ngày có khoảng 200.000 người qua lại", Simonov tự hào nói. Ông tin rằng nỗi luyến tiếc từ thời Xô viết cũng sẽ góp phần vào việc này. Ông bảo: "Người Việt Nam luôn ghi nhớ truyền thống. Họ là những con người đầy ơn nghĩa".

Với nhiều người Việt Nam bận rộn hoặc chỉ đơn giản là đang cố gắng kiếm sống, hãy còn quá sớm để biết được liệu những trung tâm như vậy có thành công trong việc phát triển số lượng khán thính giả nghệ thuật tại địa phương hay không. Nhưng nhiều tin đồn lạc quan đã được lan truyền trong nhiều cộng đồng nghệ thuật khác nhau.

"Những nghệ sĩ trẻ tuổi, khoảng nhóm tuổi của tôi, rất quan tâm đến những việc đang diễn ra trên thế giới bên ngoài. Nhưng những người chỉ mới tốt nghiệp đại học lại thường thiếu cơ hội ra nước ngoài", Nguyễn Quỳnh Chi, một họa sĩ và nhà báo tự do 27 tuổi cho biết. Cô tự xem mình là một trong những người may mắn, gần đây vừa mới được tổ chức Ford Foundation tại Mỹ tài trợ cho cuộc viếng thăm Venice Biennale. Chi nói khi quay về Hà Nội, cô đoan chắc rằng các tổ chức nước ngoài như Học Viện Goethe cần tích cực hơn trong việc giúp đỡ những nghệ sĩ địa phương tham gia vào các xu hướng toàn cầu như nghệ thuật video, nghệ thuật biểu diễn và những cơ sở đa truyền thông.

Thật sự, xét về ngắn hạn, nhiệm vụ quan trọng nhất có lẽ là cần phải ấp ủ sự giao thoa giữa các bộ môn nghệ thuật. Quá trình này đang được tiến hành suông sẻ ở các nước láng giềng nhưng chỉ vừa mới bắt đầu với nền văn hóa Việt Nam. "Thế giới không hề bị phân chia thành những lĩnh vực như hội họa, điêu khắc, phim ảnh, và trình diễn sân khấu. Nếu đã từng ra ngoại quốc, chúng ta có thể thấy rằng tất cả là một biển cả mênh mông", Đinh Gia Lê, một nghệ sĩ Việt Nam 32 tuổi nhận xét.

Việc thức tỉnh thế giới nghệ thuật Việt Nam không dễ dàng gì. Vào giữa những năm 1990, các nhà phê bình nghệ thuật quốc tế đã "khám phá" ra nền hội họa Việt Nam đương đại, và kể từ đó, một số ít nghệ sĩ đã tham gia vào mạch nghệ thuật quốc tế. Nhưng sự sôi nổi này nhanh chóng xẹp xuống, và nhiều nghệ sĩ bắt đầu tập trung vào xào nấu những hình ảnh sáo mòn về Việt Nam - các cô gái thanh mảnh trong chiếc áo dài mềm mại hoặc những người nông dân với chiếc nón lá - hòng kiếm được những đồng tiền dễ dàng. Một địa điểm triển lãm nghệ thuật giá trị trong góc kẹt của một ngôi nhà sàn truyền thống là một trong số ít ỏi những lối ra cho các tác phẩm sáng tạo của Hà Nội.

Tại viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội, phó giám đốc Nguyễn Xuân Tiệp hy vọng rằng bằng cách tham gia những cuộc hội thảo và triển lãm văn hóa tại các trung tâm văn hóa mới, những nghệ sĩ Việt Nam sẽ có cơ hội "tiếp cận với những vấn đề cấp bách" như cái nghèo và sự ô nhiễm môi trường chẳng hạn. Ông cho rằng: "Như thế, có thể các họa sĩ sẽ cảm thấy có trách nhiệm nhiều hơn với đất nước của mình, và điều này sẽ được phản ảnh qua các tác phẩm của họ".

Làm việc trên vũ đài văn hóa Việt Nam rất phức tạp vì khoảng trống ngày càng lớn giữa các hiệp hội nghệ thuật do nhà nước quản lý và những nghệ sĩ có khuynh hướng độc lập hơn. Việc cộng tác với cả hai nhóm đòi hỏi phải có một sự tế nhị khéo léo. "Điều quan trọng là không được chia cắt toàn cảnh văn hóa thành hai khối khác biệt tranh chấp với nhau", tùy viên văn hóa Pháp Bruno Asseray khẳng định.

Một số thành viên thuộc các tổ chức nghệ thuật do nhà nước quản lý không che giấu sự dè dặt của họ trước vai trò ngày càng mở rộng của các trung tâm văn hóa ngoại quốc. "Mục đích nghệ thuật của họ rất gần với 'phong cách nước ngoài' và khác xa phong cách Việt Nam", một viên chức cao cấp thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam phát biểu, "Quan điểm sáng tạo của họ cũng rất khác biệt và gây ra những vấn đề nhạy cảm chính trị".

Và thậm chí một số người Việt Nam từng đi du học cũng có những băn khoăn. "Tôi nghĩ rằng sẽ rất nguy hiểm cho nghệ thuật Việt Nam nếu các nghệ sĩ trẻ sao chép lại nghệ thuật Tây phương", Lý Trực Dũng, một kiến trúc sư và họa sĩ từng du học tại Đức nói, "Khán thính giả đầu tiên của các nghệ sĩ Việt Nam phải là người Việt Nam chứ không phải người ngoại quốc". Dũng cũng nghi ngờ những nghệ sĩ hay cố nhét phong bì vào tay các nhân viên kiểm duyệt nhà nước. Anh nói: "Nghệ thuật không cần phải kích động chính phủ".

Nói về vấn đề kiểm duyệt của nhà nước, Pháp và Đức đã đạt được một thỏa thuận với các quan chức Việt Nam. (Nga thì vẫn còn đang cố gắng xoay sở vấn đề này). Với mỗi cuộc triển lãm, Pháp vẫn phải xin phép Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam. Nhưng Học Viện Goethe đã thương lượng được một thỏa thuận đặc biệt, như họ đã làm với đa số các nước khác, cho phép họ triển lãm hay trình diễn bất cứ thứ gì họ muốn bên trong tòa nhà của mình. Augustin nói: "Chúng tôi có những tấm ngân phiếu trống (blank cheque) làm được mọi thứ".

Nhưng đừng mong khởi đầu một cuộc nổi loạn từ tòa nhà Art Deco đã được sửa chữa lại này. "Việt Nam sẽ không trở thành một quốc gia dân chủ chỉ với vài nghệ sĩ có những cuộc triển lãm đầy tham vọng tại Học Viện Goethe", David Schwake, cựu tùy viên văn hóa Đức tại Hà Nội cười nói. Các nghệ sĩ Việt Nam biết rằng công an có thể gõ cửa nơi làm việc của họ bất cứ lúc nào. Vì vậy nên có lẽ sự tự kiểm duyệt sẽ còn kéo dài bất kể tờ ngân phiếu trống của Augustin.

Tương tự, rõ ràng là L'Espace cũng sẽ có những hạn chế của mình. "Mục đích của tôi là không để bị đóng cửa chỉ trong một tháng", Đại sứ Pouillieute nói thẳng, "Đây không phải là một trung tâm chính trị, đây là một trung tâm văn hóa".

Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào Và Chính Sách Cải Tổ Của Đảng Cộng Sản Trung Quốc


RA - Producer: BẢO VŨ - Sunday, 26 October 2003

Từ trước tới giờ, chủ tịch Trung Quốc mới thăm viếng Uc hai lần. Lần đầu tiên là vào năm 1999 khi ông Giang Trạch Dân thực hiện chuyến công du Uc và lần này là ông Hồ Cẩm Đào.

Chuyến Uc du kỳ này là một trong những chuyến công du hải ngoại đầu tiên của ông Hồ Cẩm Đào kể từ khi ông trở thành chủ tịch nước Trung Quốc hồi tháng Ba năm nay.

Tuy nhiên, cho tới lúc này, người ta hiện vẫn không rõ ông Hồ Cẩm Đào thực sự đại diện cho khuynh hướng nào tại Trung Quốc.

Bảy tháng đã trôi qua kể từ ngày ông nhậm chức chủ tịch nước, các nhà phân tích cho rằng nhiều điều chung quanh ông, và về ông, vẫn còn là một điều bí ẩn.

Trong mục Thời Sự hôm nay của Đài Phát Thanh Úc Châu, Bảo Vũ mời quý vị nghe bài của thông tín viên John Taylor đặc trách Trung Quốc.

Trước hết John Taylor cho biết:

JOHN TAYLOR: Trong những lần xuất hiện trước đám động, ông Hồ Cẩm Đào, năm nay 60 tuổi, lúc nào trông cũng hết sức cẩn trọng.

Điều đó cũng có lý do của nó: ông là nhân vật đầu tiên tại Trung Quốc được thừa hưởng giai đoạn chuyển tiếp quyền lực trong vòng trật tự và an bình.

Hồi tháng Mười Một năm ngoái, ông trở thành tổng bí thư của đảng đang nắm toàn bộ quyền cai trị ở Trung Quốc là Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Thế rồi đến tháng Ba năm nay, ông được bổ nhiệm vào chức vụ chủ tịch Trung Quốc.

Thế nhưng ông không phải là những nhân vật như các ông Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình.

Ngày nay, mọi người đều biết rằng, trong giới lãnh đạo cao cấp Trung Quốc, quyền lực không còn nằm trong tay duy nhất một người như trước đây.

Người ta thấy những người ủng hộ cho cựu Chủ Tịch Giang Trạch Dân vẫn còn nắm giữ các chức vụ đầy quyền lực trong hệ thống Đảng và Nhà Nước.

Bản thân ông Giang Trạch Dân vẫn còn kiểm soát quân đội , một cơ chế có rất nhiều quyền hành.

Sở dĩ ông Hồ Cẩm Đào luôn luôn tỏ ra cẩn trọng có lẽ là vì ông biết rằng ông vẫn chưa thực sự có thể làm mọi điều ông muốn.

Giáo Sư Joseph Cheng thuộc Trường Đại Học Hồng Công cho rằng, tiến trình chuyển giao quyền lực tại Trung Quốc vẫn chưa kết thúc.

Giáo Sư Cheng phát biểu như sau:

G.S. JOSEPH CHANG: Ở một mức độ nào đó, ông Hồ Cẩm Đào phải hết sức thận trọng. Chắc chắn là ông ta không muốn đối đầu với ông Giang Trạch Dân. Lý do là vì những người được họ Giang bảo trợ vẫn còn chiếm đa số trong ủy ban thường trực bộ chính trị cũng như trong bộ chính trị.

Cho tới lúc này, những điều ông Hồ Cẩm Đào đã thực hiện rất tốt đẹp.

Ông đã chiếm được cảm tình của hầu hết mọi người Trung Quốc; và ông hiện đang cố gắng đẩy mạnh công cuộc cải tổ trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Về cơ bản, chúng tôi không thấy bất cứ dấu hiệu nào cho thấy ông sẽ bị thay thế.

JOHN TAYLOR: Ong Hồ Cẩm Đào vẫn chưa cho biết ông thuộc về khuynh hướng nào; hoặc ông khác biệt ra sao so với các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiền nhiệm.

Thế nhưng rõ ràng ông đang ra sức kiến tạo hình ảnh cho riêng mình trước công chúng.

G.S. JOSEPH CHANG: Ong Hồ Cẩm Đào khá cẩn trọng khi cố tạo cho mình hình ảnh của một nhà lãnh đạo trong sạch, thanh liêm, biết lo lắng, biết chăm sóc cho dân nghèo, cho các nhóm người yếu đuối, cùng khổ trong xã hội, v.v.

Ong Hồ Cẩm Đào cũng đã thăm viếng một số địa điểm cách mạng lịch sử.

Ngoài ra ông cũng làm những cử chỉ, chẳng hạn như chịu ăn những bữa ăn trưa đơn giản, đạm bạc và trả 30 đồng nhân dân tệ cho bữa ăn; đại loại là như vậy.

JOHN TAYOR: Ví dụ mới đây nhất là chuyện lần đầu tiên ông mở cuộc họp báo ở kỳ họp thượng đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương, tức APEC, tại thủ đô Băng Cốc của Thái Lan.

Một số nhà phân tích cho rằng, cuộc họp báo là nỗ lực có tính cách chiến lược nhằm đẩy mạnh ảnh hưởng và hình ảnh của ông tại nước ngoài; và qua đó, nêu bật tính chính danh của ông ở trong nước.

Thế nhưng, một khi đã củng cố được quyền lực, người ta không rõ ông sẽ làm gì. Vẫn lời Giáo Sư Cheng:

G.S. JOSEPH CHANG: Chúng tôi không biết liệu ông Hồ Cẩm Đào có sẽ trở thành một Mikhail Gorbachev hay không.

Ông là một nhà cải cách. Cải cách theo nghĩa mà chúng ta vẫn hiểu. Đó là: chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không chịu cải tổ.

Nên biết, nền kinh tế Trung Quốc không thể tiếp tục phát triển nếu Trung Quốc không cải tổ.

Do đó, ông Hồ Cẩm Đào là một nhân vật chủ trương cải tổ. Cải tổ theo nghĩa tổng quát mà giới lãnh đạo Trung Quốc cũng như dân chúng Trung Quốc hiểu. Đó là: cải tổ là điều rất cần thiết. Cải tổ để duy trì sự ổn định xã hội và ổn định chính trị. Cải tổ để duy trì đà phát triển kinh tế.

Thế nhưng, khi chúng ta nói tới chữ “cải tổ”, chúng ta thực sự nghĩ về khái niệm cải tổ ra sao ?

Chắc chắn ông Hồ Cẩm Đào nằm trong nhóm các nhà lãnh đạo hàng đầu; mà ở giai đoạn này, họ không hề có ý định từ bỏ độc quyền lãnh đạo, không hề chịu từ bỏ quyền lực chính trị.

Tuy vậy, ông ta quan tâm tới chuyện cải thiện guồng máy cai trị của chế độ độc đảng.

Có lẽ ông Hồ Cẩm Đào sẽ chủ trương hai hình thái cải tổ:

Hình thái thức nhất là cải tổ hành chính.

Trong hình thái này, Trung Quốc sẽ cải tổ theo kiểu Tây Phương; nghĩa là Trung Quốc sẽ thi hành các chương trình nhằm sắp xếp và hợp lý hóa guồng máy hành chính rườm rà, quan liêu; để làm cho guồng máy trở nên hiệu quả, bằng cách cải tiến hoặc đơn giản hóa các phương pháp làm việc.

Ngoài ra, lương của cán bộ công nhân viên sẽ được tăng lên để giúp họ tránh đựơc tệ nạn tham nhũng.

Thêm vào đó, Trung Quốc sẽ đề cao và nhấn mạnh tới vai trò của luật pháp; về tính trong sáng và minh bạch, về vấn đề phân công rõ rệt phần vụ và trách nhiệm của từng cá nhân, từng ban ngành.

Hình thái thứ nhì mà Trung Quốc sẽ thực hiện là: Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ làm điều mà Đảng gọi là thực thi chế độ dân chủ trong nội bộ Đảng.

Tức là trong khi vẫn duy trì sự lãnh đạo của Đảng, Đảng cũng cố gắng làm cho giới lãnh đạo Đảng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn trước nhân dân.

Trong tiến trình chọn lựa cán bộ và giới lãnh đạo, Đảng sẽ quan tâm, chú ý nhiều hơn tới sự ủng hộ mà dân chúng dành cho các ứng viên.

Đảng sẽ để cho cả đảng viên lẫn dân chúng bên ngoài nói chung, được quyền chọn lựa một số vấn đề, một số vụ việc hoặc nhân sự.

Chắc chắn rằng, những biện pháp vừa đề cập được tạo ra chỉ để nhằm củng cố chế độ độc đảng chứ không phải để Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ bỏ độc quyền lãnh đạo.

KẾT: Thưa quý thính giả, với lời phát biểu của Giáo Sư Joseph Cheng thuộc Trường Đại Học Hồng Công quý vị vừa nghe, chúng tôi xin kết thúc mục Thời Sự Chủ Nhật nơi đây. Bảo Vũ và Nguyên Nam xin kính chào và hẹn gặp quý vị vào lần tới.

Trung Quốc nhập hàng tỷ đôla vũ khí mỗi năm


BBC 10.2003

Những số liệu thống kê mới nhất cho thấy Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu nhiều vũ khí nhất thế giới. Năm ngoái nước này chi gần 4 tỷ đô la để mua vũ khí.

Một báo cáo của chính phủ Hoa Kỳ càng làm tăng lo ngại về chương trình hiện đại hoá quân sự cũng như khả năng kinh tế ngày một mạnh của Trung Quốc. Thế nhưng liệu quân đội lớn nhất thế giới này là một mối đe doạ thực sự hay chỉ là con hổ giấy ?

Phóng viên BBC Louisa Lim tìm hiểu đề tài này trong bài sau.

Quân đội đang hiện đại hóa

Khách tới thăm bảo tàng quân đội ở Bắc Kinh được chào đón bởi bức tượng lớn của chủ tịch Mao Trạch Đông, đứng dưới một ngôi sao đỏ vĩ đại. Xung quanh chủ tịch Mao là những binh lính anh hùng đang làm việc miệt mài.

Sự nhấn mạnh tới ý thức hệ cộng sản này dường như không hợp với một nước Trung Quốc hiện đại. Tuy nhiên sự tương phản này thể hiện rõ sự tiến thoái lưỡng nan trong vấn đề hiện đại hoá Quân Giải phóng Nhân dân:

Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949. Giữa tiếng hò reo, đoàn quân tiến vào Bắc Kinh. Đội quân này chủ yếu là những nông dân và chính kiểu đánh du kích đã giúp họ chiến thắng Quốc Dân Đảng.

Trong những ngày đầu tiên, số lượng rõ ràng là quan trọng. Tuy nhiên giờ đây 200.000 quân nhân Trung Quốc đang được giải ngũ nhằm chuyên nghiệp hoá quân đội.

Phân tích gia quân sự Gau-Jeng giải thích rằng “Trước đây, một người nông dân với một khẩu súng đã là lính rồi. Ngày nay, điều này còn chưa đủ. Trình độ văn hoá của binh lính Trung Quốc đã được nâng cao nhiều, nhiều người còn sử dụng được máy tính, biết lái xe và hiểu chút ít tiếng Anh. Đây là điều rất cần thiết”.

Trung Quốc có thể có quân đội lớn nhất thế giới thế nhưng nói theo kiểu quân sự, kích cỡ không phải là tất cả.

Đổi mới sau cuộc chiến Vùng Vịnh

Giáo sư Joseph Cheng thuộc trường Citi University of Hong Kong nói rằng Trung Quốc đã hiểu ra điều này cách đây 12 năm.

Ông nói: “Cuộc chiến vùng vịnh năm 1991 là một cú sốc, hay là một bài học u ám cho các nhà lãnh đạo quân đội Trung Quốc. Khi đó lần đầu tiên họ thấy chiến tranh hiện đại, họ thấy công nghệ siêu việt của Hoa Kỳ và thấy rằng họ lạc hậu tới mức nào”.

Tại Bảo tàng Quân đội ở Bắc Kinh có đủ loại súng, có xe tăng và các bệ phóng tên lửa phòng không. Tuy nhiên hầu hết các loại vũ khí này không phải do Trung Quốc sản xuất. Theo các nhà phân tích, đây chính là yếu điểm trong kế hoạch hiện đại hoá của quân đội Trung Quốc.

Những cố gắng của họ đã bị lệnh cấm vận vũ khí do Hoa Kỳ chủ xướng gây khó khăn. Lệnh cấm vận này được đưa ra sau khi Trung Quốc đàn áp cuộc nổi dậy ở quảng trường Thiên An Môn hồi năm 1989.

Giáo sư Lee Ngok từ Đại học Bách khoa Hong Kong giải thích như sau: “Đây chính là một trong những điểm yếu trong chương trình hiện đại vì sự phát triển công nghệ vũ khí của Trung Quốc không được tốt và họ phải dựa vào một quốc gia duy nhất đó là Nga. Mà Nga thì chúng ta đều biết rằng còn thua xa Mỹ về công nghệ”.

Tăng ngân sách quốc phòng

Những cảm nghĩ này càng được minh chứng bởi cuộc chiến ở Iraq vừa qua, trong đó vai trò của công nghệ một lần nữa được khẳng định. Bắc Kinh đang đổ rất nhiều tiền của để củng cố công nghệ cho quân đội. Năm ngoái ngân sách quốc phòng của họ tăng 10 phần trăm lên 20 tỷ đô la Mỹ.

Nghe thì có vẻ nhiều nhưng con số này của Mỹ là 360 tỷ đô la. Và trọng tâm của những chuẩn bị của Trung Quốc có thể được tóm gọn bằng một cụm từ: đó là Đài Loan. Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh của họ và đe doạ sẽ sử dụng vũ lực nếu cần để thống nhất Trung Quốc.

Thế nhưng vào thời điểm hiện nay, cả thế giới đang hướng tầm nhìn vào một hướng khác, đó là không gian, là chương trình thám hiểm vũ trụ của Trung Quốc.

Phân tích gia Gau Jeng cho biết: “Cuộc chiến quyết định sẽ xảy ra trên không gian. Trước đây chiến thắng phụ thuộc vào chuyện phe nào chiếm được độ cao, còn bây giờ nó sẽ phụ thuộc vào chuyện bên nào chiếm lĩnh được không gian, cải thiện công nghệ định vị toàn cầu và hệ thống viễn thông. Như vậy khi chiến tranh xảy ra, người ta có thể can thiệp vào các vệ tinh và hệ thống của Hoa Kỳ”.

Trung Quốc đã nhận ra điều này và đây là lý do họ quyết định đưa người lên vũ trụ. Đây cũng là dấu hiệu cho thấy những tham vọng của Trung Quốc là không có giới hạn.

Jimmy Carter quảng bá dân chủ


BBC 11 Tháng 9 2003

Cựu tổng thống Jimmy Carter đến Đại học Bắc Kinh với một thông điệp là Trung Quốc có thể gia tăng dân chủ mà không phương hại gì đến sự tồn tại của đảng Cộng sản.

Đại học tổng hợp Bắc Kinh từng là một trung tâm sinh viên giữ vai trò quan trọng trong cuộc biểu tình đòi dân chủ hồi năm 1989.

Ông Carter nhận xét một vài học giả nổi tiếng cho rằng bầu cử trực tiếp không phù hợp với Trung Quốc. Họ so sánh tính ổn định của Trung Quốc cũng như phát triển kinh tế của Trung Quốc với các nước như là Ấn Độ và Nga chẳng hạn.

"Trên thực tế đúng là dân tộc vĩ đại của quí vị đã thực hiện một quá trình chuyển đổi rất quan trọng, chuyển sang hướng xã hội mở, đặt nền tảng trên mức tăng trưởng kinh tế đáng kể và cải tổ được khởi xướng từ 30 năm trước."

"Và không có gì đáng ngại trong việc quyết định thay đổi chính trị hơn nữa, không sợ bất kỳ nguy hiểm thực tế nào đối với tính ổn định hay hệ thống luật lệ," ông Carter nói.

Trung tâm của ông Cater đã giám sát các cuộc bầu cử địa phương được tiến hành ở 800.000 ngôi làng khác nhau ở Trung Quốc. Cựu tổng thống Mỹ cũng muốn có bầu cử trực tiếp ở mức hành chính cao hơn.

Nhưng đối với nhiều sinh viên tại Đại học Bắc Kinh thì có nhiều thứ khác còn quan trọng hơn là dân chủ, ví dụ như là đủ cơm để ăn, đủ nước để uống.

"Tôi biết dân chủ là niềm mơ ước, nhưng tôi cũng biết là dân chủ là một thứ xa xỉ, tùy thuộc vào cơ sở hạ tầng của kinh tế và môi trường. Cho nên tôi nghĩ hai vấn đề là dân chủ và kinh tế cần phải đi đôi với nhau như răng với môi vậy," một sinh viên tâm sự.

Đại học Bắc Kinh có truyền thống lâu đời với danh tiếng là cái nôi của các biện pháp cực đoan.

14 năm trước sinh viên của trường từng đi hàng đầu trong các cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn.

Ký túc xá của trường từng bị lùng sục để truy tìm các lãnh tụ sinh viên sau khi những chiếc xe tăng cán chết những sinh viên khác ngoài quảng trường.

Và bây giờ thì người ta vẫn có các suy nghĩ trái ngược nhau về hành động của chính phủ. Có những sinh viên Trung Quốc quan tâm đến việc làm hơn dân chủ.

Một nữ sinh viên nói là rất nhiều khả năng chính phủ đã hành động không phù hợp với dân chúng và sinh viên, nhưng cô nghĩ rằng chính phủ Trung Quốc phải làm như vậy vì tình thế lúc bấy giờ như vậy, phải kiểm soát ngay lập tức, nếu không sẽ mất rất nhiều thời gian.

Một sinh viên khác đã tốt nghiệp nói với phóng viên đài BBC là sinh viên bây giờ vẫn đi theo con đường dân chủ, nhưng họ đi bằng con đường khác và có các biện pháp mà theo anh là thực tế hơn.

"Sinh viên bây giờ trưởng thành hơn, và thực tế hơn. Họ có thể nhìn thấy ích lợi trước mắt của nhiều thứ, ví dụ như là họ biết phải học tiếng Anh cho tốt, họ muốn đi ra nước ngoài, họ muốn làm giầu, muốn kiếm tiền và muốn có việc làm."

"Vài năm trước không có cơ hội để trao đổi tư tưởng, rất nhiều tư tưởng khác nhau." Vậy với ông thì Thiên an môn có thể nào tái diễn ? "Tôi không nghĩ vậy. Tôi nghĩ nó không xẩy ra vì Trung Quốc đã gia nhập WTO và chuyện đó làm thay đổi."

"Tất cả chúng tôi đều cần thay đổi cho nên theo ý tôi trong vòng 10 hay 20 năm sự thay đổi đó sẽ còn hoàn toàn hơn nữa. Tuy nhiên quá trình thay đổi thì phải là từng bước một."

Vậy tức là ông cho rằng chuyện đó sẽ không xẩy ra không phải vì người ta không còn quan tâm đến dân chủ nữa mà là vì người ta đã thấy có chỗ để lên tiếng ?

"Đúng vậy. Họ dùng các phương pháp khác. Họ dùng biện pháp kinh tế, tại vì họ đang giầu và có thể nhìn thấy một vài chuyện, có thể nêu ý kiến một cách thẳng thắn. Ý tôi muốn nói là có thể thẳng thắn hơn trước."

"Các bà mẹ Trung Quốc có câu nói là sức mạnh phát ra từ súng cho nên nó không từ bất kỳ ai, nhưng nếu quí vị có tiền và giầu có, thì tôi nghĩ có lẽ quí vị sẽ phải quan tâm hơn đến nó."

Và như thế, với giới trẻ Trung Quốc ngày hôm nay, có vẻ như là sức mạnh không phải đến từ kho súng - mà từ nguồn tiền cung cấp vô hạn.

Cánh đồng mơ ước


RFA 2003-10-21 - Lê Dân

Tình trạng lao động dư thừa ở nông thôn lang thang lên thành thị kiếm sống, rất phổ cập ở nước ta và từng có thời bị xem là ngòi nổ chậm ở Trung Quốc. Thế nhưng ngày nay tại Hoa Lục, ngòi đó đã không nổ, mà lại góp phần vào sự phát triển của nông thôn Trung Quốc.

Mười năm về trước, anh Lưu Dung Hồng chưa bao giờ được nghe nói tới hay mơ thấy cảnh tượng đang diễn ra trước mắt. Người "lao động trôi nổi" này đang bước vào một siêu thị tại thành phố Hạng Chu, cách Thượng Hải 100 kilômét.

Bây giờ kể lại, anh cho biết là mọi mặt hàng được bày biện ngay ngắn trên kệ, các lối đi đều sạch bóng và nhạc nền nghe thoang thoảng êm ái bên tai.

Năm 1997, khi bị xí nghiệp tơ tằm địa phương giải công, anh Lưu Dung Hồng quyết định tự làm chủ lấy mình. Anh trở về quê ở huyện Sơn Đài trong tỉnh Tứ Xuyên và mở cửa hàng siêu thị đầu tiên của một chuỗi năm siêu thị sau này.

Đó là những khu chợ mà nhân viên tiếp thị trong đồng phục màu hồng tươi tắn, nói "cám ơn" với từng khách hàng. Và dĩ nhiên là có nhạc nhẹ làm nền.

Nhìn riêng thì không có gì nổi bật, nhưng nhìn chung thì dây chuyền siêu thị đó cho thấy sức sống mới trong vùng nội địa mênh mông Hoa Lục.

Ngày nay, những lao động trôi nổi một thời từng gây ấn tượng cho sức sản xuất tại các xí nghiệp duyên hải Trung Quốc đang làm một cuộc cách mạng âm thầm. Họ trở về và đầu tư tiền bạc dành dụm từ khi lang thang kiếm sống.

Như ta có câu châm ngôn "Đi một ngày đường, học một sàng khôn", người lao động trôi nổi Trung Quốc mang về quê những hiểu biết thu nhập từ phương xa.

Kinh tế gia Phan Cương của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia khẳng định rằng những người đó đã bơm tiền đầu tư vào vùng sâu, vùng xa, giúp nâng cao lợi tức bình quân, và quan trọng nhất, là làm giảm thiểu sự căng thẳng xã hội.

Với Trung Quốc là một nước có hàng chục triệu nông dân nghèo và công nhân nhà nước mất việc đã biểu tình rầm rộ, có khi biến thành bạo động, thì làn sóng doanh gia nhỏ vừa trích thuật đã là một nút xả an toàn bất ngờ cho Hoa Lục.

Chỉ mới một thập niên trước, nhiều nhà phân tích lo rằng làn sóng nông dân đổ về thành thị kiếm ăn sẽ tạo nên những khu nhà ổ chuột và khiến tình hình tội phạm gia tăng. Dự kiến đó đã không thành sự thực, mà làn sóng "dân trôi nổi" đó lại trở thành giải pháp cứu nguy cho khu vực nông thôn.

Theo số liệu thống kê gần đây thì trong năm 2000, mỗi lao động trôi nổi của Trung Quốc gởi về quê bình quân là 545 đôla. Điều đó có nghĩa là vùng sâu vùng xa Hoa Lục nhận được 43 tỷ đôla rưỡi do 80 triệu nông dân thiếu việc phải tha phương cầu thực gởi về.

Thế nhưng quý báu hơn, là kiến thức. Những điều mắt thấy tai nghe, những nhận xét từ thành thị đã thực sự bơm thêm sức sống mới cho nông thôn Trung Quốc.

Điển hình như huyện Sơn Đài của tỉnh Tứ Xuyên. Với số dân 1 triệu rưỡi, đây là huyện nông nghiệp lớn nhất Hoa Lục và cũng căng nhất vì không có đủ đất canh tác. Bình quân mỗi đầu người chỉ được một sào, mà lại không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào khác.

Ngày nay, hàng loạt xí nghiệp và doanh nghiệp nhỏ mọc lên như nấm, mà bí thư đảng Liêu Tuệ Mai cho rằng nhờ công lao của những lao động trôi nổi mang về. Mà huyện Sơn Đài không thiếu loại đó, hầu hết nhà nào cũng có ít nhất là một thành viên đang kiếm sống ở các thành phố lớn.

Ông Liêu cho biết chính quyền địa phương giành nhiều ưu đãi cho người trở về đầu tư. Đặc biệt nhất là quyền sử dụng đất và lệ phí chỉ còn phân nửa, mọi thủ tục đăng ký làm ăn đều đơn giản hóa đến mức tối đa.

Người mở siêu thị, kẻ mở xí nghiệp chế biến nông sản. Cô Triệu Nghi, viên chức xí nghiệp tân lập Hồng Bắc ở huyện Sơn Đài tỉnh Tứ Xuyên, vẫn còn thói quen trích dẫn lời Mao Chủ tịch. Cô kể Mao Trách Đông từng nói rằng "nông thôn mênh mông và ai cũng có thể cống hiến tổ quốc ở đó".

Sau cả một thập niên đổ xô về thành thị kiếm sống, có lẽ người thôn dã Trung Quốc đã tìm thấy cánh đồng mơ ước của chính mình. Đó là quê nhà.

Thủ Tướng New Zealand, bà Helen Clark, thăm Việt Nam.


Tổng hợp

Thủ Tướng New Zealand, bà Helen Clark, thăm Việt Nam.
VOA 16 Oct 2003, 15:01 UTC

Cũng theo nguồn tin từ bộ ngoại giao Việt Nam, Thủ Tướng New Zealand, bà Helen Clark đã đến Việt Nam hôm thứ Năm để thực hiện chuyến công du trong 3 ngày.

Bà Clark đã đáp máy bay từ Singapore đến phi trường Tân Sơn Nhất. Sau khi được phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh nghênh đón, bà Clark đã đến gặp thành ủy Nguyễn Minh Triết, người được cho là sắp nhận một chức vụ cao hơn.

Thủ Tướng New Zealand sẽ đi Hà Nội vào thứ Sáu để gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải và tổng bí thư Nông Đức Mạnh.

Theo lời đại sứ New Zealand tại Việt Nam thì tuy chỉ mang tính cách thường lệ, chuyến viếng thăm này là một diễn biến hiếm có trong quan hệ giữa hai nước. Không có vấn đề cụ thể nào được đưa ra thương thảo trong chuyến viếng thăm nhằm tái xác nhận bang giao tốt đẹp giữa New Zealand và Việt Nam này.

Bà Clark sẽ chứng kiến lễ ký kết chính thức hiệp định Dịch Vụ Hàng không song phương, đã được ký tắt hồi tháng 2 sau 10 năm thương lượng. Bà Clark sẽ rời Hà Nội khuya thứ bẩy để đi Thái Lan dự hội nghị thượng đỉnh APEC trong 2 ngày 20 và 21 sắp tới.

Trong thời gian 12 tháng tính đến cuối tháng 6 vừa qua, New Zealand xuất sang Việt Nam khoảng 86 triệu 800 ngàn đôla các sản phẩm sữa và gỗ mộc, trong khi Việt Nam xuất sang New Zealand 44 triệu 300 ngàn đôla các mặt hàng như giầy dép, quần áo, đồ gốm và bàn ghế.

Vẫn liên quan đến các hoạt động ngoại giao, chủ tịch nước Việt Nam ông Trần Đức Luơng đã đến Romania hôm thứ năm để thực hiện chuyến công du trong 2 ngày theo lời mời của vị tương nhiệm là ông Ion Iliescu.

Tin của hãng AP ghi nhận tại thủ đô Bucharest cho biết ông Luơng sẽ gặp ông Iliescu và các giới chức khác của Romania vào xế thứ Năm.

Cả hai vị chủ tịch nước sẽ dự một cuộc họp với các doanh gia Việt Nam và Romania để bàn về vấn đề thương mại.

Việt Nam và New Zealand ký kết một hiệp định để các hãng máy bay của hai nước khai thác các tuyến bay thẳng.
VOA 17 Oct 2003, 14:09 UTC

Trong bản tin đánh đi từ Hà Nội hôm thứ Sáu, hãng thông tấn Reuters cho biết Việt Nam và New Zealand vừa ký kết một hiệp định để các hãng máy bay của đôi bên khai thác các tuyến bay thẳng theo phương thức chia chỗ. Hiệp định này được thủ tướng Phan Văn Khải của Việt Nam và thủ tướng Helen Clark ký kết hôm thứ 6 tại Hà Nội.

Theo hiệp định vừa kể, đôi bên có thể đề cử những đối tác bên ngoài để thực thi kế hoạch chia chỗ. Về phía New Zealand, các chuyến bay thẳng sẽ phục vụ khách hàng đến 3 phi trường chính của Việt Nam là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, và Đà Nẵng. Các hãng máy bay của Việt Nam có thể phục vụ khách hàng từ Việt Nam đến 3 địa điểm sẽ được xác định sau ở New Zealand.

Đây là lần đầu tiên bà Helen Clark đến thăm Việt Nam trong tư cách thủ tướng và sau khi kết thúc chuyến viếng thăm vào ngày 18 tới đây, nhà lãnh đạo New Zealand sẽ lên đường sang Bangkok để dự hội nghị thượng đỉnh APEC.

Quan hệ giữa VN và New Zealand
RA 18/10/2003 11:51:00 AM

Thủ Tướng New Zealand, Helen Clark đã kết thúc chuyến công du 3 ngày tại VN.

Trong thời gian lưu lại đây, bà đã gặp gỡ giới lãnh đạo VN để bàn về vấn đề giao thương, nhân quyền và chương trình viện trợ.

Như lời Thủ Tướng Helen Clark, trong phiên họp với Thủ Tướng Phan văn Khải, khi đề cập đến vấn đề nhân quyền, bà đã bày tỏ niềm quan ngại đối với các biện pháp hạn chế sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất.

New Zealand và VN đã ký kết thỏa ước Dịch Vụ Hàng Không, đồng thời dự trù thành lập một bộ phận hỗn hợp để nghiên cứu cả vấn đề kinh tế lẫn giao thương giữa hai bên.

Hợp tác kinh tế Việt-Bỉ


BBC 13 Tháng 10 2003

Hôm nay 12/10 là ngày làm việc đầu tiên trong đó phái đoàn của Thái Tử Philippe và Bộ trưởng Kinh tế Bỉ Fientjie Moerman đã tiếp xúc với Thủ tướng, Bộ Trưởng Bộ Thương Mại, và Bộ Trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các quan chức cấp cao khác.

Bà Fientjie Moerman, Bộ Trưởng Kinh tế, Năng lượng, Ngoại thương và Chính sách Khoa học cho BBC biết theo dự kiến Bỉ và Việt Nam sẽ ký một loạt hợp đồng kinh tế mà bà mô tả là qui mô.

Bà Moerman cho hay ngoài các khoản vay cho một số ngân hàng Việt Nam lên tới hàng chục triệu đô la thì theo dự kiến, Bỉ và Việt Nam sẽ ký Văn Bản Ghi Nhớ (MOU) cung cấp thiết bị, máy móc dệt may với tổng trị giá khoảng 8 triệu USD.

Ngoài ra hai phía sẽ ký hợp đồng để Bỉ lắp đặt hệ thống ánh sáng cho sân bay Tân Sơn Nhất và mở rộng hệ thống ánh sáng cho Sân bay Quốc Tế Nội Bài.

Trong khi Bỉ là nước lấy xuất khẩu làm đòn bẩy kinh tế và là nước xuất khẩu mạnh chỉ sau có Ireland trong liên hiệp Âu châu thì Bỉ lại bị thâm hụt mậu dịch với Việt Nam.

Vào năm ngoái, Việt Nam xuất khẩu sang Bỉ 355 triệu USD trong khi Bỉ chỉ xuất khẩu sang Việt Nam 95 triệu USD.

Bộ trưởng Kinh tế Bỉ nói rằng Bỉ đang có các chính sách buôn bán mạnh với các nước tại Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam, theo bà, là nước có mức tăng trưởng nhanh nhất khu vực.

Bà Moerman nói rằng bất kỳ nước nào đầu tư thời gian và tiền bạc vào Bỉ thì cũng có nghĩa là đang đầu tư vào các định chế Âu châu.

Điều này cũng được ông Trần Nam, Luật sư được đào tạo tải Bỉ chia sẻ.

Ông Nam nói rằng việc EU có trụ sở chính tại Brussels tạo điều kiện cho Bỉ có lợi thế trong việc vận động hành lang và am hiểu cơ chế hoạt động của EU.

Ông nói là Bỉ có số nhân sự nhiều hơn đáng nhẽ ra nên có trong EU với tư cách là địa điểm của Tổng hành dinh EU và điều này cũng là một lợi thế cho Bỉ.

Ông Trần Nam nói rằng tuy nhiên quyền quyết định của Bỉ không thể bằng các nước lớn trong khối EU.

Theo dự kiến ngoài TP HCM ra, phái đoàn kinh doanh của Bỉ sẽ thăm cả Hải Phòng nơi Bỉ đang hợp tác giao thông cảng biển tại Đình Vũ.

Phái đoàn kinh tế Bỉ theo dự kiện sẽ rời Việt Nam vào thứ Sáu tuần này.

Việt Kiều Mỹ Về Việt Nam Dưỡng Già Với Xe Hơi SUV


Washington Post - 10.2003

SAIGON (Washington Post) – Các thuyền nhân ngày xưa mà CSVN gọi là thành phần rác rưởi, ngày nay giầu có đã được đảng CSVN tiếp rước như là một tài sản cho nền kinh tế được cởi mở tự do.

Với những rác rưởi trước đây bỏ đi, người ta có thể chế biến thành vật tư để xây cất những nhà cửa khang trang và mỹ lệ, CSVN đã áp dụng khuôn thức này đối với các Việt kiều Mỹ.

Ngoài cái cổng ra vào bằng sắt của Làng Việt Kiều, có những chiếc xe hơi loại thể thao thứ xịn , còn láng coóng, đang lướt vào con đường cụt. Những ngôi nhà nhỏ có những mái nhà mầu cam kiểu California nhô trên nền cỏ xanh vừa mới cắt. Bên trên hồ bơi là một khung lớn làm bằng cây dừa với hàng chữ tiếng Anh “WELCOME” được kẻ trắng để ngỏ tình ý sẵn sàng tiếp đón.

Nhưng những người đang nhấp nháp những ly rượu ‘cocktail’ bên bờ sông Saigon và đang lái những chiếc xe nhập cảng trên những con đường của khu mở mang này không phải là những doanh gia Đức và Nam Hàn đang ở trong những khuôn viên tương tự của thành phố trước đây có tên là Saigon.

Họ là những Việt kiều Mỹ. Cách đây gần 30 năm, họ là những thuyền nhân trốn tránh Cộng sản và đã tìm đường thoát khỏi miền Nam Việt Nam khi CSVN cho bộ đội của họ cưỡng chiếm Saigon, họ thề không bao giờ quay trở về khi CSVN còn nắm quyền.

Những thuyền nhân này nhờ ơn Chúa và Phật phùï hộ, độ trì cho sống sót trong lúc vượt đại dương để tới định cư tại Hoa kỳ. Họ không phải là rác rưởi như trước đây CSVN đã rêu rao trước lòng trắc ẩn của quốc tế, ngày nay họ đã thành công trong mọi sự nghiệp trên đất Hoa kỳ và giầu có trên những tiêu chuẩn của CSVN. Có những người trong số Việt kiều Mỹ trước đây từng bị CSVN bắt bỏ tù hay đầy đi vùng kinh tế mới đã được tiếp đãi ân cần khác xưa nhiều, họ chỉ có một câu vấn an của bà con trong nước là “Nhờ Chúa, nhờ Phật, ông bà và tổ tiên đã nhìn lại”, họ không tin vào cái thứ gọi là “Tổ quốc Cộng sản”, thứ chỉ biết cướp của, lường gạt và hành hạ những người dân hiền lành.

Lão già Võ Quý, lấy tên Larry, năm nay đã 65 tuổi, xưa kia là một sĩ quan không quân của CHVN, hắn đã rời Southern California cách đây hai năm để về ở trong cái xóm làng mới sang trọng này, một phân khu đầu tiên trong bốn dự án của thành phố Hồ Chí Minh để bán nhà những thuyền nhân ngày xưa. Lão già Quý đã suýt xoa : “Có bao giờ chúng tôi có ý nghĩ để quay trở về đâu. Chúng tôi muốn yên thân. Thực ra chúng tôi rất nhớ đất nước của chúng tôi.”

Có một số nhỏ Việt kiều Mỹ lại đang rời về Việt Nam,những người này CSVN gọi là Việt kiều hay kiều bào ta tại nước ngoài về quê hương dưỡng già, nối lại những mối thân tình với bà con ở lại và sống trong một nếp sống vốn từng quen thuộc từ thuở nào. Cái hay nhất cho những Việt kiều này là để cho họ sống theo những tiện nghi trong những vùng theo lối sống Hoa kỳ mà họ đã từng nhiễm khi họ lưu vong.

Các điều luật đã được cho thông qua cách đây hai năm, luật cho phép những tên rác rưởi ngày xưa được quyền sở hữu về nhà cửa, lấy lại Việt tịch và đóng các thứ thuế cho nhà nước.

Lão già Quý trốn thoát vào ngày 30 tháng tư 1975, sau khi bộ đội Bắc Việt cho chiếc xe tăng càn thành phố Saigon và cải tên Saigon thành ra thành phố Hồ Chí Minh để nhớ như “Có Bác vui trong ngày đại thắng”. Ngày nay lão già Quý và vợ hắn, tên Ngọc, còn gọi là Linda đang dạo bộ quanh làng này trong chuỗi ngày còn lại, họp mặt với bà con lối xóm tại bờ sông và kiêu hãnh đi chiếc xe hơi loại SUV để tới thăm bà mẹ và họ hàng.

Bước vào căn nhà rộng thênh thang, lão già Quý khoe ra những đồ gia dụng bằng thép ‘inox’, phòng tắm lớn có vòi tắm hơi, thiết trí bay bướm theo kiểu Jacuzzi của Ý với chiếc sàn mầu hồng lộng bóng, gợi tình.

Lãi già Quý là một giám đốc tạo mãi hồi hưu của nhà hàng Caesar’s Palace tại Las Vega, hắn cho biết : “Không phải cẩm thạch đâu nhé, đá hoa cương thứ thiệt đấy. Thiệt là quá rẻ, còn rẻ hơn ở Hoa kỳ rất nhiều.”

Việc những người di dân tới Hoa kỳ về dưỡng già tại quê hương của họ là chuyện thường. Di dân Việt Nam có những cái đau thương thắt tim họ. Hàng trăm ngàn người Việt trốn thoát CSVN là khối dân tỵ nạn đến định cư lớn nhất trong lịch sử Hoa kỳ. Ngày nay người Hoa kỳ gốc Việt đã lên tới 1,1 triệu người. Cái cảm giác Chống Cộng sản vẫn lên cao tại các khu Little Saigon ở khắp Hoa kỳ, các nhóm người Chống Cộng thường xuống đường phản đối mỗi khi có đoàn văn công của Hanoi đem các hình nộm trình diễn múa rối tại Hoa kỳ.

Nhưng thời gian cứ trôi qua, nhiệt tình Chống Cộng giảm xuống và tình hoài hương lại trỗi dậy, về duỡng già tại Việt Nam xem ra có phần nào rẻ hơn tại Hoa kỳ.

Một trăm ngàn Mỹ kim có thể mua được một biệt thự có bốn phòng ngủ. Tiền hưu và trợ cấp hàng tháng được 1000 Mỹ kim, dư sức để mướn một tài xế, một người giúp việc nhà và trả tiền ăn cho các nhà hàng. Giá vé máy bay và tiền điện thoại lại rẻ giúp việc tiếp súc với các con cháu và các bác sĩ tại Hoa kỳ khá dễ dàng.

Hoàng Tiến là người khuyếch trương đô thị gốc Việt ở quân Fairfax County, Hoa kỳ. Anh cho biết là anh yêu tổ quốc của anh, nhưng anh hay những người tỵ nạn ngày xưa mà anh từng quen biết không có cách nào cả như sống ở đây thì phải tuỳ thuộc vào địa phương. Chỉ có tiền là có thể mua đủ mọi thứ như : cái bồn cầu, cái máy điều hòa không khí và hầu hết mọi thứ , kể cả không gian và những cái gì thuộc về riêng tư của một con người.

Anh Tiến đang làm việc cho những nhà thầu Việt Nam tại Việt Nam để xây cất các phân khu, anh cho biết ngay cả những cái khu khá hơn hết vẫn còn luộm thuộm khi chúng còn nằm trong dự án của anh để lập thành khu gọi là “Green City” (Thành phố Lá xanh).

Hiện nay Tiến đã 48 tuổi, anh vừa nói, vừa lắc đầu : “Thằng cha bên cạnh đã để các bao rác trước cửa nhà tôi. Người ta có thể mở ngay quán karaoke trong nhà làm ầm ĩ cả xóm khi người ta muốn hay thích. Cái thứ này không có tại Hoa kỳ, vì tất cả việc làm đều phải tuân theo luật pháp.”

Bước ra khỏi chiếc xe Mercedes loại SUV, Tiến lội bộ vào vùng sình đang được khai quang để cất 500 căn nhà và các nhà song lập theo như đã dự trù để hoàn tất trong năm tới. Anh hiện có kế hoạch lập ra một dẫy thương xá nhỏ, lấy tên “Tiểu California” hay “Tiểu Fairfax”. Đã bán được nửa số những căn nhà đang cất qua văn phòng bán nhà tại Falls Church, Virginia. Dân Mỹ gốc Việt khởi sự quay đầu lại từ đầu năm 1990, ít năm sau khi các nhà cầm đầu Cộng sản mở ra cuộc cởi mở tự do cho nền kinh tế để đi theo kinh tế thị trường với cái đuôi xã hội chủ nghĩa, bỏ đi cái thời kỳ quá độ cho miền mà ‘Bác Hồ’ đã ươm cây ‘Vú sữa’ trước mặt các đồng chí miền Nam tập kết ra Bắc.

Hoa kỳ đã bỏ vần đề cấm vận đối với Việt Nam năm 1994. Vào lúc đó những người ra đi tỵ nạn ngày xưa chỉ về Việt Nam để thăm bà con thân thuộc, họ không được CSVN tiếp nồng hậu.

Một đoàn người du lịch miền hậu giang, hầu hết đều là Việt kiều về thăm trong đó có một người da trắng của Canada. Ông da trằng này rất sành tiếng Việt. Ông đã nghe lóm được câu chuyện của hai anh công an giả trang làm tài xế đưa khách du lịch đi thăm viếng các nơi. Hai anh công an này tiểu di với nhau : “Bọn này truớc đây là những tên Việt gian, nay trở thành Việt kiều của đảng ta …”

Đa số những người Việt về thăm quê hương đã bị làm khó dễ hay gây rắc rối ngay tại phi cảng Tân Sơn Nhứt. Họ đành phải theo cái thủ tục “Đầu tiên” (Tiền đâu) bằng cách kẹp lén 10 đô la trong giấy thông hành khi đóng dấu để hối lộ các đồng chí công an và hải quan. Tiếng tăm Việt kiều đã nổi long lên từ đó để trở thành tiếng lóng ám chỉ những người mập béo và có tính háo ngọt.

Việc cải tổ kinh tế đã làm thay đổi mọi thứ. Tại Á Đông, chỉ có Trung quốc là quốc gia phát triển kinh tế lên nhanh hơn cả. Ngày nay, các nhà cầm đầu CSVN tuyên bố với giọng cha chú: Những người Việt ra đi truớc đây là phần tài sản lớn nhất của Việt Nam (Thực sự lúc những người Việt này ra đi theo diên Hoa, họ đã bị công an cộng sản lột sạch, ngoại trừ chiếc quần sà-lỏn). Nhà nước cho họ dễ dàng gửi tiền về nước cho thân nhân, không hề làm khó. Tiền chuyển về nước không đánh thuế theo lợi tức như truớc đây.

Theo ghi chép của ngân hàng ngoại quốc, số tiền Việt kiều gửi cho thân nhân hồi năm ngoái đã lên tới trên hai tỷ Mỹ kim, vẫn còn tiếp tục gia tăng vào năm tới.

Vào những năm gần đây, người Việt sinh sống tại nước ngoài đã được CSVN cam kết để cấp cho một số quyền công dân nào đó. Khi di chuyển bằng đường xe lửa hay đường hàng không, các Việt kiều được CSVN công nhận được miễn lệ phí đóng như người ngoại quốc và được hưởng giá vé theo người trong nước.

Còn những Việt kiều được công nhận bỏ tiền ra đầu tư hay kinh doanh sẽ được chấp thuận dễ dàng và giấy phép sẽ cấp cho rất nhanh (tuy nói thế, những Việt kiều này cũng cần phải có ô hay dù của các quan cộng sản).

Nguyễn Tuấn Sơn là chủ biên của một tờ báo luật pháp nhà nước tuyên bố xanh rờn : “Nhân dân muốn quên hết mọi thứ; các quí vị không có thể quên được bất cứ cái gì trong quá khứ (Nhân dân là ai ?)”. Sơn là một đảng viên cộng sản đã thận trọng để phân biệt hai loại Việt kiều : người cộng sản với người yêu nước muốn về thăm Việt Nam.

Theo lời tuyên bố của nhà chủ biên Sơn, “Những người này hiện ở đây vì đất này là tổ quốc của họ, chúng ta không có quyền trách mắng họ. Chúng ta tiếp đón họ. Chúng ta không muốn để Việt kiều gây chiến tranh lần nữa .”

Chết dần trong rừng sâu


BBC 15 Tháng 10 2003

Báo Anh vừa có bài về một nhóm tàn quân Hmong ở Lào đang chờ bị tiêu diệt. Họ được CIA sử dụng thời chiến tranh nhưng nay không được ai, ngoài vài ba nhà báo Phương Tây quan tâm đến.

Các bức ảnh đau thương đã giúp nhà báo Úc Philip Blenkinsop được giải thưởng quốc tế nhưng phải đến gần đây, câu chuyện của họ mới được báo chí quốc tế để ý tới.

Đó là một nhóm người Hmong bị CIA bỏ rơi trong rừng rậm của nước Lào từ cuộc chiến Việt Nam.

Họ bị truy đuổi, bắn hạ như những con thú vì không chịu đầu hàng chính quyền.

Đàn ông, đàn bà, trẻ em trúng đạn pháo, trúng mìn nhưng không có thuốc men và dịch vụ y tế nên nếu không chết cũng chịu đau đớn trong trong rừng sâu.

Jon Swain, cây bút viết về Đông Dương nổi tiếng thế giới đã viết bài cho loạt ảnh của Blenkinsop.

Ngay trang bìa của số báo tờ The Sunday Times (12/10/2003) là ảnh của hàng trăm người Hmong phục xuống đất, chắp tay lạy nhà báo Úc Blenkinsop khi ông này bí mật đến chỗ trú ẩn của họ.

Người Hmong nghĩ rằng ông là người Mỹ trở lại cứu họ.

Như những bóng ma

Sau khi chụp những bức hình được giải thưởng Visa d’Or năm nay, ông Blenkinsop trở về với ám ảnh trong đầu.

Ông nói rằng họ giống như những bóng ma của quá khứ. Họ muốn theo ông trở ra ngoài thế giới bình thường vì ‘Họ không muốn chết’.

Một phụ nữ Hmong nói với ông rằng ‘Chúng tôi sống như những con thú hoang, xin đừng gọi chúng tôi là con người’.

Các bài trong trang là những bức hình rùng rợn về các vết thương không được chạy chữa gì của những người du kích chống cộng sản, từng một thời được báo chí Phương Tây gọi là ‘các chiến binh tự do’.

Bài báo đăng ảnh một phụ nữ là Pbai Lo, 28 tuổi, bị trúng đạn AK 47 vào cổ một ngày tháng Mười Một năm 2001, và nay không nói được vì viên đạn còn nằm ở đó.

Ảnh trang bên là của chồng cô Pbai Lo, ông Teng Kong Wha, 40 tuổi, ôm đứa con 7 tuổi, ngồi trên một thân cây trong rừng.

Chân phải người đàn ông này chỉ còn là một ống tre bọc quanh chỗ cụt vì trúng mìn cũng vào tháng Mười Một 2001.

Những bức ảnh khác kéo người xem lại một thời chiến tranh khủng khiếp. Đó là hình của những chiến binh Hmong mất chân tay, hay có một mắt lòi ra ngoài mà không có thuốc chữa.

Bị Hoa Kỳ bỏ rơi

Họ là tàn quân của những nhóm du kích Hmong do CIA huấn luyện và tài trợ từ thậ̣p niên 60 nhằm phục kích quân đội Bắc Việt Nam và quân Pathet Lào.

Nhưng theo tác giả Jon Swain, người Mỹ đã phủi tay sau cuộc chiến trong trường hợp của nhóm người này.

Hoa Kỳ đã đưa được 160 nghìn tàn quân của tướng Vàng Pao sang các trại ở Thái Lan.

Bản thân ông Vàng Pao thì được bài báo mô tả là ‘sống thảnh thơi ở California’ sau chiến tranh.

Nhưng những kẻ còn sót lại sau cuộc chiến trong vùng rừng không xa Cánh đồng Chum và thị trấn Vang Vieng của nước Lào thì không còn được ai nhắc đến.

Theo nhà báo Andrew Perrin, từ tờ Time Asia, người cũng vào được vùng này trong tháng Sáu 2003 thì một nhóm anh gặp có khoảng 800-900 người. Họ nói với anh rằng cả nước Lào còn chừng 20 nhóm như vậy.

Sau khi những bức ảnh của Blenkinsop được đăng trên thế giới, một nhóm một người Pháp và một người Bỉ cùng một mục sư Mỹ gốc Hmong đã bí mật vào rừng tìm gặp được những tàn quân Hmong.

Cả ba người, tay quay phim Pháp Vincent Reynaud, nhiếp ảnh gia Bỉ Thierry Falise và mục sư Naw Karl Mua đã bị quân chính phủ Lào bắt và xử tù.

Những sau đó, những người Phương Tây được thả về nước.

Bài báo của Jon Swain cho rằng một số nguồn tin nói là quân chính phủ có thể dùng cả vũ khí hóa học để tiêu diệt nốt những du kích Hmong này.

Phía chính phủ Lào, qua lời của nhà ngoại giao Souvanna Phouyavong, nói rằng ‘đây là những tên cướp chuyên giết dân lành, và chúng tôi không hề muốn bọn chúng’.

Ông này cũng nói rằng đa số người Hmong ở Lào sống hiền hòa và ủng hộ chính phủ.

Người ta tin rằng các nhóm phiến quân Hmong này đã tấn công các xe bus, thậm chí gài mìn hay đặt bom ở một số nơi tại Lào trong thời gian qua.

Sẽ bị tiêu diệt

Nhưng số phận khủng khiếp của nhóm người này, nhất là hàng trăm trẻ em và phụ nữ hiện được các tổ chức nhân quyền quốc tế quan tâm.

Các em nhỏ ra đời và lớn lên trong những khu lều vô cùng bẩn thỉu, mất vệ sinh, trong điều kiện sống chui lủi như hoang thú, đã không biết một cuộc sống bình thường là thế nào.

Có những trẻ em hơn 10 tuổi đã học cầm súng.

Các tổ chức như Ân xá Quốc tế (Amnesty International) kêu gọi chính phủ Lào và Liên Hiệp Quốc tạo một lối thoát an toàn cho họ rời rừng sâu đi sống tỵ nạn ở nước khác.

Nhưng chính phủ Lào chưa chấp nhận chuyện này.

Ở phần cuối, bài báo đăng ảnh một gia đình Hmong ba thế hệ. Người ông là Song Der, năm nay 80 tuổi, đã từng cầm súng giúp người Pháp.

Ông bố là Sai Tua, 40 tuổi, chiến đấu giúp CIA, hai con trai là Shua Yung, 26 tuổi và con trai nhỏ Sai, 10 tuổi, hiện cũng đang cầm súng.

Quân đội chính phủ đang tăng cường các vụ tấn công vào vùng này.

Theo bình luận của nhà báo Jon Swain thì trong một thời gian ngắn nữa, tất cả những con người này sẽ bị tiêu diệt mà thôi.

(Vì lý do bản quyền, BBC không thể đăng các bức ảnh của Philip Blenkinsop)