Những Vấn Đề Tồn Đọng Dưới Hào Quang Chiến Thắng !
Cho tới nay, Hà Nội vẫn thường xử dụng các ngày kỷ niệm chiến thắng để tuyên truyền cho chế độ của họ với các luận điểm nhằm chứng minh tính “chính nghĩa, chính danh” của chế độ; từ đấy biện minh cho cái ghế ngồi hiện nay của họ. Điều họ không muốn hiểu là tính “chính nghĩa, chính danh” của một chế độ chỉ có nếu được thông qua một cuộc bầu cử thực sự tự do, dân chủ mà thôi.
Đối với chúng ta, nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng dân tộc ta vẫn ở trong tình trạng một nước kém mở mang với nguy cơ tụt hậu khi so sánh với các nước trên thế giới và nhất là với các nước trong vùng. Từ đấy cần đặt câu hỏi “tại sao ?”; hơn nữa ngay cả từ trận Điện Biên Phủ cũng có những vấn đề tồn đọng tới ngày nay với hậu quả nghiêm trọng:
1. Vai trò của Trung Quốc (TQ) từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến nay. Phải chăng vì họ “giúp đỡ” VN quá nhiều nên nay ta phải “nhượng đất, nhượng biển” trả nợ TQ ?
2. Dưới áp lực của TQ, mhững người lãnh đạo thời đó đã phải tiến hành các cuộc ‘chỉnh huấn’, ‘chỉnh quân’, ‘cải cách ruộng đất’ (nằm trong quan điểm “đấu tranh giai cấp”). Hậu quả của cuộc ‘cải cách ruộng đất’ là khoảng 1 triệu người miền bắc di cư vào Nam (“đi tìm tự do” sau khi đã “nếm mùi cộng sản” qua các cuộc đấu tố kinh hoàng); đây là lực lượng chủ yếu trong cuộc chiến tranh ở miền Nam sau này, từ đấy không thể phủ nhận cường độ sâu đậm của tính nội chiến trong cuộc chiến tranh này (dẫn tới một hậu quả khác là thảm họa ‘thuyền nhân’ đi ‘tỵ nạn cộng sản’ tại các nước ‘tự do’ trên thế giới !).
Đối với thế giới, nhất là đối với phong trào giải phóng dân tộc (trên toàn thế giới), ánh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ không nhỏ; đối với dân tộc ta, ngoài vinh quang của một chiến thắng quân sự, hậu quả dây chuyền từ trận Điện Biên Phủ còn âm vang tới mãi ngày nay (mặc dù những người lãnh đạo không cố ý, không thấy hay không muốn thấy) !.
Riêng đối với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, anh hùng Điện Biên, trong thư của ông gửi Đảng CSVN đề ngày 3 tháng 1 năm 2004, nêu lên những vấn đề nghiêm trọng hiện nay, đặc biệt là về quốc phòng (phải chăng là di chúc của ông ?), đồng thời yêu cầu làm sáng tỏ các vụ việc Tổng cục II, Sáu Sứ, T4 liên quan tới danh dự và cá nhân ông (đây có lẽ là cuộc chiến đấu cuối cùng của ông).
Để có tài liệu dẫn chứng, chúng tôi mạn phép trích đăng dưới đây loạt bài về Điện Biên Phủ của đài BBC và bài của ông Hoàng Xuân Tùy trên website Quân Đội Nhân Dân Điện Tử với luận điểm “Đỉnh cao trí tuệ Việt Nam” muôn thuở của Hà Nội.
Nhân đây, xin lạm bàn thêm về hai sự kiện lịch sử trong tháng 4/5 2004:
1. Tại Nam Phi, kỷ niệm 10 năm sau ngày ông Nelson Mandela lên cầm quyền (ông mãn nhiệm năm 1999) và chính thức chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc. Nhìn từ góc độ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, người da đen Nam Phi có thể tống cổ bọn thực dân da trắng gốc Anh đi vì đây không phải là xứ của họ và dân gốc Anh này có thể trở thành ‘thuyền nhân’ về lại mẫu quốc của họ !. Tổng Thống Mandela đã không làm thế và Nam Phi là một mẫu mực “hòa giải, hòa hợp dân tộc” rất đáng để những người cầm quyền Hà Nội và cả dân tộc ta suy ngẫm (theo quan điểm của chúng tôi hoàn cảnh Việt Nam hiện nay là vấn đề “hóa giải hận thù” chứ không còn là “hòa giải, hòa hợp dân tộc” như thời 27.1.73 (Hiệp Định Paris) với 2 quân đội, 2 chính quyền và sau 30.4.75 với việc tiếp quản quân đội, chính quyền Sài-gòn nữa).
2. Từ 1.5.2004, Liên Hiệp Âu Châu mở rộng với 25 quốc gia thành viên. Từ 1945 (sau thế chiến thứ 2) tới nay, Tây Âu nỗ lực tìm kiếm hòa bình với mục tiêu là một Âu Châu thống nhất trong hòa bình. Ngày 1.5.2004 trở thành một ngày “chiến thắng trong hòa bình” của họ vậy !.
Ngẫm người lại nghĩ đến ta !.mạng Ý Kiến
Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952) BBC - 18 Tháng 3 2004 - Cập nhật 17h59 GMT http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040318_chineseadvisers.shtml |
Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, vai trò của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam được nói đến nhiều.
Trong những năm qua, các sử gia Việt Nam có thiên hướng lướt qua vai trò Trung Quốc nhằm hoàn thiện ‘lịch sử dân tộc’, trong lúc việc không tiếp cận được với nguồn tư liệu Trung Quốc đã cản trở các học giả phương Tây trong việc tìm ra thái độ và chính sách của Bắc Kinh trong cuộc xung đột ở Đông Dương.
Bắt đầu từ thập niên 1990, có thêm một số tác phẩm mới. Gần đây nhất, đáng chú ý là “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” của Qiang Zhai (xuất bản 2000) và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học North Carolina ấn hành trong khuôn khổ sêri về lịch sử chiến tranh Lạnh.
Sử dụng các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), hai học giả quốc tịch Mỹ này tái hiện chính sách của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến ở Đông Dương.
Quyển sách “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” (Trung Quốc và các cuộc chiến của Việt Nam, 1950-1975) của Qiang Zhai (Tường Trạch ?), giáo sư lịch sử thuộc Auburn University Montgomery, dành hai chương bàn về vai trò của các cố vấn Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam.
| Việt Nam miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng đối với người Pháp bởi vì tình cảm dân tộc mạnh mẽ của họ. Họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng chiến thắng là kết quả của những nỗ lực anh hùng riêng của họ. Về tính khả tín của các nguồn tư liệu Trung Quốc, tôi nghĩ về phần lớn, chúng có thể tin được. Các tư liệu này thậm chí có thừa nhận những sai lầm mà cố vấn Trung Quốc phạm phải ở Việt Nam. |
| GS. Qiang Zhai, trả lời câu hỏi của ban Việt ngữ BBC |
Với mong muốn giới thiệu các nghiên cứu lịch sử mới liên quan chủ đề mà nhiều người Việt Nam quan tâm, chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính mà tác giả Qiang Zhai trình bày trong quyển sách. Nó có thể giúp người ta nắm bắt phần nào những gì công bố tại Trung Quốc trong mấy năm qua.
Tác giả Qiang Zhai cũng thừa nhận trong một bài viết năm 1993, “Do bài viết chủ yếu dựa trên tư liệu Trung Quốc, nó không tự xem là đã thể hiện đầy đủ về quan hệ Trung-Việt trong cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất.” Và như trong ý kiến khép lại hội thảo Pháp-Việt về Điện Biên Phủ tổ chức năm ngoái ở Paris, Điện Biên Phủ vẫn là đề tài hấp dẫn cần tìm hiểu thêm và việc biết thêm các tư liệu gần đây cũng chỉ là một gạch nối trong quá trình tìm hiểu toàn bộ những gì đã xảy ra trong các năm dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.
Người bạn lớn đầu tiên
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
| Việc giúp đỡ bằng mọi cách ... là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác. |
| Lưu Thiếu Kỳ, 1950 |
Trung Quốc trở thành nước đầu tiên công nhận VNDCCH vào ngày 18-1-1950. Stalin theo sau vào ngày 30-1-1950, để tiếp theo đó là các nước Cộng sản khác ở Đông Âu và Bắc Hàn.
Đến tháng Tư, ông Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc gửi chuyên viên quân sự đến Việt Nam với tư cách cố vấn ở đại bản doanh Việt Minh và ở cấp độ sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở cấp độ trung đoàn và tiểu đoàn. Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ gửi cố vấn, nhưng không gửi chỉ huy. Ngày 17-4-1950, quân ủy trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh thành lập nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc. Nhóm này sẽ gồm 79 cố vấn, cùng một số trợ lý.
Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).
Việc Trung Quốc quyết định giúp Việt Nam xuất phát từ ba lý do chính:
Thứ nhất, Đông Dương là một trong ba mặt trận, cùng với Triều Tiên và Đài Loan, mà Bắc Kinh xem là dễ bị nước ngoài can thiệp. Lãnh đạo Trung Quốc không chỉ lo ngại về khả năng thù địch nước ngoài xuất phát từ Đông Dương mà lo cả tàn quân Quốc Dân Đảng ở Việt Nam. Sau khi đảng Cộng sản chiếm Quảng Tây tháng 12-1949, một số đơn vị Tưởng Giới Thạch đã trốn sang miền Bắc Việt Nam, trong lúc số khác lẩn trốn vào vùng núi tại Quảng Tây. Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, tàn quân này bắt đầu tấn công quân chính phủ mới. Nhìn trong hoàn cảnh này, việc đánh bại quân Pháp ở Bắc Việt sẽ củng cố đường biên giới Trung Quốc.
Thứ hai, nghĩa vụ giúp đỡ một nước cộng sản anh em khiến Bắc Kinh không từ chối yêu cầu từ phía Việt Minh. Một chỉ thị nội bộ do Lưu Thiếu Kỳ chuẩn bị ngày 14-3-1950 là ví dụ cho thấy Bắc Kinh liên kết cách mạng Trung Quốc và quốc tế: “Sau khi cách mạng chúng ta chiến thắng, việc giúp đỡ bằng mọi cách để các đảng Cộng sản và nhân dân ở mọi quốc gia bị áp bức tại châu Á giành thắng lợi là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác.”
Thứ ba, sự can dự của Bắc Kinh ở Đông Dương cần được nhìn theo quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và láng giềng. Các vua Trung Quốc vẫn thường xem Việt Nam nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của phương bắc. Truyền thống này hẳn được Mao và các đồng chí của ông – những người xem lịch sử là chuyện nghiêm túc- tiếp nối. Còn người Việt vẫn có truyền thống tìm kiếm mô hình và cảm hứng từ Trung Quốc. Nên quyết định của ông Hồ Chí Minh nhờ Mao giúp đỡ không chỉ xuất phát từ lý do ý thức hệ. Quyết định đó cũng tương thích với thói quen tìm kiếm mô hình từ Trung Quốc, đồng thời tìm cách duy trì độc lập cho người Việt.
Tháng Tám 1950, ông La Quý Ba trở thành người đứng đầu một phái đoàn cố vấn chính trị sang Việt Nam. Trong bức điện gửi La Quý Ba, Lưu Thiếu Kỳ dặn La không áp đặt quan điểm lên người Việt và đừng làm mếch lòng nếu phía bên kia không chịu làm theo các đề nghị. Những dặn dò như vậy có vẻ cho thấy Bắc Kinh nhạy cảm trước lòng tự hào dân tộc của Việt Nam và mối thù địch truyền thống giữa hai nước. Tuy vậy, như những đoạn sau sẽ cho thấy, người Trung Quốc sẽ tỏ ra thất vọng và giận dữ khi các đồng chí Việt Nam của họ đi chệch khỏi đường lối Trung Quốc.
Chiến dịch Biên giới
Trận đánh đầu tiên Việt Minh thực hiện với lời khuyên và hỗ trợ của cố vấn Trung Quốc là chiến dịch Biên giới năm 1950, với mục đích liên thông mạng lưới liên lạc với Trung Quốc. Quân Pháp lúc này kiểm soát các tiền đồn dọc biên giới Trung Quốc. Việc loại bỏ các vị trí này sẽ giúp củng cố căn cứ Việt Minh ở khu Việt Bắc, thông thương đường tiếp vận từ Trung Quốc và giúp cho lực lượng Việt Minh có vị thế tốt hơn nhằm tấn công xuống khu vực đồng bằng sông Hồng trong tương lai.
Ban đầu, Việt Minh dự định tấn công Lào Cai và Cao Bằng, hai cứ điểm quan trọng. Sau khi suy tính, Việt Minh thay đổi kế hoạch, chỉ tập trung vào Cao Bằng. Bên cạnh việc yêu cầu Trung Quốc gửi viện trợ và gửi nhóm cố vấn quân sự đến Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng đề nghị gửi sang một cố vấn quân sự cao cấp để điều phối chiến dịch biên giới.
Lúc này, Trung Quốc cử vị tướng nổi danh Trần Canh (1903-1961) sang Việt Nam ngày 7-7-1950. Như Trần Canh viết trong nhật ký, thì ông này phát hiện Việt Minh bỏ qua việc huy động phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và nói điều này với bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Nếu là như vậy, Trần Canh đã áp dụng học thuyết ‘chiến tranh nhân dân’ của Mao vào Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc Dân Đảng, Mao đã thành công trong việc huy động phụ nữ cho chiến tranh.
Vai trò Trần Canh
Ngày 22-7, Trần Canh gửi báo cáo về cho Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Một số đơn vị Việt Nam có tinh thần cao sau khi nhận huấn luyện và thiết bị tại Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên mức tiểu đoàn lại thiếu kinh nghiệm chỉ huy trong các trận đánh thật sự.” Trần Canh đề nghị nguyên tắc của Chiến dịch Biên giới nên là “hủy diệt lực lượng cơ động của kẻ địch trên các chiến trường và chiếm một số đồn nhỏ, cô lập nhằm giành thắng lợi ban đầu trong lúc tích lũy kinh nghiệm và thúc đẩy tinh thần chiến sĩ. Sau khi giành thế chủ động hoàn toàn, chúng ta có thể dần dần tiến tới các trận đánh quy mô lớn.”
| Tiểu sử tướng Trần Canh |
|
Ngày 28-7, Trần Canh đặt chân tới căn cứ Việt Minh ở Thái Nguyên, nơi ông gặp ông Hồ Chí Minh và La Quý Ba. Trần Canh bảo với người lãnh đạo Việt Nam rằng Việt Minh chưa nên đánh chiếm Cao Bằng, là một cứ điểm mạnh lúc ấy, mà nên trước tiên tấn công các đồn nhỏ của Pháp để rèn quân. Về mặt chiến thuật, Việt Minh nên áp dụng kiểu bao vây một đồn bốt trong lúc tiêu diệt viện quân trong các trận đánh cơ động. Cụ thể, Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt. Ông Hồ chấp thuận kế hoạch này.
| Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt. |
| Qiang Zhai |
Tuy vậy, việc chiếm được Đông Khê vẫn là thắng lợi lớn cho Việt Minh vì từ nay, Cao Bằng bị cô lập. Quân Pháp gửi tiếp viện đi từ Lạng Sơn qua ngả Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc đó, một đơn vị Pháp khác hướng về đại bản doanh Việt Minh tại Thái Nguyên. Trần Canh đánh giá rằng bước tiến của Pháp về Thái Nguyên nhằm thu hút quân Việt Minh từ Đông Khê để quân Pháp ở Cao Bằng có thể thoát ra. Vì vậy, Trần Canh đề xuất quân Việt Minh vẫn ở nguyên tại Đông Khê.
Ngày 30-9, quân Pháp do Lepage chỉ huy đến đánh Đông Khê từ ngả Thất Khê, nhưng bị phục kích. Hôm 3-10, trung tá Charton bỏ Cao Bằng và dẫn quân chạy về Nam. Nhằm ngăn đơn vị của Lepage và Charton hội quân, Việt Minh đưa quân bao vây đơn vị Lepage trước khi tấn công đơn vị của Charton. Ngày 8-10, quân của Lepage bị tiêu diệt. Hai ngày sau, đơn vị của Charton cũng bị chặn đánh. Cả Lepage và Charton bị bắt sống. Trong các trận tiếp sau, Việt Minh chiếm được Cao Bằng và Thất Khê. Quân Pháp tiếp tục rút khỏi Lào Cai, Lạng Sơn và Hòa Bình, để lại 11.000 tấn đạn dược và để trống gần như toàn bộ khu vực phía bắc đồng bằng sông Hồng.
| Chiến dịch biên giới quan trọng ở chỗ Việt Minh từ nay thông thương được với biên giới Trung Quốc. |
| Qiang Zhai |
Sau chiến dịch biên giới, Mao Trạch Đông gửi điện tín cho Trần Canh, bày tỏ lòng vui mừng. Trần Canh sau đó đi nhiều nơi, tổ chức các lớp cho các chỉ huy Việt Minh. Ngày 11-10, Trần Canh nói chuyện với ông Hồ và ông Giáp, đưa ra các đề nghị cải tiến lực lượng, gồm các việc như tặng thưởng cán bộ, đối xử tù binh. Trần Canh yêu cầu các lãnh đạo Việt Minh tổ chức các buổi mừng công để quảng bá thắng lợi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn lựa và tặng thưởng các gương anh hùng. Về việc đối xử tù binh, Trần Canh đề nghị Việt Minh trước tiên yêu cầu họ viết thư cho gia đình và bạn bè để làm lung lay tinh thần đối phương, và rồi cố gắng chiêu mộ các tù binh Việt Nam trong lúc thả người Pháp và Marốc sau khi đã ‘giáo dục’ những người này. Theo nhật ký của Trần Canh, ông Hồ và ông Giáp ‘vui vẻ’ chấp nhận các đề xuất này.
Từ 27 đến 30-10, Việt Minh tổ chức các cuộc họp tổng kết cho các chỉ huy trên mức tiểu đoàn. Thay mặt Việt Minh, ông Trường Chinh đọc báo cáo đánh giá chiến dịch biên giới. Theo đề nghị của ông Hồ Chí Minh, Trần Canh trình bày trước cuộc họp trong bốn ngày liền. Ông phân tích các lý do cho thành công của Việt Minh, ca ngợi lòng dũng cảm của chiến sĩ. Sau đó lại nhắc các khiếm khuyết, như việc sĩ quan thiếu quan tâm binh sĩ, việc chậm thi hành mệnh lệnh, và khuynh hướng chỉ báo cáo tin tốt.
Ông Hồ yêu cầu Trần Canh ở lại Việt Nam, nhưng Trần Canh nhận lệnh mới từ Bắc Kinh và rời Việt Nam đầu tháng 11-1950. Giữa năm sau, ông được bổ nhiệm làm phó chỉ huy tình nguyện quân Trung Quốc chiến đấu tại Triều Tiên. Sau khi Trần Canh ra đi, nhóm cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc cố vấn cho Việt Minh.
Tổn thất và tái tổ chức năm 1951
Cuối năm 1950, Việt Minh và nhóm cố vấn cùng quyết định thực hiện tấn công xuống đồng bằng sông Hồng. Một số cán bộ cao cấp xem chiến dịch biên giới là một phần bước tiến mà sẽ từ từ dẫn tới tổng phản công
| Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn. |
| Qiang Zhai |
Tháng Giêng 1951, tướng Giáp cho tấn công Vĩnh Yên, cách Hà Nội 37 dặm, áp dụng chiến thuật biển người đang được Trung Quốc dùng tại Triều Tiên. Tướng Jean de Lattre de Tassigny, tổng tư lệnh Pháp tại Đông Dương, đưa quân phản kích, dùng cả bom napalm. Việt Minh tổn thất ít nhất 6000 chiến sĩ.
Đến tháng Ba, trận tấn công Mạo Khê, gần Hải Phòng, lại thất bại. Cùng một định mệnh rơi xuống quân Việt Minh trong tháng Năm khi họ đánh Phủ Lý và Ninh Bình. Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn.
Đầu năm 1951, nhóm cố vấn Trung Quốc đề xuất một kế hoạch tăng hiệu năng cho cơ cấu lãnh đạo. Với sự đồng ý của ông Hồ, nhóm cố vấn giúp Bộ tổng tham mưu, tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần cùng các sư đoàn ‘giảm biên chế’. Các cố vấn Trung Quốc ở tầm mức sư đoàn mở lớp huấn luyện cho các cán bộ Việt Nam.
Phương pháp giáo dục ý thức hệ mà các cố vấn Trung Quốc đưa vào Việt Nam có tên gọi ‘chỉnh huấn’. Phương pháp Mao-ít dựa trên truyền thống Tống Nho nhấn mạnh tầng lớp ưu tú hãy tự rèn luyện để tu dưỡng chính trị và đạo đức. Với ảnh hưởng Nho giáo ở Việt Nam, không khó để cố vấn Trung Quốc tìm ra một lớp thính giả chấp nhận ‘tư tưởng đúng đắn’ trong hành động chính trị.
Nỗ lực củng cố quân đội là một phần trong chiến dịch xây dựng bộ máy nhà nước của nước VNDCCH trong năm 1951. Trong năm này, một nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc, do La Quý Ba làm trưởng đoàn, được thành lập. Họ sẽ bận rộn tạo lập luật lệ và chính sách liên quan tài chính, thuế khóa, quản lý báo chí và phát thanh, đối xử với các nhóm thiểu số ...
Một trong những diễn biến quan trọng nhất là thuế nông nghiệp, với cả địa chủ lẫn nông dân đều đóng thuế. Phần trăm thuế sẽ do các viên chức quyết định dựa trên lợi tức và chi phí các nhân khẩu. Do hệ thống thuế mới là mượn từ Trung Quốc, nên Đảng Lao động Việt Nam thành lập một cục thuế nông nghiệp đặc biệt để khảo sát hệ thống, mở lớp huấn luyện và giải thích luật mới cho dân chúng. Chính phủ cũng thành lập Ngân hàng nhà nước Việt Nam và công bố đồng tiền mới, mà tiền giấy in tại Trung Quốc.
Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên BBC - 24 Tháng 3 2004 - Cập nhật 14h24 GMT http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040321_chineseadviserstwo.shtml |
Trong bài trước, chúng tôi đã tóm tắt những ý chính của tác giả Qiang Zhai về sự hình thành và đóng góp của nhóm cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam, 1950-1952.
Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của nhóm chuyên gia Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.
Giáp với biên giới Lào, vùng Tây Bắc là nơi lực lượng Pháp khá yếu. Việc giải phóng vùng này sẽ dỡ bỏ đe dọa từ mặt sau đối với khu Việt Bắc đồng thời mở rộng địa bàn kiểm soát cho Việt Minh.
Chiến dịch Tây Bắc
La Quý Ba chịu trách nhiệm hoạch định chiến dịch. (Lúc này La tạm lãnh đạo nhóm cố vấn, trong lúc Vy Quốc Thanh về Trung Quốc chữa bệnh). Ngày 16-2-1952, ông La gửi báo cáo về quân ủy trung ương Trung Quốc phác họa kế hoạch mà ông định chuẩn bị cho Việt Minh. La đề nghị trong nửa đầu năm này, Việt Minh dưỡng quân đồng thời tiếp tục chiến tranh du kích; đến nửa cuối năm, thì sẽ tấn công Nghĩa Lộ và Sơn La ở Tây Bắc. La nói tiếp khi đã chiếm được Tây Bắc, Việt Nam có thể gửi quân sang Lào vào năm sau. Chuẩn y kế hoạch của La, quân ủy trung ương Trung Quốc chỉ đạo ông trung thành với nguyên tắc “tiến chắc chắn và bảo đảm thắng lợi trong từng trận đánh” trong chiến dịch này. Lưu Thiếu Kỳ bảo La “nhất định phải giúp Lào giải phóng.” La chuyển kế hoạch cho ông Giáp và được chấp nhận. Đến tháng Tư, bộ chính trị Việt Minh thông qua chiến dịch.
| Một số tác phẩm của Qiang Zhai |
Sách:
|
Ngày 31-7, La nói với quân ủy trung ương rằng Việt Minh sẽ bắt đầu mở lớp về vấn đề thiểu số cho chiến sĩ vào đầu tháng Chín trước khi tiến về Tây Bắc vào giữa tháng Chín. Ngày 8-8, quân ủy trung ương trả lời rằng còn quá sớm không nên mở đầu chiến dịch vào giữa tháng Chín, mà nên đình hoãn đến tháng Mười hoặc tháng 11 để Việt Nam đủ thời gian chuẩn bị.
Đầu tháng Chín, Bộ chính trị Việt Nam mở cuộc họp và mời La tham dự. Ông Giáp tường trình sự chuẩn bị cho chiến dịch biên giới. Ông chỉ ra các khó khăn, đặc biệt liên quan cuộc tấn công Sơn La. Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp. Trung Quốc đề nghị Việt Nam nên chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước tiên, và rồi đưa quân xuôi nam để đánh đồng bằng sông Hồng. Ông Hồ chấp thuận đề xuất này, và trong một bức điện gửi ông Giáp và La ngày 30-9, ông cho họ biết quyết định mà ông có với lãnh đạo Trung Quốc, rằng: chiến dịch Tây Bắc sẽ chỉ đánh Nghĩa Lộ, không bao gồm Sơn La; sau khi chiếm được Nghĩa Lộ, Việt Minh cần đặt căn cứ cách mạng tại đây.
| Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp. |
| Qiang Zhai |
Cải cách ruộng đất 1953
Trong mấy năm đầu kháng chiến, Việt Minh đã duy trì chính sách trung dung – tức là giảm thuế - vì ngại rằng một cuộc cải cách ruộng đất triệt để cô lập giới địa chủ. sẽ hủy hoại tình đoàn kết kháng chiến.
Tuy vậy, cuộc chiến chống Pháp khó khăn hơn dự liệu, mặc dù sức mạnh của Việt Minh tăng theo thời gian. Để nhanh kết thúc chiến cuộc và giảm gánh nặng kinh tế cho đảng, lãnh đạo Việt Minh quyết định vào cuối năm 1952 sẽ huy động nông dân cho cuộc chiến. Phần thưởng sẽ là ruộng đất cho họ. Cải cách ruộng đất phục vụ hai mục đích: loại bỏ những phần tử ‘yếu kém’ trong đảng và huy động sự ủng hộ của nông dân. Tháng Giêng 1953, đại hội lần Bốn của Đảng Lao động Việt Nam thông qua nghị quyết kêu gọi cải cách ruộng đất ở các khu giải phóng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm về việc này, nên Việt Nam nhờ các cố vấn giúp đỡ. Mùa xuân 1953, Zhang Dequn trở thành lãnh đạo ban củng cố đảng và cải cách ruộng đất (thuộc nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc). Để tăng lực lượng, Bắc Kinh gửi thêm 42 chuyên viên sang Việt Nam trong năm này.
Nhóm cố vấn cho chiếu phim ‘Bạch Mao Nữ’, nói về cô con gái nhà nông chịu ách áp bức của địa chủ. Nhiều người lính Việt Nam đã khóc khi xem phim. Một người lính giận dữ đến nỗi khi tay địa chủ xuất hiện trên màn hình, anh nâng súng trường lên và bắn. Trong chiến dịch củng cố chính trị, nhiều người có nguồn gốc nông dân và công nhân được thăng chức. Chiến dịch đã giúp tăng tinh thần cho quân đội, chuẩn bị họ cho cuộc quyết chiến với Pháp tại Điện Biên Phủ.
| Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng, nhưng nó cũng để lại các hậu quả. |
| Qiang Zhai |
Đối phó kế hoạch Navarre
Tháng Năm 1953, tướng Henri Navarre đảm trách việc chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Ông đề nghị chiến lược ba bước: bảo đảm kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng trong mùa thu đông 1953-54, bình định các khu do đảng Cộng sản kiểm soát ở miền trung và nam Việt Nam trong mùa xuân 1954 và mở tổng phản kích tiêu diệt cứ địa chính của Việt Minh tại miền bắc. Tháng Chín 1953, chính phủ Eisenhower của Mỹ đồng ý cho Paris 385 triệu đôla trợ giúp quân sự để thực thi kế hoạch Navarre.
Ngày 13-8-1953, Việt Nam gửi điện cho Trung Quốc yêu cầu trợ giúp trong việc “xem xét tình hình và tìm hướng đi cho nỗ lực chiến tranh tương lai.” Cùng lúc đó, Việt Minh từ bỏ kế hoạch ban đầu định tập trung tại Tây Bắc và Lai Châu. Lần này, Việt Minh đề xuất tấn công đối phương tại đồng bằng sông Hồng. La Quý Ba dự cuộc họp của Bộ chính trị Việt Minh ngày 22-8. Tại đây, ông Võ Nguyên Giáp nói về các hoạt động ở khu đồng bằng, bỏ qua Lai Châu và hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. La tường trình lại cho Bắc Kinh về cuộc thảo luận. Ngày 27 và 29 tháng Tám, Bắc Kinh gửi hai bức điện cho La nhấn mạnh Việt Nam cần giữ nguyên kế hoạch ban đầu, tức là tập trung vào Tây Bắc và Lào. Bức điện ngày 29-8 nói: “Bằng cách tiêu diệt kẻ thủ ở khu vực Lai Châu, giải phóng khu miền bắc và trung Lào, và rồi mở rộng chiến trường sang miền nam Lào và Campuchia để đe dọa Sài Gòn ... Việt Minh có thể ngăn chặn bớt sự hỗ trợ lính và tiền cho quân đội bù nhìn, xé lẻ quân Pháp .... mở rộng chính lực lượng Việt Minh, và làm suy yếu rồi tiêu diệt kẻ thù dần dần và riêng rẽ.” Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương. Hiện thời, Trung Quốc nhấn mạnh, Việt Minh cần chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước khi tiến về nam.
Tuân lời, nhóm cố vấn Trung Quốc đề nghị Việt Nam chọn Tây Bắc làm địa bàn chính để chiếm Lai Châu. Nhóm cố vấn nhấn mạnh đồng bằng sông Hồng chỉ là địa bàn thứ hai, nơi mà Việt Minh có thể tấn công du kích để phối hợp với địa bàn thứ nhất và lập tiền đề cho việc sau này giải phóng Hà Nội và Hải Phòng.
Tháng Chín, bộ chính trị Việt Minh thảo luận kế hoạch cho mùa đông 1953-54. Ủng hộ ý tưởng của Trung Quốc, ông Hồ Chí Minh kết luận “phương hướng chiến lược không thay đổi”, nghĩa là Việt Minh sẽ tập trung vào Tây Bắc và bắc Lào. Ông phủ quyết kế hoạch của ông Giáp muốn tập trung vào đồng bằng sông Hồng.
Bắc Kinh, vào ngày 10-10, thông báo cho ông Hồ rằng họ đã bổ nhiệm Vy Quốc Thanh làm tổng cố vấn quân sự và La Quý Ba làm tổng cố vấn chính trị cho Việt Minh. Sau khi quay lại Việt Nam, Vy Quốc Thanh, vào ngày 27-10, tái khẳng định đề nghị của Bắc Kinh xoay quanh chiến lược quân sự của Việt Minh. Ông cũng trao cho ông Hồ một bản chép lại kế hoạch Navarre mà Trung Quốc thu được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo Việt Minh nói đề nghị của Trung Quốc là đúng và rằng nếu Việt Minh làm theo, họ có thể phá vỡ kế hoạch Navarre. Việc Bắc Kinh trao bản kế hoạch Navarre cho ông Hồ chứng tỏ sự hợp tác chặt chẽ trong việc chia sẻ tin tình báo giữa hai đảng Cộng sản trong cuộc chiến Đông Dương lần một.
Đến giữa tháng 11, sư đoàn 316 và một phần sư đoàn 325 và 304 của Việt Minh tiến về Lai Châu. Theo đề nghị của Trung Quốc muốn tiếp cận Nam Việt Nam qua ngả Lào, chính quyền ông Hồ lúc này cũng soạn thảo kế hoạch làm đường cho năm 1954. Kế hoạch dự kiến làm nhiều con đường qua Lào. Nhưng Chu Ân Lai thấy nó quá tham vọng. Trong bức điện gửi La Quý Ba ngày 12-12, Chu nói “số nhân công đòi hỏi quá lớn” và rằng nó sẽ “làm tăng gánh nặng nhân dân và gây thiệt hại năng suất”. Chu thúc giục Việt Nam giảm bớt tầm mức kế hoạch bằng cách tập trung cho ba tuyến quan trọng nhất, gồm một đường đi qua Sầm Nưa.
Sau khi nhận tin tình báo về sự di chuyển của Việt Minh về hướng Lai Châu, tướng Navarre quyết định đưa quân đến Điện Biên Phủ, một thung lũng nhỏ tại cao nguyên tây bắc, trên đường sang Luang Prabang của Lào. Khi tin này đến tai Vy Quốc Thanh, ông này đang trên đường đến Tây Bắc. Sau khi thảo luận tình hình mới với ban cố vấn, Vy Quốc Thanh đề nghị Việt Minh mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ trong lúc vẫn tiếp tục duy trì kế hoạch tấn công Lai Châu. Ông cũng báo cáo kế hoạch cho Bắc Kinh. Chấp nhận đề nghị của Vy, quân ủy trung ương Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự-chính trị mà có cả ảnh hưởng quốc tế. Hứa cung cấp mọi vũ khí mà Việt Nam cần, các lãnh đạo Trung Quốc chỉ thị ban cố vấn giúp Việt Nam “quyết định” và giúp đỡ việc chỉ đạo chiến dịch.
Rõ ràng, Mao Trạch Đông đang nghĩ đến ngoại giao quốc tế khi xem xét diễn biến quân sự ở Việt Nam. Vào tháng Chín 1953, thế giới Cộng sản đã bắt đầu nỗ lực hòa bình. Ngày 28-9, Liên Xô kêu gọi hội nghị năm bên , gồm Trung Quốc, để xem xét các cách giảm xung đột quốc tế. Mười ngày sau, thủ tướng Chu Ân Lai ra tuyên bố ủng hộ đề nghị này. Ngày 26-11, ông Hồ Chí Minh nói với báo Thụy Điển Expressen là ông sẵn sàng thương lượng với Pháp về vấn đề Đông Dương. Mao muốn có chiến thắng ở Điện Biên Phủ để củng cố vị trí của phe Cộng sản tại bàn đàm phán. Ngày 6-12, bộ chính trị Việt Minh thông qua kế hoạch đánh Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ được lập ra với ông Võ Nguyên Giáp làm tổng tư lệnh và Vy Quốc Thanh là trưởng cố vấn.
Nhìn lại, cuộc họp tháng Chín 1953 của bộ chính trị Việt Minh là điểm bước ngoặt cho cuộc chiến. Khi xét Navarre điều động quân tại Điện Biên Phủ tháng 11 chính là để phản ứng việc Việt Minh đưa quân đến Lai Châu và bắc Lào, thì như vậy việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ kế hoạch tập trung cho đồng bằng của ông Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò quan trọng. Nếu ông Hồ thực thi kế hoạch của ông Giáp, có lẽ đã không có cuộc quyết chiến Việt-Pháp ở Điện Biên Phủ.
Tâm sự tiểu đoàn trưởng Điện Biên BBC - 19 Tháng 3 2004 - Cập nhật 16h05 GMT |
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, đài BBC đã phỏng vấn thiếu tướng Nguyễn Chuông, nguyên tiểu đoàn trưởng thuộc đại đoàn 312 trong trận Điện Biên.
Tướng Nguyễn Chuông, sinh năm 1926, về hưu sau ba cuộc kháng chiến ở chức vụ phó tư lệnh quân khu.
Trong trận đánh vào Sài Gòn năm 1975, ông giữ chức vụ sư trưởng của quân đội miền Bắc, đánh sư đoàn 5 của quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Tuy vậy, khi nói về những người lính của phe VNCH sau cuộc chiến, ông gọi họ là ‘các anh em phía bên kia’.
Ông cũng kể cho BBC về những lần gặp với đại tướng Võ Nguyên Giáp và được giao nhiệm vụ. Ông cho rằng ông Giáp là người thiết kế cuộc tổng tiến công vào Sàigòn chứ không phải 'người khác' như người ta từng muốn nói như vậy.
Khi nói về trận Điện Biên Phủ, ông kể lại một chuyện độc đáo là chính ông bị bắt làm tù binh.
Có vẻ như ông chưa kể chuyện này cho báo chí Việt Nam trong nước. Ông chính là cấp chỉ huy cao nhất của quân Việt Nam cộng sản bị quân Pháp bắt.
Tại đó, ông có nói chuyện với một tuyên úy Pháp và được người Pháp đối xử khá tốt. Sau chiến thắng, ông bị ‘đi mấy tháng’ và bị ngưng sinh hoạt đảng cộng sản vài năm.
Ông nói có khoảng 100 binh sỹ Việt Minh bị thương đã rơi vào tay quân Pháp và sau khi được giải thoát ra thì ‘gặp rất nhiều vất vả’ từ phía chính 'quân ta'.
Lịch sử và thời cuộc
Về vai trò của Trung Quốc trong trận Điện Biên, tướng Nguyễn Chuông cho Ban Việt Ngữ BBC biết rằng 'không chỉ mỗi Trung Quốc, mà cả Liên Xô cũng giúp đỡ', nhưng quân đội Việt Nam là lực lượng tác chiến, và nhân dân lo việc hậu cần như đóng góp gạo nước.
Ông nghĩ rằng sự giúp đỡ của Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ tuy nhiều nhưng không nhiều như người Trung Quốc nghĩ.
Nhìn lại suốt cuộc đời cầm súng, ông nói có tự hào nhưng thực ra ‘chán quá, chết chóc nhiều quá’ và không muốn để các khách người Pháp bây giờ đến chụp hình ông trong bộ quân phục.
Nay tướng Nguyễn Chuông tỏ ra buồn về thời thế ‘phức tạp, phân chia giàu nghèo’ và muốn xã hội có sự công bằng. Nhưng ông nói ông chẳng còn làm được gì vì đã hết quyền chức.
Võ Nguyên Giáp và Điện Biên Phủ BBC - 25 Tháng 3 2004 - Cập nhật 14h09 GMT http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040325_generalgiap.shtml |
Sau những bài của các học giả nước ngoài về vai trò của cố vấn Trung Quốc và sự trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên nay BBC mời quý vị theo dõi phần trích lược cuốn hồi ký Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử của đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cuốn sách chúng tôi trích dẫn là của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành năm 2000 với phần chú là ‘hồi ức’ của tướng Giáp do Hữu Mai thể hiện.
Những đoạn về cố vấn Trung Quốc
Trước hết, cuốn sách nói khá ít về Trung Quốc và đoàn cố vấn do Vi Quốc Thanh chỉ đạo ở Điện Biên Phủ. Nhưng những phần nói đến họ đều được thể hiện khá tình cảm và cho thấy mối quan hệ đó kéo dài cả sau chiến thắng Điện Biên. Ở trang 396, tướng Giáp còn nhắc tới một kỷ niệm như sau:
Bốn năm sau, đồng chí Vi Quốc Thanh từ Quảng Tây sang thăm Hà Nội. Đồng chí tặng tôi bức mành trúc có con chim ưng và dòng chữ ‘Đông phong nghênh khải hoàn’ (Gió đông đón khải hoàn). Đồng chí nói: Những năm ở Việt Nam là thời kỳ hoàng kim trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi.
Trong thời gian trước khi nổ ra chiến dịch Điện Biên và suốt trong thời gian tấn công tập đoàn cứ điểm được tướng Giáp gọi là ‘con nhím thép Điện Biên’, cuốn hồi ký chỉ nhắc đến các cố vấn Trung Quốc không nhiều.
Lần thứ nhất là phần ghi trong trang 17. Sau nhiều trang dựng lại bối cảnh quốc tế được viết theo ngôn ngữ của dòng sử chính thống ở Việt Nam như cuộc chiến Triều Tiên, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các nỗ lực chống cộng của phe xâm lược và tình hình chiến sự, tương quan lực lượng hai bên tại Đông Dương, tướng Giáp có ghi:
Từ năm 1950, chúng ta vẫn giữ thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Hạ tuần tháng Chín năm 1953, các đồng chí Trung Quốc chuyển cho ta một bản kế hoạch Nava với cả bản đồ, do cơ quan tình báo của bạn thu thập được.
Đoạn sau, ông Giáp nói về kế hoạch mang tên tướng Henri Navarre, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương từ 1953.
Tiếp sau đó, ở trang 19, ông Giáp viết:
Đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, cùng tôi lên Khuổi Tát gặp Bác. Sau khi nghe trình bày kế hoạch của địch, Bác nói 'Nava rất nhiều tham vọng, muốn giành chiến thắng lớn về quân sự. Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán mà đánh'. Tôi và đồng chí Vi Quốc Thanh nhất trí mở những cuộc tấn công nhằm vào những chiến trường hiểm yếu mà địch yếu, hoặc tương đối yếu, nhưng lại không thể bỏ, là cách tốt nhất buộc địch phải phân tán lực lượng. Cũng nhất trí về hướng Lai Châu, hướng Trung và Hạ Lào.
Ở đoạn này, ông Giáp không nói rõ ai ‘trình bày kế hoạch của địch’ cho ông Hồ Chí Minh và quá trình đi đến ‘nhất trí’ là như thế nào, vai trò của ông Vi Quốc Thanh ra sao. Tuy nhiên, có thể hiểu từ đoạn văn trên rằng ông Giáp muốn nhấn mạnh vai trò định hướng quân sự chiến lược của ông Hồ Chí Minh.
Sang trang 23, tướng Giáp ghi rằng ông bàn với tướng Hoàng Văn Thái cùng các đồng chí cố vấn xây dựng một kế hoạch đánh địch ở nhiều hướng, buộc địch phải phân tán, đối phó, nhằm trước hết là phá thế tập trung binh lực của địch ở đồng bằng.
Trong phần về giai đoạn đưa quân lên Điện Biên Phủ, nhiều trang trong cuốn sách được dành để phân tích chiến lược của Henri Navarre và các nhận định của phía Việt Nam cùng các chiến dịch của các đơn vị quân Việt Nam tại các vùng khác. Không thấy tướng Giáp nhắc đến các cố vấn Trung Quốc trừ một đoạn như ở trang 47.
Ông viết: Ngày 26 tháng 11 năm 1953, cơ quan tiền phương của Bộ lên đường đi chiến dịch Tây Bắc. Đoàn Cố vấn Trung Quốc rất tán đồng chủ trương và kế hoạch tác chiến Đông Xuân của ta chọn Tây Bắc là hướng chính. Đoàn cử đồng chí Mai Gia Sinh, Cố vấn tham mưu, cùng đi với anh (Hoàng Văn) Thái.
Và mãi đến trang 107, Võ Nguyên Giáp mới nhắc đến nhân vật Vi Quốc Thanh ở một đoạn rất quan trọng. Vị đại tướng mô tả về quyết định khó nhất cuộc đời của ông là quyết định bỏ phương án đánh nhanh thắng nhanh đầu năm 1954 để chuyển sang phương án đánh chậm nhưng chắc thắng theo lời dặn của chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi đó, phía Việt Nam đã kéo pháo vào và chuẩn bị đánh dồn dập trước khi quân Pháp kịp củng cố cứ điểm Điện Biên.
Theo những gì tướng Giáp viết thì trước cuộc họp đảng ủy mặt trận sáng 26/01/1954, ông gặp ông Vi Quốc Thanh để bàn về quyết định đó. Ông viết:
Tôi bảo đồng chí Hoàng Minh Phương, trưởng đoàn phiên dịch của Bộ, chuẩn bị cho tôi gặp ngay đồng chí Trưởng đoàn Cố vấn quân sự.
Đồng chí Vi Quốc Thanh ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên trán tôi. Đồng chí ân cần hỏi thăm sức khỏe, rồi nói:
- Trận đánh sắp bắt đầu. Đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình tới lúc này ra sao ?
Tôi đáp:
- Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng đoàn. Qua theo dõi tình hình, tôi cho rằng địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định …
Tôi nói tiếp ba khó khăn lớn nhất của bộ đội, rồi kết luận:
- Nếu đánh là thất bại.
- Vậy nên xử trí thế nào ?
- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc, tiến chắc.
Sau giây lát suy nghĩ, đồng chí Vi nói:
- Tôi đồng ý với Võ Tổng. Tôi sẽ làm công tác tư tưởng với các đồng chí trong đoàn cố vấn.
- Thời gian gấp. Tôi cần họp đảng ủy để quyết định. Và đã có dự kiến cho (đại đoàn) 308 tiến về phía Luông Phabăng, bộc lộ lực lượng chừng nào, kéo quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi quân ra kéo pháo ra …
Cuộc trao đổi giữa tôi với đồng chí Vi diễn ra khoảng hơn nửa giờ. Tôi nghĩ đồng chí Vi sẽ không dễ dàng thuyết phục các chuyên gia đã cho rằng chỉ có đánh nhanh thắng nhanh mới giành thắng lợi.
Qua đoạn văn này, người đọc có thể hiểu rằng các cố vấn Trung Quốc từ trước tới đó muốn Việt Nam thực hiện phương án tấn công đánh chóng để tiêu diệt Điện Biên Phủ. Nhưng sau đó tướng Giáp không trở lại chuyện ông Vi Quốc Thanh thuyết phục các cố vấn như thế nào.
Trang 136 có thêm một đoạn nói về việc tướng Giáp tới lán chúc Tết trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc. Đó là dịp Tết Giáp Ngọ. Nhân đó, ông Vi Quốc Thanh ‘đã đề nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc gửi sang gấp những tài liệu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu mới nhất ở Triều Tiên, nhất là kinh nghiệm xây dựng trận địa và chiến đấu đường hầm, kể cả cuốn sách Thượng Cam Lĩnh, để bộ đội Việt Nam tham khảo'.
Trong phần về ‘trận địa chiến hào’ ở trang 155 có đoạn:
Các cố vấn Trung Quốc giới thiệu với chúng ta kinh nghiệm của bạn trong chiến dịch Hoài Hải. Tại đây, giải phóng quân đã đào những đường hào cho pháo và ô tô vận động dưới những trận oanh kích của địch. Các đồng chí cũng nhắc đến kinh nghiệm chiến đấu đường hầm ở Triều Tiên. Quân chí nguyện Trung Quốc và quân đội Triều Tiên đã kiến thiết những đường hầm trong lòng núi tuyệt đối an toàn trong những trận đấu pháo với địch. Anh Thái tổ chức cho một đơn vị công binh đào thực nghiệm … Tôi cùng đồng chí Cố vấn Mai Gia Sinh trực tiếp theo dõi việc đào trận địa chiến hào của một tiểu đội theo những yêu cầu Bộ chỉ huy Mặt trận đã đề ra …
Như vậy, ngoài phần nói trong đoạn sau cuốn sách về cuộc gặp của chủ tịch Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai tại Liễu Châu mà ông Giáp có tham gia để bàn về quyết định lấy vĩ tuyến nào làm đường giới tuyến tạm thời thì tướng Giáp không nhắc đến các nhân vật Trung Quốc trong suốt quá trình diễn ra trận Điện Biên Phủ nữa.
Cuốn sách của ông Võ Nguyên Giáp cũng không cho biết đoàn cố vấn Trung Quốc có bao nhiêu người, mang những quân hàm cấp gì, thời gian họ ở Việt Nam bao lâu, ở những đâu và quá trình liên lạc, trao đổi giữa họ và phía Việt Nam xảy ra như thế nào. Tóm lại, trong cuốn sách của ông Giáp, sự hiện diện của các cố vấn Trung Quốc khá là mờ nhạt. Trong tổng số 476 trang sách chỉ có chừng hơn 10 trang có những đoạn về đề tài này.
Trợ giúp quân sự
Về sự giúp đỡ quân sự của Trung Quốc, ở trang 348 có một đoạn như sau:
Trong thực tế, về đạn 105, ta chỉ có tổng số khoảng 20.000 viên, gồm 11.000 viên chiến lợi phẩm của chiến dịch Biên Giới, 3.600 viên do Trung Quốc viện trợ kèm theo pháo, 440 viên chiến lợi phẩm của mặt trận Trung Lào, và khoảng 5.000 thu được của địch thả dù tiếp tế. Sau chiến tranh Triều Tiên, đạn pháo 105 ở Trung Quốc cũng rất khan hiếm. Trước nhu cầu cấp thiết của chiến dịch, bạn đã vét đạn 105 từ các kho chuyển cho ta, nhưng 7.400 viên tháng 5 năm 1954 mới tới khi trận đánh đã kết thúc.
Có một chi tiết không chính xác trong các con số Việt Nam đưa ra về số đạn pháo 105 ly. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết là 3.600 viên nhưng trong một bài báo trên tờ Quân Đội Nhân Dân 08/01/2004, ông Hoàng Xuân Tùy, nguyên trưởng ban tuyên huấn mặt trận Điện Biên Phủ lại đưa ra con số 3000 viên. Tuy thế có thể coi đây là một sự sai lệch không đáng kể.
Từ những đoạn văn khác, người đọc có thể hiểu rằng số đạn dùng cho các loại pháo khác và cao xạ là rất lớn. Ở trang 339 có câu Pháo đói đạn trầm trọng. Có ngày mỗi khẩu pháo của ta chỉ còn hai, ba viên đạn. Trước đó, một số đơn vị cũng đã sử dụng đạn quá lãng phí. Một trung đoàn qua năm ngày kiềm chế pháo binh địch, bắn hết 2.000 viên đạn súng cối. Một tiểu đoàn phòng không 12 ly 7 trong một ngày, bắn tới 12.000 viên đạn.
Nhưng tướng Giáp không nói về nguồn gốc và con số các loại đạn khác đó cũng như vũ khí, quân trang quân dụng của bộ đội Việt Nam là tự chế tạo, do Trung Quốc, Liên Xô hay nước nào giúp đỡ.
Khi đề cập đến quá trình tiếp tế lương thực, ông Giáp viết khá kỹ về các đóng góp của nhân dân các tỉnh như Thanh Hóa và các địa phương khác nhưng không nói gì đến Trung Quốc.
Trong đoạn về chuẩn bị đánh Điện Biên, tướng Giáp có nhắc ngắn gọn đến cuộc Cải cách Ruộng đất. Ở trang 86, ông viết về Luật ruộng đất ngày 4/12/1953 'đã thổi một luồng sinh khí mới vào hàng ngũ những người kháng chiến, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ trong quân đội vốn phần lớn xuất thân từ nông dân' mà không nhắc đến quá trình Việt Nam áp dụng phương pháp đấu tố của Trung Quốc trong Cải cách Ruộng đất.
Đặc biệt hơn cả, trong cuốn sách không hề có đoạn nào tổng kết con số thương vong của quân đội Việt Minh. Cũng không rõ trong số cố vấn Trung Quốc có ai bị giết hay bị thương tại Điện Biên Phủ hay không.
Tư liệu có giá trị
Nhìn chung, cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp tập trung nhiều vào việc mô tả các trận đánh, nêu gương quyết tâm chiến thắng và tài trí của bộ đội Việt Nam.
Ông cũng để ra nhiều trang nhằm phân tích tình hình chiến sự ở Đông Dương, tác động qua lại giữa của các sự kiện ngoại giao trên thế giới và chiến trường. Tướng đã dùng nhiều tư liệu từ các nguồn của Pháp và Mỹ có được sau này để bổ sung thông tin.
Sự hấp dẫn của cuốn sách chính là ở chỗ những phần về chính trường quốc tế, hiển nhiên được diễn dịch theo quan điểm chính thống của đảng cộng sản Việt Nam, giúp cho những người đọc nếu thiếu tư liệu quốc tế ở tại Việt Nam có một cái nhìn toàn cảnh vượt ra ngoài chính trận Điện Biên Phủ.
Nhưng cuốn sách không nhắc gì đến cái nhìn từ Bắc Kinh khiến người ta có thể hiểu rằng: hoặc ông Giáp không có trong tay các tài liệu của Trung Quốc chưa giải mật, hoặc ông không muốn dùng những gì Trung Quốc đưa ra trong thời gian xung đột biên giới với Việt Nam để nói về vai trò của họ trong hai cuộc kháng chiến của Việt Nam.
Qua những đoạn nói đến ông Vi Quốc Thanh và đoàn cố vấn Trung Quốc, người đọc có thể hiểu là Trung Quốc, ít ra là vào thời gian đó, đã thông qua lời trưởng đoàn cố vấn 'biểu thị quyết tâm đồng cam cộng khổ, đem hết trí tuệ và năng lực giúp bộ đội Việt Nam giành toàn thắng' (trang 136).
Ở phần tổng kết, cuốn sách trình bày chiến thắng Điện Biên Phủ theo tinh thần các nghị quyết từ trước tới nay của đảng cộng sản Việt Nam. Đó là quan điểm rằng đây là thắng lợi của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, liên tục, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Nếu như các nhân vật Phương Tây, nhất là trong giới quân sự, thường coi tướng Giáp là kiến trúc sư của trận Điện Biên thì trong hồi ức của mình, ông Giáp khiêm tốn không viết một câu nào về bản thân ở phần kết luận.
Ông để ra nhiều trang để ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh và đảng CSVN, cho rằng mọi ông Hồ là tác giả của chiến lược chiến tranh nhân dân. Ông Giáp cũng nói rằng “những thành tựu mà quân và dân ta thu được trong kháng chiến chống Pháp đã đưa học thuyết quân sự Việt Nam lên một trình độ mới, một chất lượng mới và sức mạnh mới, trở thành học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”.
Đáng tiếc là ông Giáp không so sánh và cho người đọc biết chiến tranh nhân dân của Việt Nam khác chiến tranh nhân dân của Trung Quốc, Liên Xô hay Bắc Hàn ra sao và có sự trao đổi kinh nghiệm gì giữa các quân đội cộng sản thời đó hay không. Tuy vậy, người đọc có thể thấy rải rác trong nhiều trang sách những đoạn dùng từ ngữ rất lạ với tiếng Việt trước kháng chiến chống Pháp. Chẳng hạn các từ như công kiên, tung thâm, các đoạn nói về bộ đội đọc sách Thượng Cam Lĩnh cho thấy các kinh nghiệm chiến trường kèm theo cách nói, thậm chí ít nhiều tư duy quân sự Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên đã có có mặt ở Điện Biên Phủ. Ông Giáp cũng không nhắc đến các đợt chỉnh huấn theo mô hình Trung Quốc trong quá trình xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên, đối với các nhà nghiên cứu quân sự và sử gia nước ngoài thì đây chắc chắn là một cuốn sách có giá trị. Nó được viết qua lời kể của chính ông Giáp chứ không phải ai khác. Mà từ trước đến nay, bất kể sự trợ giúp của Liên Xô và Trung Quốc là bao nhiêu thì Điện Biên Phủ đã gắn liền với tên tuổi của ông Hồ Chí Minh và một phần nhỏ hơn là tên tuổi của ông Võ Nguyên Giáp.
Quan điểm lịch sử
Việc Trung Quốc và một số sử gia nhắc lại nhiều về vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng Điện Biên đáng ra phải được giới sử học tại Việt Nam hiện nay đón nhận chứ không nên có phản ứng quá mạnh mẽ vì cho rằng đó là một âm mưu làm giảm đi tầm vóc thắng lợi vĩ đại của Việt Nam.
Rất có thể đó là tâm lý muốn nêu cao tính dân tộc và sự độc đáo của Việt Nam trong chiến tranh. Nhưng thực tế là mọi cuộc chiến trong thế kỷ 20 đều bị quốc tế hóa nặng nề và cũng không vì thế mà người ta đánh giá kém đi tài cầm quân của các tướng lĩnh, bất kể trong trận chiến nào.
Trong thế chiến Hai, tướng de Gaulle sau khi chạy sang Anh đã hoàn toàn dựa vào sự trợ giúp của phe Đồng Minh. Quân đội Nước Pháp Tự Do của ông chỉ chiến đấu được trong sự phối hợp với Mỹ và Anh để giành lại quyền làm chủ ở nước Pháp. Nhưng không ai lấy đó làm lý do để cho rằng de Gaulle không phải là nhân vật lớn nhất của nước Pháp trong thế kỷ 20.
Nếu không có viện trợ ồ ạt từ súng đạn, tàu chiến đến binh sỹ của Hoa Kỳ thì Winston Churchill và nước Anh chắc chắn đã thua Hitler. Nhưng không ai coi đó là lý do làm giảm uy danh của Churchill và thời gian qua, người Anh trong một chương trình của BBC đã bầu chọn ông là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử Anh Quốc.
Tầm vóc của các nhà chính trị và các danh tướng còn được đánh giá qua cách họ lợi dụng các đồng minh để có lợi cho mình. Thậm chí các sử gia nay còn đang thích thú tìm ra những mưu kế mà Churchill đã dùng để kéo Hoa Kỳ vào trận tại châu Âu khi nước Anh đã gần kiệt sức. Cách trình bày lịch sử cứng nhắc hoặc đơn giản hóa, tuy dễ viết, dễ nói và dễ trình bày với một số giới nhưng xét cho cùng lại chỉ làm giảm đi tính hấp dẫn và tầm vóc của các chiến thắng với mọi góc cạnh phức tạp của nó.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cách đây 50 năm: Đỉnh cao trí tuệ Việt Nam HOÀNG XUÂN TÙY (Nguyên Trưởng ban tuyên huấn mặt trận Điện Biên Phủ) |
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cách đây 50 năm: Đỉnh cao trí tuệ Việt Nam (Số 1)
Ngày 07 tháng 01 năm 2004
http://www.quandoinhandan.org.vn/right.php?id_new=20230
Mùa hè năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã bước sang năm thứ 8. Chính phủ Pháp đã cử tướng 4 sao Na Va sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thay thế tướng Sa Lăng. Na Va là một viên tướng trẻ năng động, có tham vọng lớn. Na Va đề ra một chiến lược nhằm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống nhân dân ta trong vòng 18 tháng. Biện pháp chủ yếu của kế hoạch Na Va là tập trung một lực lượng cơ động lớn, tinh nhuệ (gồm 84 tiểu đoàn) để bình định đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ, mở rộng vùng chiếm đóng, thu hẹp vùng tự do Liên khu 5 của ta, tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực của ta, hòng đè bẹp sự kháng cự của quân ta. Đế quốc Mỹ cũng tích cực viện trợ thực dân Pháp trong âm mưu này.
Về phía ta, tuy càng đánh càng mạnh, nhưng chúng ta cần giành một thắng lợi quyết định, buộc đối phương phải đàm phán với ta, đi đến kết thúc cuộc chiến có lợi cho ta. Nhưng giành thắng lợi như thế nào, ở mặt trận nào còn phải nghiên cứu, tính toán. Cho đến đầu Đông Xuân 1953-1954, ba chữ “Điện Biên Phủ” chưa xuất hiện trong các phương án tác chiến của Bộ Tổng tham mưu. Điện Biên Phủ vẫn là một vùng tự do nằm sâu trong hậu phương Tây Bắc của ta. Nhưng chúng ta vẫn thiên về chọn chiến trường vùng núi, vì tại đó chúng ta phát huy được thế mạnh, sở trường của quân đội ta, lại hạn chế uy lực của phi cơ và pháo binh địch.
Ngày 15-10-1953, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh cho Đại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc để uy hiếp địch ở Lai Châu, Thượng Lào, vừa để thăm dò phản ứng của địch. Quả nhiên, để bảo vệ Lai Châu, Thượng Lào, ngày 20-10 và 21-11 địch cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Bộ Tổng tư lệnh liền điều tiếp Đại đoàn 308 lên Tây Bắc. Ngày 10-12, địch ở Lai Châu tháo chạy về Điện Biên Phủ, bị Đại đoàn 316 chặn đánh và tiêu diệt 14 đại đội. Hai Đại đoàn 316 và 308 được lệnh hành quân bao vây Điện Biên Phủ; địch cũng cho tăng quân tiếp viện lên Điện Biên Phủ. Trong tháng 12, số quân địch ở Điện Biên Phủ đã lên tới 10 tiểu đoàn. Thế là hình thành một tập đoàn cứ điểm lớn của địch ở Điện Biên Phủ. Hạ tuần tháng 12-1953, sau khi cân nhắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm mở chiến dịch tiêu diệt quân địch ở Điện Biên Phủ. Bộ Tổng tư lệnh liền điều động tiếp lên chiến trường Điện Biên Phủ Đại đoàn 312, Đại đoàn 351 (có pháo 105mm và pháo cao xạ 37mm) và 2 trung đoàn của Đại đoàn 304. Chủ trương đánh địch ở Điện Biên Phủ ra đời từ đó. Hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ là căn cứ vào tương quan lực lượng giữa ta và địch. Địch cho là, nếu ta giao chiến với địch ở Điện Biên Phủ, thì địch sẽ nghiền nát quân ta vì địch có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực. Ta thì cho là địch tuy có chỗ mạnh, nhưng lại có chỗ yếu cơ bản, nếu ta biết khai thác, thì ta sẽ giành thắng lợi. Thực tế diễn biến chiến trường đã chứng minh là, chúng ta đã nhận định đúng và địch đã sai lầm khi cố thủ và tăng viện ở Điện Biên Phủ để giao chiến với quân ta. Nhưng thắng lợi của ta không phải tự nhiên đến một cách dễ dàng, mà phải trải qua nhiều ngày chiến đấu gay go quyết liệt với nhiều hy sinh, mất mát không nhỏ. Đi liền với chủ trương chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến, chiến lược của ta, chủ trương mở nhiều mặt trận phụ ở các vùng miền núi trên chiến trường Đông Dương ở những nơi địch sơ hở, để phân tán lực lượng cơ động của địch từ mạnh trở thành yếu. Theo chủ trương đó, ta lần lượt mở cuộc tấn công ở Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào (phối hợp với bộ đội Pa Thét Lào) và Tây Nguyên. Trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, chiến trường trong Đông Xuân 1953-1954 trở nên sôi động.
Ngày 20-12-1953, liên quân Lào – Việt giải phóng Tha Khẹt, địch phải điều nhiều lực lượng cơ động lên giữ Sa-van-na-khét, hình thành 1 tập đoàn cứ điểm ở căn cứ Seno (Trung Lào).
Ngày 30 và 31-12-1953, liên quân Lào – Việt giải phóng toàn bộ cao nguyên Bôloven ở Hạ Lào. Địch phải tăng cường lực lượng để giữ thị xã Pakse’ ở Hạ Lào.
Ngày 26-1-1954, liên quân Việt – Lào đánh vào phòng tuyến sông Nậm Hu, giải phóng Phong Xa Lỳ và uy hiếp Luang Pra-bang ở Thượng Lào, địch lại phải tăng viện cho Luang Pra-bang ở Thượng Lào.
Ngày 5-2-1954, quân ta giải phóng thị xã Kon Tum và Bắc Tây Nguyên, địch lại phải tăng viện lên Tây Nguyên. Trong khi đó, chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ (ở Nam Bộ trong thời gian này có 2.000 đồn bốt địch bị tiêu diệt hoặc bức rút).
Như vậy là, trước khi bắt đầu cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ, quân ta đã phá một phần quan trọng trong kế hoạch Na Va, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động ra nhiều nơi, bị uy hiếp và phải thay thế lực lượng chiếm đóng bị tổn thất. Trước đây, Na Va dự định, riêng ở Bắc Bộ tập trung 44 tiểu đoàn cơ động, nhưng đến tháng 1-1954, chỉ còn 20, phần lớn các tiểu đoàn này không còn cơ động nữa mà đã phải rải ra để bảo vệ các đường giao thông quan trọng như đường số 5, đường số 18 ...
Chúng ta đã thấy: Việc chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến, chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954, là một sự thể hiện rất rõ trí tuệ Việt Nam trong chỉ đạo chiến tranh và trí tuệ đó đã thể hiện trong cả quá trình diễn biến chiến dịch, nhờ vậy quân ta mới toàn thắng. Đầu tiên, một vấn đề lớn đặt ra là đánh Điện Biên Phủ bằng cách nào? Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm lớn, kiên cố, quân đội ta lại chưa có tiền lệ đánh vào một căn cứ điểm lớn như vậy nên chưa có kinh nghiệm. Trước đây ta có đánh vào cứ điểm Nà Sản ở Sơn La, Nà Sản nhỏ hơn nhiều so với Điện Biên Phủ, nhưng ta vẫn không thành công. Vậy giải bài toán đó như thế nào? Lúc đầu cơ quan tham mưu mặt trận đề xuất phương châm tác chiến là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”: Ta tập trung binh hỏa lực có pháo 105mm yểm trợ, đánh vào trung tâm đầu não của địch ở Mường Thanh, rồi từ đó đánh tỏa ra, giải quyết cuộc chiến trong một thời gian ngắn (một ngày, hai đêm). Phương án này được đề ra trong tình hình địch mới chiếm đóng Điện Biên Phủ, binh lực chưa lớn, phòng thủ còn sơ hở. Phương án tác chiến này do bộ phận tham mưu, chính trị, hậu cần và cán bộ chỉ huy các đơn vị đi trước đến mặt trận nghiên cứu tình hình địch và chuẩn bị. Vào đầu tháng 1-1954, qua tham khảo, các cố vấn Trung Quốc cũng đồng ý với phương án này.
Ngày 12-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến mặt trận và triệu tập cuộc họp đảng ủy để quyết định phương án tác chiến. Trước sự nhất trí cao của bộ phận chuẩn bị, Đại tướng đã cùng đảng ủy thông qua kế hoạch tác chiến. Và, ngày 14-1-1954, ra mệnh lệnh chiến đấu cho các đơn vị ở mặt trận. Tuy đã quyết định, Đại tướng vẫn chưa thật yên tâm, vì từ khi ra mệnh lệnh cho đến ngày nổ súng (lúc đầu dự định 25-1 về sau hoãn một ngày đến 26-1), địch còn thay đổi, nhất là chúng tăng cường lực lượng phòng thủ. Đại tướng ra lệnh cho các đơn vị trinh sát ở mặt trận bám sát tình hình địch và thường xuyên báo cáo cho Đại tướng. Đại tướng nhớ đến lời Bác Hồ dặn lúc giao nhiệm vụ: “Trận này rất quan trọng, đã đánh là phải thắng, chưa chắc thắng thì chưa đánh”. Trong thời gian này, rõ ràng địch đã tăng viện thêm nhiều tiểu đoàn lính Âu, Phi tinh nhuệ cùng với hỏa lực, tăng cường phòng thủ các vị trí từ ngoại vi đến trung tâm Mường Thanh. Đánh nhanh, giải quyết nhanh như kế hoạch tác chiến đề ra không chắc đem lại thắng lợi. Sau nhiều đêm suy nghĩ, đêm 25-1-1954 Đại tướng hạ quyết tâm hoãn cuộc tiến công và thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời làm cán bộ chỉ huy của mình. Sáng 26-1, sau khi trao đổi thống nhất với trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc - đồng chí Vi Quốc Thanh, Đại tướng triệu tập cuộc họp đảng ủy để bàn và thống nhất trong đảng ủy. Lúc đầu, các đồng chí trong đảng ủy đều thấy nên giữ phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh vì nhiều lẽ: Bộ đội ta đang sung sức, lần đầu tiên có trọng pháo 105mm và cao xạ 37mm yểm trợ, tinh thần bộ đội đang rất hăng hái, hậu cần đã chuẩn bị đầy đủ, nếu kéo dài sẽ rất khó khăn. Nếu bây giờ hoãn tiến công thì như giội vào cán bộ và chiến sĩ một gáo nước lạnh. Đồng chí Đại tướng, đồng thời là Bí thư đảng ủy mặt trận đã phân tích đầy đủ các mặt, nhắc lại lời dặn của Bác Hồ và cuối cùng nêu câu hỏi: “Vậy có đồng chí nào chắc 100% thắng, nếu giữ phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh?”. Không ai dám trả lời. Cuối cùng, đảng ủy nhất trí hoãn cuộc tiến công, rút bộ đội ra khỏi vị trí chuẩn bị chiến đấu, để chuẩn bị thời cơ tiến công theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Lúc này là 11 giờ ngày 26-1, chỉ còn vài giờ trước khi nổ súng. Mệnh lệnh hoãn cuộc tiến công đã được phát ra và được chấp hành triệt để. Đây là một quyết định vô cùng quan trọng đã dọn đường cho chiến thắng Điện Biên Phủ, thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao của người chỉ huy và trí tuệ tuyệt vời của con người Việt Nam.
Sau gần 2 tháng, thêm một thời gian chuẩn bị, ngày 13-3-1954, bộ đội ta mới bắt đầu mở cuộc tiến công đánh vào ngọn đồi phía Bắc (cứ điểm Him Lam) và đã tiêu diệt, giành thắng lợi trận đầu giòn giã. Và cứ thế, theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chúng ta lần lượt tiêu diệt phân khu Bắc, đánh vào các ngọn đồi phía Đông uy hiếp, cô lập sân bay Mường Thanh; Sau 55 ngày đêm liên tục chiến đấu ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, địch phải đầu hàng vô điều kiện. Chúng đã điên cuồng chống trả, huy động toàn bộ lực lượng không quân ở Hà Nội có sự chi viện của không quân Mỹ ở hạm đội 7, nhưng cuối cùng đã thất bại. Chiến thắng Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc” một lần nữa đã chứng tỏ sức sáng tạo của trí tuệ Việt Nam.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cách đây 50 năm: Đỉnh cao trí tuệ Việt Nam (Số 2 và hết)
Ngày 08 tháng 01 năm 2004
http://www.quandoinhandan.org.vn/right.php?id_new=20293
Đi vào diễn biến cụ thể của cuộc chiến đấu, trí tuệ Việt Nam tiếp tục phát huy sự sáng tạo, làm cho địch hết bị bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Điện Biên Phủ là một tập đoàn gồm 49 cứ điểm, chia làm 3 phân khu: Bắc, Đông, Nam và trung tâm chỉ huy ở Mường Thanh (trên cánh đồng Mường Thanh), chiều dài 18km, rộng 6-8km, được yểm trợ bằng lực lượng pháo binh hùng hậu và phi cơ từ Hà Nội lên. Bộ đội ta có nhiều cách đánh sáng tạo mà địch không ngờ tới mới thắng được địch. Tôi xin nêu lên một số sáng tạo đó:
Về lựu pháo 105mm của ta: Lần đầu tiên xuất trận, địch cho là ta không thể đưa pháo tiếp cận vị trí địch, vì không có đường đi cho xe kéo pháo. Xung quanh Điện Biên lại toàn đồi núi bao quanh cánh đồng Mường Thanh, quân ta đã dùng sức người mở các con đường xuyên qua đồi núi để đưa pháo vào vị trí chiến đấu. Về sáng kiến này, nhạc sĩ Hoàng Vân đã sáng tác bài hát nổi tiếng “Hò kéo pháo” mà không có chiến sĩ Điện Biên nào là không thuộc.
Địch còn tính toán là, nếu ta có đưa được pháo vào vị trí tiến công, thì sau 5 phút địch sẽ làm câm họng pháo của ta, vì địch có thể tính toán nơi ta đặt pháo cách bao nhiêu xa và phản pháo lại. Nhưng địch không ngờ là chiến sĩ pháo binh của ta đã khoét hầm vào núi, đặt pháo vào đó nên khi nổ súng, địch không tài nào căn cứ vào tiếng nổ của pháo để tính chính xác cự ly đến vị trí pháo của ta mà phản kích. Cuối cùng, pháo binh của địch trở nên bất lực. Viên đại tá chỉ huy pháo binh ở Điện Biên Phủ của Pháp từng huênh hoang tuyên bố sẽ tiêu diệt pháo binh ta trong vòng vài phút, đã mất thể diện và phải tự sát ngay sau trận thất bại đầu tiên.
Đào trận địa tấn công: Cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng như ở đồng bằng, được bao quanh bởi các ngọn đồi núi. Làm thế nào để tiếp cận địch và đánh tiêu diệt chúng ngay ban ngày mà vẫn tránh được uy lực của pháo binh và phi cơ địch? Đó là một bài toán khó. Địch cũng biết như vậy cho nên địch cho là ta chưa chắc đã dám tiến công vào Điện Biên Phủ, và nếu ta tiến công là tự tự sát. Địch rải truyền đơn tại mặt trận thách thức ta đánh vào Điện Biên Phủ, nhưng Bộ chỉ huy mặt trận có một chủ trương độc đáo! Ra lệnh cho các đơn vị chiến đấu đào một hệ thống giao thông hào chi chít dài hàng trăm km, bao quanh các vị trí của địch, kèm theo các hầm tránh đạn pháo, tránh bom đạn từ máy bay, hình thành một trận địa tiến công làm giảm đến mức thấp nhất tỷ lệ thương vong của ta trong chiến đấu. Trận địa này cứ ngày một phát triển, kéo dài, bao vây các vị trí của địch, đi đến cắt đứt cả sân bay Mường Thanh. Địch điên cuồng phản kích lại, nhưng không ngăn cản được quân ta đào trận địa ngày một hoàn chỉnh. Với trận địa này, ta thường xuyên uy hiếp các vị trí của địch bằng cách bắn tỉa, đánh lấn, gây cho địch nhiều thương vong và làm cho tinh thần địch ngày càng sa sút. Đến giai đoạn cuối của chiến dịch, quân ta đã khống chế sân bay Mường Thanh, triệt đường tiếp tế, tiếp viện bằng hàng không của địch và chuẩn bị điều kiện tốt nhất để bộ đội ta tiến lên tổng công kích, đánh vào sở chỉ huy của địch, bắt sống tướng Đờ Cát.
Trận địa tiến công là một sáng tạo chiến thuật của bộ đội ta, hạn chế chỗ mạnh của địch là phi cơ, pháo binh và phát huy sức mạnh áp đảo quân địch của bộ binh ta.
Tiêu diệt đồi A1 ở phía Đông Mường Thanh: Chiều 13-3-1954, quân ta bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ. Trong đêm 13-3 rạng ngày 14-3, quân ta tiêu diệt vị trí Him Lam, bắt sống nhiều tù binh là lính Âu, Phi. Đêm 14 rạng ngày 15-3, quân ta tiến công và tiêu diệt đồi Độc Lập, một vị trí kiên cố thứ hai bảo vệ phía Bắc khu Mường Thanh. Phân khu Bắc còn vị trí bản Kéo ở phía Tây Bắc do một tiểu đoàn Thái đóng giữ. Trước sự uy hiếp của quân ta, toàn bộ đã kéo nhau ra hàng. Như vậy là, trong mấy ngày đầu của chiến dịch, quân ta đã chiến thắng giòn giã, tiêu diệt toàn bộ phân khu Bắc. Địch phản kích quyết liệt hòng chiếm lại nhưng không thành công.
Để bảo vệ trung tâm Mường Thanh, địch còn đóng ở nhiều ngọn đồi phía Đông gồm các vị trí ở các đồi A1, C1, Đ2, Đ1 và E1. Đêm 30-3, quân ta bắt đầu đợt tiến công thứ hai, đánh vào năm điểm cao phòng ngự phía Đông khu trung tâm. Đây là những vị trí địch phòng thủ rất kiên cố. Quân ta tiêu diệt được nhiều cứ điểm nhưng không dứt điểm được vì địch còn cố thủ ở 2/3 đồi A1 và một nửa ngọn đồi C1. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt cả tháng tư. Đồng thời với các trận đánh vào các ngọn đồi phía Đông, quân ta còn tiêu diệt một số vị trí bảo vệ phía Tây sân bay, tiến lên khống chế sân bay Mường Thanh. Máy bay địch không còn hạ cánh được nữa, chỉ có thể thả dù tiếp tế và tiếp viện quân, nhiều dù đã rơi vào trận địa của ta, nhưng ta vẫn không đánh chiếm được đồi A1, vì địch đã xây một hầm ngầm kiên cố ở đó. Địch còn giữ được đồi A1 là còn giữ được trung tâm chỉ huy Mường Thanh. Trước tình hình như vậy, bộ đội công binh của ta có sáng kiến đào một đường hầm xuyên đồi A1, dưới hầm ngầm của địch và đặt vào đấy một tấn thuốc nổ.
Đêm 1-5-1954, quân ta bắt đầu đợt tiến công thứ ba, tiếp tục tiêu diệt các vị trí phòng thủ còn lại của địch; và 20 giờ 45 phút ngày 6-5, quân ta mở cuộc tiến công vào đồi A1. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ với công binh, quân ta đã hoàn toàn tiêu diệt quân địch còn lại ở đồi A1 và tiến thẳng vào khu trung tâm Mường Thanh, kết thúc chiến dịch một cách vẻ vang.
Bếp Hoàng Cầm: Tại trận địa các anh nuôi quân vẫn cho bộ đội ta ăn cơm nóng, canh nóng nhờ một loại bếp đặc biệt khoét sâu trong lòng đất để đun nấu, máy bay trinh sát của địch không phát hiện được. Đó là bếp Hoàng Cầm.
Sáng tạo về hậu cần: Mặt trận Điện Biên Phủ cách xa hậu phương 500km nên việc tiếp tế đạn dược, vũ khí, lương thực cho mấy vạn quân ở tiền tuyến là một vấn đề rất lớn. Phía Pháp cho là ta không thể dùng sức người để tiếp tế cho mặt trận, vì chở được bao nhiêu gạo thì dân công ăn hết trên đường đi, mà chở bằng cơ giới thì ta không có khả năng. Địch lại thường xuyên cho máy bay oanh tạc dữ dội các trục đường giao thông từ hậu phương ra tiền tuyến. Nhưng địch không ngờ là chiến sĩ dân công của ta đã có nhiều cách khắc phục: Dùng thuyền độc mộc chở gạo xuôi các dòng suối lớn, dùng ngựa thồ và đặc biệt là dùng xe đạp thồ, mỗi xe có thể chở từ 200kg đến 300 kg gạo. Đội quân xe thồ là đơn vị lập nên chiến công lớn trong việc tiếp tế gạo cho mặt trận.
Chiến thắng Điện Biên Phủ có một tầm vóc lịch sử rất lớn. Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam và dọn đường cho cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam tiến tới thống nhất đất nước. Điện Biên Phủ cũng mở đầu cho thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. Sau Điện Biên Phủ, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới lên cao, buộc các nước đế quốc thực dân phải lần lượt trao trả độc lập về chính trị cho nhiều nước thuộc địa ở Á, Phi và Mỹ la-tinh. Vì tầm vóc to lớn đó, nên trên thế giới nhiều học giả, nhà văn, nhà báo, nhiều nhà chiến lược đều tìm hiểu vì sao Việt Nam với một quân đội nghèo nàn về vũ khí đạn dược lại chiến thắng quân đội thực dân Pháp trang bị hiện đại lại được đế quốc Mỹ viện trợ.
Na Va thì cho là, sự tăng viện to lớn và bất ngờ của Trung Quốc là một nguyên nhân thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ. Một số chính khách ở phương Tây cũng chia sẻ quan điểm này. Thực ra, viện trợ của Trung Quốc về vật chất không thể là nhân tố quyết định thắng lợi cuộc chiến ở Điện Biên Phủ. Theo tài liệu của cơ quan hậu cần mặt trận, vào thời điểm đó, Trung Quốc có viện trợ cho Việt Nam: 24 khẩu trọng pháo 105mm (đủ để trang bị cho một trung đoàn) kèm theo một cơ số đạn 3.000 viên bằng 18% số đạn pháo đã sử dụng. Còn 82% còn lại là do hậu cần của quân đội ta thu gom từ các kho chiến lợi phẩm của các trận chiến đấu thắng lợi của quân ta với quân Pháp mấy năm về trước, kể từ chiến dịch Biên Giới năm 1950 và có tính đến số đạn thu được ở mặt trận Điện Biên Phủ do địch thả dù rơi vào trận địa của ta. 1.700 tấn gạo từ Vân Nam đưa qua, bằng 6,8% nhu cầu gạo tiêu thụ ở mặt trận.
Rất tiếc là trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, có một số bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ chủ yếu dựa vào cố vấn nước ngoài và viện trợ nước ngoài, cố làm giảm nhẹ tầm vóc chiến thắng của quân và dân Việt Nam. Những cán bộ và chiến sĩ đã từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ đều hiểu hai năm rõ mười những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi Điện Biên Phủ. Đó là sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tài cầm quân của các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam ở mặt trận; tinh thần quyết chiến quyết thắng của chiến sĩ ta; sự ủng hộ chi viện tiền tuyến của hậu phương; sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế (trong đó có Trung Quốc). Các nhân tố thắng lợi kể trên đã được nhân lên gấp nhiều lần do trí tuệ tuyệt vời của con người Việt Nam. Trí tuệ này còn được tiếp tục phát huy sau này trong cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ mà đỉnh cao khác là trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
HOÀNG XUÂN TÙY (Nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Mặt trận Điện Biên Phủ)
Điện Biên Phủ vẫn là đề tài nghiên cứu BBC - 06 Tháng 5 2004 - Cập nhật 17h47 GMT - Lê Quỳnh, Ban Việt ngữ đài BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/05/040506_beyondbernardfall.shtml |
Nếu lấy tác phẩm của Bernard Fall ra đời 1966 làm mốc, đến nay đã có thêm nhiều tác phẩm viết về Điện Biên Phủ.
Còn những vấn đề gì mới mẻ mà Bernard Fall, khi viết về Điện Biên Phủ, đã chưa có điều kiện đề cập ? Pierre Asselin, giáo sư chuyên ngành Việt Nam, tại đại học Hawaii cho biết ý kiến của ông:
“Vấn đề đầu tiên mà nhiều người từ lâu tìm cách trả lời là vì sao người Pháp lại sai lầm quá mức trong đánh giá khả năng của Việt Nam. Câu hỏi thứ hai là vai trò của lực lượng bên ngoài, của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chúng ta vẫn chưa biết rõ mức độ liên can của Trung Quốc cũng như thật sự thì Hoa Kỳ định làm gì tại Điện Biên Phủ để cứu người Pháp.”
Thận trọng với Trung Quốc
Pierre Journoud là nghiên cứu gia thuộc trung tâm nghiên cứu lịch sử quốc phòng (CEHD) của Pháp. Ông thuộc ban tổ chức hội thảo “Điện Biên Phủ - Lịch sử và ký ức”, tổ chức tại Paris cuối năm 2003:
| Đến ngày hôm nay các bên vẫn không đồng ý với nhau về những gì đã xảy ra trong tiến trình quyết định các trận đánh. |
| Pierre Journoud, CEHD |
Giáo sư Christopher Goscha, ĐH Lyon II, là tác giả bài viết “Building Force: Asian Origins of 20th Century Military Science in Vietnam, (1905-1954)” (in trong Journal of Southeast Asean Studies, số tháng 10-2003). Ông cho rằng cần phải thận trọng khi đọc tư liệu từ phía Trung Quốc:
| Sự giúp đỡ của Trung Quốc rất quan trọng, nhưng nó không phải là cây gậy thần giúp đánh bại Pháp. |
| Christopher Goscha, ĐH Lyon II |
"Để tạo được sáu sư đoàn hoạt động trên hai phần ba diện tích Đông Dương, nó chứng tỏ Việt Nam có khả năng phát triển một đội quân hiện đại. Quả thật, sự giúp đỡ của Trung Quốc rất quan trọng, nhưng nó không phải là cây gậy thần giúp đánh bại Pháp. Và mặt khác, quân Pháp lúc ấy không nhất thiết là gặp thất bại đương nhiên. Vì vậy rất cần phải thận trọng.”
Tương lai
Theo Christopher Goscha, mặc dù Việt Nam đã có rất nhiều sách xuất bản về Điện Biên Phủ, nhưng so với Nga hay Trung Quốc, số tài liệu gốc được giải mật của Việt Nam chưa nhiều:
“Người Việt Nam tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay cần phải công bố thêm nhiều văn bản của phía họ. Tôi biết năm nay họ đã cho xuất bản thêm tư liệu, nhưng nếu họ muốn thế giới biết câu chuyện từ góc độ của Việt Nam, họ phải ngừng xuất bản các tác phẩm theo xu hướng ‘chúng ta nhất định thắng lợi’, v.v. Họ cần công bố các tài liệu nội bộ."
“Đó có phải là tội ác gì đâu nếu nói người Trung Quốc đã làm thế này, giúp thế kia. Mọi cuộc chiến tranh đều có các khía cạnh ngoại viện như vậy. Tôi nghĩ một số người Việt Nam không hiểu điều đó vì họ quá dân tộc chủ nghĩa. Nhưng cái vấn đề chính ở đây là nếu Việt Nam không tiết lộ các tư liệu nội bộ, thì các văn bản của Nga hay hồi ký của Trung Quốc sẽ nói thay họ.”
Trong mấy tháng qua, đã có ít nhất ba hội thảo lớn về Điện Biên Phủ diễn ra ở Việt Nam và Trung Quốc. Những người quan tâm đến tính chân thực của lịch sử sẽ còn hi vọng được đọc thêm nhiều tư liệu mới về sự kiện có tác động lớn đến lịch sử Việt Nam và quốc tế này.
Bernard Fall - Chân dung một trí thức BBC - 07 Tháng 5 2004 - Cập nhật 10h43 GMT - Lê Quỳnh, Ban Việt ngữ đài BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/05/040505_bernardfall.shtml |
Năm nay tại Việt Nam có xuất bản nhiều tác phẩm mới về Điện Biên Phủ.
Trong những quyển sách đáng chú nhất có tác phẩm: Hell in a Very Small Place: The Siege of Dien Bien Phu (bản dịch tiếng Việt là Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục) của tác giả Bernard Fall (1926-1967), một trí thức người Pháp.
Quyển sách xuất bản lần đầu bằng tiếng Anh năm 1966, nhưng cho đến nay vẫn được xem là một tác phẩm kinh điển.
Nhà văn Hữu Mai, tác giả của nhiều tác phẩm về Điện Biên Phủ và là người thực hiện bộ ba hồi ký của đại tướng Võ Nguyên Giáp, đánh giá đây là công trình cân bằng nhất về Điện Biên Phủ do một người phương Tây viết ra:
"Ông Bernard Fall đã dành nhiều thời gian nghiên cứu rất tỉ mỉ. Thái độ của ông trung thực, tìm hiểu vấn đề đến tận cùng."
"Trong quyển sách với cái nhìn khách quan, ông ấy dựng lại cả cuộc chiến ở phía bên kia. Cả phía Việt Nam ông cũng tìm hiểu, nhưng đặc biệt những chân dung phía Pháp được ông dựng lại rất kỹ và nghiêm túc. Đó là bổ sung tuyệt vời cho công trình chúng tôi nghiên cứu về Điện Biên Phủ."
Tác phẩm quan trọng
Cuộc đời của Bernard Fall là câu chuyện về một trí thức suốt đời cố gắng duy trì quan điểm độc lập của mình giữa môi trường chính trị.
Cho đến trước cái chết bất ngờ của ông năm 1967, Bernard Fall có lẽ là nhà nghiên cứu Việt Nam có ảnh hưởng lớn nhất tại Mỹ.
Ngoại trưởng Colin Powell, người từng có thời gian tham chiến ở Việt Nam, trong một cuộc trả lời phỏng vấn đã nói: “Chúng tôi đều đọc Bernard Fall trong chương trình huấn luyện. Có lẽ chúng tôi lẽ ra đã nên đọc Bernard Fall kỹ hơn, đặc biệt là những người nắm giữ vị trí cao, bởi vì ông ấy nói rõ và lẽ ra chúng tôi phải nhận thức được rằng cuộc chiến Việt Nam liên quan đến tinh thần dân tộc và tự quyết hơn là ý thức hệ cộng sản.”
Đó là nhận xét về vai trò của Bernard Fall trong cuộc dính líu của Mỹ tại Việt Nam. Quay trở lại thời kì Điện Biên Phủ, năm 1953, Bernard Fall, khi đó 27 tuổi, lần đầu tiên đến Việt Nam, trải qua sáu tháng ở đó để làm luận án tiến sĩ về Việt Minh.
Từ năm 1954 cho đến năm 1967, Bernard Fall xuất bản sáu cuốn sách giúp đưa ông trở thành chuyên gia hàng đầu ở Mỹ về Việt Nam.
Tác phẩm ‘‘Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục” của ông xuất bản năm 1966. Christopher Goscha, giáo sư chuyên ngành Việt Nam tại đại học Lyon II, nhận xét:
"Bản thân Bernard Fall từng tham gia phong trào kháng chiến của Pháp. Ông ấy là người Do Thái, có bố mẹ bị Đức quốc xã giết. Nên ông hiểu chiến đấu trong một phong trào kháng chiến dân tộc là như thế nào. Nên Bernard chắc chắn có sự tôn trọng dành cho Việt Minh và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quyển sách “Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục”, tôi nghĩ ông ấy đã rất công tâm với Việt Minh."
"Ông ấy cố gắng khách quan ở mức độ tối đa có thể. Điều đó khiến Bernard Fall đôi khi gặp rắc rối với những người không thích nghe điều ông ấy nói, dù đó là người Pháp, Mỹ hay những người cộng sản Việt Nam."
Một trí thức độc lập
Khi nói đến sự khách quan, cần ghi nhận Bernard Fall đã bày tỏ sự thông cảm cho cả phía những người lính Pháp chiến đấu tại Điện Biên Phủ lúc ấy.
Về quan điểm chính trị, Bernard Fall, như nhiều người thời bấy giờ, tin vào lý thuyết Domino. Sau Điện Biên Phủ, ông không phản đối việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam.
Mức độ quan tâm ông dành cho Việt Minh và chiến tranh cách mạng cũng nhiều như việc ông quan tâm làm sao đánh bại họ.
Dù vậy, Bernard Fall dành sự thừa nhận chính đáng sức mạnh của đối phương, như đã thể hiện qua “Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục” và quyển “Dãy phố buồn hiu”.
Mặt khác, ông cũng là một trong những người đầu tiên chỉ trích việc đối xử với các trí thức trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm 1956.
Có thể nói duy trì sự khách quan là một sự ám ảnh trong cuộc đời Bernard Fall. Pierre Asselin, giáo sư nghiên cứu chính trị Việt Nam tại đại học Hawaii, nói:
"Quyển sách nắm bắt sâu sắc không khí ở Việt Nam 1953-1954, khi xảy ra trận đánh và cũng trùng hợp với sự khởi đầu sự tham dự của Mỹ ở Việt Nam. Trong quyển sách, Bernard Fall không chỉ phản ánh cách tiếp cận của phương Tây ở Đông Dương mà còn phản ánh cả cái nhìn của người Việt vào lúc đa số các phóng viên phương Tây không hiểu được sự phức tạp của tình hình."
Khi sự can dự của Mỹ tại Việt Nam tăng lên, Bernard Fall ngày càng trở nên chỉ trích chính sách của Mỹ.
Sự thay đổi này có thể bắt đầu trong chuyến đi đến Hà Nội năm 1962, khi ông lần đầu tiên tìm hiểu phía 'bên kia' và phỏng vấn ông Hồ Chí Minh.
Năm 1967, Bernard Fall tử nạn khi đạp phải mìn trong lần đi cùng với thủy quân lục chiến Mỹ thị sát ở Việt Nam. Khi đó ông mới 40 tuổi.
Đã có một số đồn đoán về nguyên nhân cái chết của ông.
Trong một bài báo mới xuất bản tuần rồi ở Việt Nam, người viết ngụ ý Bernard Fall đã chết có thể vì sự chỉ trích quân Mỹ tại Việt Nam của ông.
Nhưng theo giáo sư Christopher Goscha, đến nay chưa có bằng chứng gì xác thực:
"Người ta phải thận trọng, vì nó cũng tương tự như câu hỏi ai đã giết tướng Nguyễn Bình năm 1951. Đã có đủ tin đồn về những tranh chấp nội bộ thời kì ấy, và bây giờ người ta có bằng chứng để nói là người Pháp đã giết ông ta. Tướng Nguyễn Bình được nói là người theo chủ nghĩa dân tộc, và ở một mức độ tương đối, nó cũng là điều có thể áp dụng cho Bernard Fall."
"Tôi đã nghe nhiều xì xầm về cái chết của Bernard Fall, nhưng đến bây giờ chưa có gì xác nhận cả. Tôi sẽ không nói về nó chừng nào chúng ta còn chưa có đủ bằng chứng."
Ý nghĩa của Điện Biên Phủ BBC - 04 Tháng 5 2004 - Cập nhật 12h55 GMT http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/05/040504_dienbienphu.shtml |
7 tháng 5 này sẽ là ngày kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ kết thúc.Nhưng thật ra đối với cuộc chiến Việt Pháp thì chiến thắng đó có phải là quyết định hay không ? Có so sánh được trận này với trận Mậu Thân không ? Và bài học Điện Biên Phủ với chiến tranh Iraq là gì ?
Quyết định chiến đấu ở Điện Biên Phủ là của tướng Henri Navarre, người đã thay thế tướng De Lattre, với mục đích là để buộc Việt Minh phải ra mặt chiến đấu và qua đó đánh bại họ một lần quyết định.
Năm trăm cây số phía Tây Bắc Hà Nội, Điện Biên Phủ được phía Pháp coi là một địa điểm lý tưởng. Cuối tháng 11 năm 1953, quân đội Pháp bắt đầu tập trung ở vùng này.
Trận đánh khởi sự vào 13 tháng 3 và kéo dài cho đến khi những binh sĩ Pháp mệt mỏi kéo cờ trắng đầu hàng vào ngày 7 tháng 5. Nhưng thật ra đối với cuộc chiến Việt Pháp thì chiến thắng đó có phải là quyết định hay không ? Đài BBC đã đặt câu hỏi đó cho Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng và được ông trả lời:
Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Chiến thắng Điện Biên Phủ quả là một chiến thắng lớn, nhưng đứng về phương diện quân sự mà nói thì nó chưa phải là một chiến thắng quyết định, bởi vì ngay trong trường hợp khi thất bại ở Điện Biên Phủ quân đội Pháp chỉ thiệt hại khoảng 5 đến 10 phần trăm lực lượng thôi, trong khi đó Việt Minh cũng bị thiệt hai khá nặng. Thành ra ngay sau Điện Biên Phủ ít lâu, các trận đánh ở miền Bắc, vốn là chiến trường chính đều lắng đọng, vì cả hai bên đều phải tập trung lực lượng lại. Nhưng trên một phương diện khác, chiến thắng Điện Biên Phủ có tính quyết định trong cuộc chiến Việt Pháp, bởi vì ảnh hưởng tâm lý đối với các chính khách của Pháp. Khi thất bại ở Điện Biên Phủ xảy ra trong lúc đang họp Hội nghị Genève nó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc Pháp muốn rút lui ra khỏi Đông Dương bằng mọi giá.
BBC: Đã có so sánh giữa trận Mậu Thân với trận Điện Biên, vậy ảnh hưởng của Mậu Thân đối với chiến tranh Việt Nam lần thứ hai giống hay khác Điện Biên ở chỗ nào ?
Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Đứng về phương diện quân sự thì Mậu Thân và Điện Biên khác nhau rất nhiều. Cần phải nhớ Điện Biên Phủ là một thất bại của quân đội Pháp. Quân đội Pháp đã bị thua và mất đi khoảng gần hai chục ngàn binh sĩ, toàn là binh sĩ thiện chiến. Đó là một chiến thắng quân sự rõ ràng cho lực lượng Việt Minh. Ngược lại Mậu Thân là một thất bại của phía Cộng sản Việt Nam. Những thiệt hại của Cộng sản Việt Nam trong trận Mậu Thân rất nặng. Gần như là toàn bộ lực lượng du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị tiêu hủy trong trận đó. Nhưng về một phương diện khác thì có thể nói Mậu Thân và Điện Biên Phủ giống nhau, đó là ảnh hưởng tâm lý của trận đánh. Đối với Điện Biên Phủ thì trận này đã ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ Pháp, và cuối cùng chính phủ Pháp rút ra khỏi Việt Nam bằng mọi giá. Mậu Thân cũng vậy. Mậu Thân đã đánh mạnh vào tâm lý của dân chúng Mỹ, khiến cho các chính quyền Mỹ về sau này không thể ở lại Việt Nam được.
BBC: Tức là một trận thì thua, một trận thì thắng nhưng kết quả giống nhau.
Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Vâng, kết quả về tâm lý thì giống nhau.
BBC: Bây giờ nhìn lại 50 năm Điện Biên Phủ và 36 năm của Mậu Thân thì chúng ta có thể đi đến kết luận nào ?
Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Kết luận đối với Pháp và Mỹ thì trong cả hai trường hợp vấn đề là phải làm sao để cho dân chúng thấy được rõ để mà hy sinh cho một cuộc chiến, nếu không thì ảnh hưởng sẽ làm cho chính quyền không thể tiếp tục được cuộc chiến. Về phía Việt Nam thì hai trận này cho thấy rõ là những người lãnh đạo cuộc chiến của Hà Nội đã hiểu rõ cái yếu tố quan trọng là tâm lý còn mạnh hơn là quân sự nữa.
BBC: Và đó là một bài học mà có lẽ có ý nghĩa đối với cuộc chiến Iraq hiện nay phải không ?
Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Đúng vậy.
Điện Biên Phủ - Chiến thắng lịch sử BBC - 07 Tháng 5 2004 - Cập nhật 10h39 GMT - Tom Fawthrop, Phóng viên BBC ở Hà Nội http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/05/040507_bbcdienbienphu.shtml |
Cuộc tranh đấu giành độc lập của Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp đạt đến đỉnh điểm trong một trong các trận đánh hùng tráng nhất thế kỷ - cuộc bao vây 56 ngày ở Điện Biên Phủ.
Lực lượng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh, thua Pháp về hỏa lực, nhưng đã chiến thắng bất chấp các khó khăn.
Vào ngày 7-5, Việt Nam chào mừng lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng đã giúp chấm dứt chế độ cai trị của Pháp ở toàn Đông Dương.
Giáo sư Trần Quốc Vượng khi đó còn là một học sinh thành viên của nhóm vận tải đưa gạo từ các tỉnh lên hỗ trợ chiến sĩ nơi chiến trường.
Sử gia và là nhà khảo cổ học 71 tuổi nói với đài BBC: “Điện Biên Phủ là điểm bước ngoặt trong lịch sử. Đó không chỉ là thắng lợi cho Việt Nam, mà còn được chào đón tại nhiều thuộc địa khác, đặc biệt ở Algeria, Marốc và Tunisia.”
“Cái tên đã trở thành ẩn dụ cho một chiến thắng vĩ đại trong các ngôn ngữ khác.”
Huyền thoại sống
Vị tướng vạch ra kế hoạch đánh bại 21 tiểu đoàn Pháp, đại tướng Võ Nguyên Giáp, là một huyền thoại sống.
Năm nay đã 92 tuổi, ông vẫn thu hút người nghe với sự miêu tả rành mạch về chiến lược quân sự của ông, và các chi tiết chiến trường.
Dù đã yếu nhiều, nhưng ông vẫn có trí nhớ phi thường.
Tướng Giáp, người khởi đầu là một người viết báo và giáo viên sử học, đã trở thành cánh tay phải của ông Hồ Chí Minh khi ông sáng lập Việt Minh và là nhà hoạch định quân sự vạch kế hoạch đánh bại quân Pháp, và sau đó, quân Mỹ.
Trong buổi họp báo hai giờ đồng hồ, ông tự hào hồi tưởng: “Đó là lần đầu tiên một thế lực thực dân bị đánh bại.”
Ông nói Việt Nam “đã dẫn đầu làn sóng các cuộc chiến giành độc lập giải phóng các thuộc địa của các đế chế châu Âu sau Thế chiến II.”
“Việt Nam chứng tỏ rằng nếu một quốc gia quyết tâm đứng lên, quốc gia ấy rất mạnh mẽ; yếu có thể thắng mạnh nếu anh có chính nghĩa và nhân tính.”
Khi được hỏi ai là vị tướng giỏi nhất của ông, tướng Giáp trả lời: “Vị tướng giỏi nhất của tôi là nhân dân.”
Đối với nhiều người thuộc thế hệ trẻ, Điện Biên Phủ cũng có một vị trí đặc biệt với họ.
Thư Lang, một nhà văn 39 tuổi ở Sài Gòn, nói: “Điện Biên Phủ tượng trưng cho sự thống nhất và độc lập của nhân dân Việt Nam.”
“Nhân dân chúng tôi đều có cảm xúc sâu sắc về sự kiện này.”
Hy sinh anh dũng
Tại nhiều gia đình, sự trải nghiệm qua sự kiện đã đem nhiều thế hệ lại gần nhau.
Một thư ký 26 tuổi giải thích: “Ông tôi chiến đấu chống quân Pháp, cha tôi chống Mỹ, và chúng tôi đều xem phim về Điện Biên Phủ trên truyền hình cùng với nhau.”
Những hy sinh phi thường của ngườI Việt Nam, cả trong cuộc chiến chống Pháp và Mỹ, không liên quan mấy đến niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản. Đó là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng:
“Chính chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước đã vẫy gọi chúng tôi, và chúng tôi luôn xem ông Hồ Chí Minh là một nhà dân tộc hơn là một người cộng sản. Đó là cuộc chiến chống thực dân để giành độc lập.”
Về chủ đề Iraq, tướng Giáp thận trọng, nhưng đưa ra thông điệp cảnh báo chung cho Hoa Kỳ rằng “bất kỳ lực lượng nào áp đặt ý chí của họ lên các quốc gia khác nhất định sẽ thất bại.”
“Mọi quốc gia chiến đấu cho các quyền chính đáng và chủ quyền của họ nhất định thắng lợi.”
Quay về hiện tại
Điện Biên Phủ cũng là dịp để suy tư về cuộc sống đương thời.
Giáo sư Vượng và nhiều cựu chiến binh khác thất vọng vì nhiều xu hướng hiện nay trong xã hội.
Theo họ, những giấc mơ của ông Hồ Chí Minh về một xã hội bình đẳng đã bị bỏ qua nhường chỗ cho phát triển thị trường.
Xu hướng này đã làm gia tăng một lớp người giàu mới mà họ gọi là ‘các tư bản đỏ.’
Giáo sư Trần Quốc Vượng nói: “Bây giờ thế hệ trẻ chỉ nghĩ đến việc làm giàu.”
Nhà văn Thư Lang thì nói sẽ không đúng nếu tổng quát hóa về khoảng cách thế hệ tại Việt Nam:
“Quả là một số người trẻ chỉ muốn kiếm tiền, nhưng Điện Biên Phủ vẫn sống trong lòng mỗi chúng tôi. Nhưng khát vọng tiềm ẩn vẫn còn ngủ yên – vấn đề là liệu chính phủ có làm đủ để khích động cảm xúc này không.”
Đánh thức tinh thần Điện Biên Phủ để làm phấn khởi xã hội hiện nay tại Việt Nam là chủ đề lặp đi lặp lại trong các diễn văn của tướng Giáp.
Nhưng từ cái nhìn của nhiều trí thức và cựu chiến binh, điều này phụ thuộc vào việc làm tái sinh sự quan tâm dành cho công bằng xã hội và giải quyết khoảng cách giàu-nghèo ngày càng tăng.