Thực trạng nghiên cứu biển Việt Nam

Mạng Ý Kiến: Mối quan tâm hàng đầu của dân tộc ta hiện nay là bang giao Việt-Trung: Phải chăng Hà nội đã thần phục Trung quốc ?, phải chăng nhóm cầm quyền đã nhượng đất, nhượng biển cho Trung quốc (thông qua các hiệp ước biên giới) ?. Do đó, chúng tôi mạn phép trích đăng dưới đây các bài viết trên báo Lao Động về "Thực trạng nghiên cứu biển Việt Nam". Có hai câu hỏi cần đặt ra: 1) Khi các chuyên viên khảng định "Vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam rộng hơn một triệu kilômét vuông, lớn hơn gấp 3 lần so với lãnh thổ", là dựa trên quan điểm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam; phải chăng họ không biết rằng hiện nay Hoàng Sa đã bị Trung quốc chiếm đoạt từ 1974 và Trường Sa đã, đang bị Trung quốc lấn chiếm ?, 2) Vì sao bản đồ biển Việt Nam chưa được chính các chuyên gia trong nước xác định nhưng Hà nội đã nhắm mắt ký hiệp ước về vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá "chung" ?. Dưới đây là nguyên văn các bài viết.

Lao động số 259 Ngày 29.09.2002
Lên mạng lúc 09:51:44 ngày 28.09.2002

Thực trạng nghiên cứu biển Việt Nam
20 năm chưa vẽ xong bản đồ...

Nếu những người Châu Âu chỉ gọi đơn giản là the country (người Anh) hay le pays (người Pháp) đều hàm nghĩa một vùng đất, và người Hán thì gọi là quốc (chiết tự là một ông vua ở trong một vùng đất có cương vực), thì riêng người Việt lại gọi quốc gia mình là nước. Theo GS.TS người Mỹ Keith W. Taylor, ý tưởng về một vị thần linh từ nước (biển) lên, xây dựng và làm hình thành cư dân Việt thời tiền sử là một ám thị sớm nhất. Ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Sơn, trên trống đồng, với chim biển và các loài thuỷ tộc bao quanh những con thuyền chở chiến sĩ. Cổ tích là thế còn hiện tại thì người Việt dường như chững lại trước biển lớn. Nghiên cứu biển VN vẫn tụt hậu hàng chục năm so với thế giới. 20 năm qua, mỗi năm được đầu tư khoảng 10 tỉ đồng, với bao nhiêu đề tài, nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu. Và ngư dân vẫn phải ra khơi kiếm cá theo kiểu: "Nghe hơi nồi chõ", nghĩa là cứ mua máy dò cá của Trung Quốc rồi kiếm đâu thì kiếm. Các bài toán về khai thác cá, về khí hậu, về tài nguyên..., các nhà hải dương học vẫn chưa giải được. Một tấm bản đồ tổng quan, chi tiết về biển VN vẫn chưa lập ra được. Và một khi chưa có trong tay tấm bản đồ ấy thì hãy khoan nói đến chuyện làm ăn lớn ở biển Đông, VN vẫn chỉ là nước ở bên cạnh biển. Đó là những vấn đề bước đầu được đặt ra trong chuyên đề này.

LĐCT


Nghiên cứu biển VN tụt hậu hàng chục năm

Lao động số 259 Ngày 29.09.2002
Lên mạng lúc 10:06:07 ngày 28.09.2002

Nghiên cứu biển VN tụt hậu hàng chục năm

Bảo Chân

Vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam rộng hơn một triệu kilômét vuông, lớn hơn gấp 3 lần so với lãnh thổ. Trong đó bờ biển dài hơn 3.260km, có hơn 3.000 hòn đảo mà nổi tiếng là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tuy vậy có một thực tế đáng buồn là dù Nghị quyết của Bộ Chính trị đã nêu rõ: "Phải xây dựng Việt Nam thành một quốc gia biển mạnh", song nghiên cứu biển của VN vẫn sơ lược, manh mún và tụt hậu hàng chục năm so với thế giới.

Chương trình điều tra tổng hợp cấp nhà nước đầu tiên được triển khai từ năm 1978-1980, do khả năng và kinh nghiệm hạn chế nên chỉ tiến hành trong phạm vi hẹp ở vùng biển ven bờ Thuận Hải-Minh Hải. Chương trình điều tra tổng hợp giai đoạn 1981-1985 và 1986-1990 được tổ chức trên phạm vi toàn vùng biển và thềm lục địa đã cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về các đặc trưng điều kiện tự nhiên và tiềm năng tài nguyên biển nhưng mới chỉ dừng ở mức khái quát. Sau đó là các chương trình giai đoạn 1991-1995, 1995-2000. Chương trình "Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển"(KC.09 2001-2005) đã triển khai 14 đề tài nhằm đạt được 4 mục tiêu là xây dựng hệ thống dữ liệu biển quốc gia một cách toàn diện, để phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển, hải đảo; nghiên cứu ứng dụng các công nghệ biển để chẩn đoán và dự báo các trường khí hậu, thuỷ văn biển và xác lập hệ thống các chỉ tiêu kỹ thuật phục vụ việc thiết kế-xây dựng các công trình kinh tế-quốc phòng trên biển.

Tuy nhiên đáng buồn là mặc dù điều tra nghiên cứu biển VN đã có những bước phát triển song đều ở quy mô nhỏ, quản lý thiếu chặt chẽ nên dẫn đến trùng lặp giữa các bộ, ngành... Kết quả còn sơ lược, độ tin cậy thấp, tiến độ chậm, tụt hậu hàng chục năm so với các nước tiên tiến trên thế giới.

PGS,TS Phạm Huy Tiến - Chủ nhiệm Chương trình KC.09 - cho biết: "Cho đến nay chúng ta vẫn đang thiếu những thông số cơ bản, đủ tin cậy về các đặc trưng điều kiện tự nhiên, chưa đánh giá được đầy đủ, chính xác tiềm năng các tài nguyên thiên nhiên chủ yếu trên phạm vi toàn vùng biển chủ quyền của đất nước, nhất là vùng xa bờ, vùng sâu. Nghiên cứu cơ bản và dự báo biến động của quá trình khí tượng thuỷ văn, động lực, địa hình, địa chất, sinh thái môi trường biển và nguồn lợi hải sản... chỉ mới bắt đầu".

Quá ít chuyển giao công nghệ!

Gần 20 năm qua, các lĩnh vực công nghệ biển đã được ứng dụng chủ yếu ở các ngành dầu khí, GTVT, hải sản, xây dựng, thuỷ lợi, trắc địa, đo đạc bản đồ, địa chất, hải quân. Nhưng, so với yêu cầu thực tiễn thì họat động triển khai công nghệ biển của nước ta còn hạn chế. Trong 5 năm gần đây, mỗi năm Nhà nước đầu tư khoảng 10 tỉ đồng cho hơn 100 đề tài NCKH nhưng chỉ có khoảng 40% được nghiệm thu và số chuyển giao công nghệ đến thực tiễn sản xuất chỉ đếm trên đầu ngón tay, đó là chưa nói đến những dự án thất bại ngay sau khi chuyển giao. Chẳng hạn Chương trình đánh bắt xa bờ triển khai từ năm 1997 đến nay kém hiệu quả có nguyên nhân do ngành khoa học biển chưa làm chủ được các qui trình công nghệ khai thác hải sản. PGS, TS Đỗ Văn Khương - Viện trưởng Viện Nghiên cứu hải sản - cho biết: "Các nhà hải dương học chưa giải được bài toán dự báo cá khai thác, đáp ứng các câu hỏi của ngư dân là đánh cá ở đâu, vào lúc nào, bằng phương tiện gì, và quy mô khai thác như thế nào?". Như thế thì đủ biết ngư dân ta vẫn đánh cá theo kiểu "mạnh ai nấy dò" hay là "nghe hơi nồi chõ" mà thôi...

Không có chuyên gia tầm cỡ quốc tế

Cho tới những năm 1970 hoạt động điều tra nghiên cứu biển của nước ta về cơ bản chưa vượt qua khỏi trình độ điều tra nghiên cứu thống kê mô tả cổ điển. Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và sau này là các nước Nga, Pháp, Đức, Mỹ... ta mới có được tàu nghiên cứu và một số máy móc, thiết bị hiện đại để tiến hành khảo sát ở những vùng nước đặc thù. Các phương pháp kỹ thuật hiện đại chỉ mới được sử dụng khoảng 5-10 năm gần đây.

Hiện cả nước có hàng chục đơn vị, cơ quan, viện, trường tham gia nghiên cứu HDH nhưng số lượng chuyên gia còn ít, phân tán, tự phát. PGS.TS Phạm Huy Tiến lo lắng: "Lớp cán bộ đào tạo từ những năm 60-70 hiện sắp đến tuổi nghỉ hưu nhưng lớp cán bộ trẻ kế cận còn chưa kịp bổ sung. Chúng ta thiếu những cán bộ trình độ cao có uy tín quốc tế để có thể tiến hành những nghiên cứu lớn ở quy mô khu vực, toàn cầu...".

Phải ra được bản đồ!

Hiện KHCN biển thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện đại và ngày càng được thúc đẩy bởi xu thế khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường biển. Các nhà khoa học nhận định rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương. Các cường quốc trên thế giới đều tập trung xây dựng tiềm lực và đề xuất các chương trình nghiên cứu, quan trắc phục vụ khai thác biển Đông.

Trong bối cảnh chiến lược phát triển KHCN biển Việt Nam vẫn còn là dự thảo. PGS.TS Nguyễn Tác An - Viện trưởng Viện HDH Nha Trang - cho rằng: "Chúng ta nên đầu tư tập trung để tránh được sự trùng lặp trong nghiên cứu, tránh tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu dữ liệu hiện nay để tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh tranh cao". Và còn có ích rõ ràng cho quốc kế dân sinh nữa!

Từ thực trạng nghiên cứu biển chậm lụt của nước ta, thiết tưởng nhiệm vụ chiến lược cần phải ưu tiên số 1 là nhanh chóng hoàn thành công tác điều tra cơ bản. Trong vòng 5-10 năm tới phải có được sơ sở dữ liệu đủ tin cậy về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên để hoàn chỉnh bản đồ tổng quan vùng biển chủ quyền và thềm lục địa của nước ta. Một khi chưa có trong tay tấm bản đồ quan trọng ấy thì hãy khoan mộng làm ăn lớn ở biển Đông.


Bao giờ có trung tâm dữ liệu biển quốc gia?

Lao động số 259 Ngày 29.09.2002
Lên mạng lúc 09:55:07 ngày 28.09.2002

Bao giờ có trung tâm dữ liệu biển quốc gia?

Đến giờ mới thảo luận việc thành lập Trung tâm Dữ liệu biển quốc gia (TTDLB) là quá muộn. Các chuyên gia đầu ngành có mặt tại hội thảo khoa học Chương trình Biển (KC.09) và Hội nghị Biển Đông 2002 diễn ra tại Nha Trang đều khẳng định như vậy.

GS.TS Đặng Ngọc Thanh - Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia: Hiện nay 60 nước có biển trên thế giới đã xây dựng được TTDLB và được công nhận như một tổ chức quốc gia có chức năng thu nhận, xử lý, lưu giữ và phổ biến dữ liệu hải dương học. Trung Quốc là nước sát bên ta đã thành lập Trung tâm Thông tin và Dữ liệu hải dương quốc gia từ năm 1958. Hiện nay nước ta đã có được một khối lượng lớn dữ liệu về các điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển. Theo kết quả kiểm kê chưa đầy đủ, chỉ riêng 9 cơ quan nghiên cứu biển cho tới năm 1997 đã thực hiện 1.305 chuyến khảo sát biển lớn nhỏ với 60.000 trạm, 85 yếu tố trong vùng biển Việt Nam. Nhà nước đã đầu tư nhiều kinh phí cho công tác điều tra, nghiên cứu KHCN biển, đương nhiên kết quả của các chương trình điều tra, nghiên cứu này là tài sản quốc gia. Thế nhưng do chưa có chính sách thống nhất quản lý nên các cơ quan nghiên cứu đều chỉ lưu trữ riêng và sở hữu cục bộ...

PGS.TS Võ Văn Lành - Viện HDH Nha Trang: Thành lập TTDLB là yêu cầu khách quan và cấp thiết của quốc gia biển. Các quốc gia biển trên thế giới, đối với những vùng biển quan trọng, họ đều có chuỗi số liệu dài hàng chục năm hoặc hàng trăm năm và nhà nước có thể chủ động sử dụng nguồn số liệu đó để phục vụ các yêu cầu bảo vệ, phát triển đất nước. Thực ra cho đến nay, số lượng dữ liệu điều tra biển Đông do chúng ta làm ra chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số lượng dữ liệu về biển Đông của thế giới mà phần lớn đều tập trung ở dải ven bờ và thềm lục địa VN. Vì vậy, trao đổi dữ liệu với các TTDLB của các quốc gia và toàn cầu là rất cần thiết. Việc này chỉ có thể thực hiện một cách hiệu quả thông qua TTDLB.

PGS.TS Hoàng Xuân Nhuận - Phân viện Vật lý TP Hồ Chí Minh: Cần đánh giá lại chất lượng dữ liệu.Từ những năm 1990 chúng tôi đã đề xuất phải sớm thành lập TTDLB trong đó có nêu rõ các yêu cầu đánh giá chất lượng dữ liệu. Hơn một thập niên qua chúng ta đều bàn đến vấn đề này nhưng đáng tiếc là cho đến hôm nay tình hình vẫn chưa có gì mới. Số lượng dữ liệu của chúng ta đang có rất lớn song theo tôi vấn đề quan trọng hơn là chất lượng dữ liệu. Cái khó nhất hiện nay là nhiều cơ quan, nhiều người có thông tin, dữ liệu nhưng không thể biết rõ cái nào đúng, cái nào sai vì chính những người làm điều tra, nghiên cứu, dự báo…lại tự đánh giá kết quả của mình. Theo tôi, ngay bây giờ, chúng ta phải đánh giá, phân loại để loại bỏ những dữ liệu trùng lặp hoặc đã quá lạc hậu.

TS Lưu Trường Đệ - Vụ Quản lý xã hội và Tự nhiên, Bộ KHCN: Việc này chúng ta đã bàn rất nhiều và ai cũng cảm thấy bức xúc vì cho đến nay nước ta vẫn chưa có TTDLB. Tôi nghĩ rằng không nhất thiết phải chờ đến lúc Chính phủ ban hành quyết định... rồi mới thành lập TTDLB. Các cơ quan nghiên cứu biển cứ tiếp tục chủ động chuẩn bị phương tiện vật chất, cơ sở dữ liệu, trước mắt nối mạng nội bộ để hình thành các đầu mối... Đây chính là những mắt xích quan trọng để thực hiện việc nối mạng quốc gia.

PGS.TS Phạm Huy Tiến - Chủ nhiệm Chương trình KC.09: Chương trình biển KC.09 có trách nhiệm thu thập thông tin, dữ liệu chuẩn bị thành lập TTDLB. Từ nay đến cuối năm Ban chủ nhiệm Chương trình KC.09 sẽ tổng kiểm kê toàn bộ các dữ liệu đã thu thập được trong các chương trình biển từ trước đến nay; đồng thời cập nhập dữ liệu mới và triển khai xây dựng tập bản đồ chuyên đề thể hiện các số liệu hiện có... Trong lúc chờ đợi quyết định chính thức của Chính phủ về cơ chế, chính sách quản lý, khai thác thông tin... Ban chủ nhiệm Chương trình Biển quốc gia chịu trách nhiệm hướng dẫn phân loại dữ liệu biển theo 3 cấp: Bí mật quốc gia, thương mại và phổ cập.

Nhóm PV Miền Trung lược ghi


Trước mắt là nghiên cứu khí hậu biển Đông...

Lao động số 259 Ngày 29.09.2002
Lên mạng lúc 10:10:07 ngày 28.09.2002

Trước mắt là nghiên cứu khí hậu biển Đông...

PGS.TS Nguyễn Tác An (Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang). Theo dự báo, thiên tai ở VN sẽ thường xuyên và khắc nghiệt hơn. Mực nước biển tăng đến 15%, lượng bão hàng năm tăng từ 1-2 trận và cường độ sẽ mạnh dần từ Bắc vào Nam... Nghiên cứu biển ở VN vì vậy trước mắt phải tập trung vào khí hậu...

Viện Hải dương học (HDH) Nha Trang thành lập cách đây 80 năm (1922) là nơi tập trung, xây dựng nguồn nhân lực, chuyên gia, trang thiết bị để triển khai các công tác chuẩn bị cho chiến lược khai thác và bảo vệ biển Đông. Một trong những nội dung nhiệm vụ cụ thể là nghiên cứu, điều tra, quan trắc, phục vụ thông tin đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường,phòngchống thiên tai và an ninh quốc phòng ở biển Đông.

Viện đã tập trung lực lượng nghiên cứu, điều tra và quan trắc theo 3 hướng chính của hải dương học là: Biển Đông và khí hậu, cơ sở khoa học nhằm bảo vệ các hệ sinh thái biển; và cơ sở khoa học nhằm quản lý tổng hợp các vùng ven biển.

Theo dự báo của nhiều chuyên gia, thiên tai ở Việt Nam sẽ thường xuyên và khắc nghiệt hơn. Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam vào năm 2010 sẽ tăng 0,5-0,7 % so với năm 1990. Mực nước tăng 10-15%. Số lượng bão hàng năm sẽ tăng từ một đến hai trận và cường độ bão sẽ lớn dần từ Bắc vào Nam. Trước mắt Viện HDH Nha Trang đã tổ chức phối hợp nghiên cứu triển khai và tập trung nghiên cứu về hệ thống khí hậu ở biển Đông, các hiện tượng khí hậu, thời tiết mang tính tai biến như El Nino, La Nina, lũ lụt, khô hạn, bão, lốc, gió xoáy trong các mối quan hệ với quá trình tương tác biển - khí mang tính địa phương, sự thay đổi khí hậu kỷ Đệ tứ, các quá trình động lực tây biển Đông, sự biến đổi, di chuyển các khối nước và các hoàn lưu... Trong những năm gần đây chúng tôi đã trao đổi, cung cấp rộng rãi thông tin và dữ liệu tương đối hoàn chỉnh về hệ hoàn lưu, về các thông tin liên quan đến phục vụ việc dự báo thay đổi khí hậu, đến hàm lượng cácbonic trong biển, khí quyển và trên lục địa.

Hiện tại, các nhà hải dương học của Viện đã tập trung liên kết các chương trình như "nghiên cứu ô nhiễm nước biển toàn cầu", "khoa học đại dương với nguồn lợi sinh vật", "khoa học đại dương với nguồn lợi phi sinh vật"... Các kết quả nghiên cứu đã cho phép hiểu biết sâu hơn sự biến động tai biến sinh học (tảo gây hại, dịch bệnh thuỷ sinh..)... nhằm mục tiêu tổng thể là hoàn thiện chiến lược quan trắc, cảnh báo và dự báo hiện tượng tảo gây hại.

Theo dự báo, vào năm 2010 dân số Việt Nam có thể đạt tới 90-92 triệu người.Tổng thu nhập quốc dân (GDP) tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và ven biển. Đây là vùng nhạy cảm, chịu nhiều thiên tai và sức ép, đầy rủi ro trong phát triểƒn. Viện đã tập trung nghiên cứu quy hoạch phát triển các vùng kinh tế biển ở quy mô khu vực, xác định đầy đủ các nguồn lợi chủ yếu, khả năng phát triển đô thị hoá và bố trí dân cư, khu công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, nuôi trồng hải sản và nghề cá, bố trí các công trình quốc phòng, nghiên cứu, quan trắc các tai biến thiên nhiên. Viện cũng nghiên cứu quá trình xói lở, bồi tụ, nguồn tài nguyên nước ven biển, quá trình ô nhiễm, cảnh báo chất lượng hải sản-thực phẩm...

Các cường quốc trên thế giới, các quốc gia xung quanh biển Đông đều tập trung xây dựng tiềm lực và đề xuất các chương trình nghiên cứu, quan trắc khai thác... Trong bối cảnh hiện nay, nhà nước nên tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh các hoạt động điều tra, quan trắc biển và phục vụ thông tin nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và an ninh chủ quyền quốc gia trên biển Đông.


Biển ở phía trước

Lao động số 259 Ngày 29.09.2002
Lên mạng lúc 10:02:29 ngày 28.09.2002

Biển ở phía trước

Trong "tứ lợi" (lâm, khoáng, thổ, hải) thì cụ Nguyễn Trường Tộ xếp hải lợi là số 1. Khoa học thời nay khẳng định điều đó đúng. VN có 3.260km bờ biển, cùng hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, các vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tài phán rộng gấp ba lần lãnh thổ đất liền. Trữ lượng tài nguyên năng lượng khá (200 triệu tấn dầu, 325 tỉ mét khối khí đốt)… Cùng các năng lượng sạch từ biển: Gió, nắng, thuỷ triều; tài nguyên: Cát thuỷ tinh, than, đá vôi, sa khoáng... Biển ấm, độ mặn cao, tiềm năng hải sản, du lịch, giao thông, thương mại hàng hải lớn... Nhưng cái "của để dành" này, muốn biến nó thành "của tiêu dùng được" đâu có dễ! Vì nếu dễ, thì sao đến bây giờ không phải là kinh tế biển, mà kinh tế nông nghiệp vẫn chủ yếu chi phối nền kinh tế nước ta? Vì sao những người trên đất Việt chừng như dừng lại trước biển lớn?

Nhưng nói vậy không có nghĩa rằng ông cha ta không nuôi chí tiến ra biển lớn. Và đã có nhiều thành tựu. Nước ta đã từng có các trung tâm hàng hải: Giao Chỉ (miền Bắc), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam - Champa (Nam Trung Bộ), Phù Nam (Nam Bộ). Từ TK X đến XIX quá trình mở rộng, trải dài của các nhà nước Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam luôn kiểm soát được vùng biển và xây dựng hàng chục cảng quân sự, thương mại trên biển: Vân Đồn, Vạn Ninh, Thần Phù... (miền Bắc); Hội Triều, Càn Hải, Hội Thống, Cửa Việt, Hội An, Thi Nại, Nha Trang... (miền Trung); Cù Lao Phố, Bến Nghé... (miền Nam).

Chuyện "lớn như biển" đâu dám mon men tới, nhưng có lẽ dù không được như nhiều người gan dạ, kẻ nhát gan này cũng mạo muội dự cảm rằng thế kỷ sắp đến biển không phải là "sân sau" mà là "mặt trước" của toà nhà Việt Nam. Người Việt sẽ tiến ra biển, lập nên tập quán sống và nghĩ "mới", khai thác được "đệ nhất lợi". Và biển Đông sẽ không phải chỉ mãi là một thứ của để dành.

Hân Hương