Việt Nam trước gã ba đường (I)

Đại sứ Marine nhận định về quan hệ Việt – Mỹ


BBC - 31 Tháng 3 2005 - Cập nhật 17h40 GMT

CÁC BÀI LIÊN QUAN
Năm nay có một ý nghĩa biểu tượng cho quan hệ song phương Việt – Mỹ.

2005 là năm đánh dấu 30 năm kết thúc chiến tranh, và 10 năm bình thường hóa quan hệ giữa hai quốc gia.

Trong bối cảnh đó, đương kim đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Michael Marine, đã có bài nói chuyện ở một hội thảo giữa tháng Ba này.

Tại Hội thảo về Việt Nam ở ĐH Texas Tech, ngày 17-3, ông Michael Marine nói ông muốn chia sẻ những suy nghĩ về “vị trí của mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay và chiều hướng phát triển của mối quan hệ trong tương lai.”

Nhìn tổng quát, ông nói Hoa Kỳ hy vọng sẽ Việt Nam sẽ trở thành “một xã hội hùng mạnh hơn và năng động hơn, một quốc gia với tư cách là một lực lượng ổn định và mạnh mẽ, thúc đẩy an ninh và tiến bộ trong khu vực và trên thế giới.”

Một tiến bộ rõ rệt nhất trong quan hệ hai nước chính là lĩnh vực thương mại. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng khoảng 128% trong năm 2002, 90% trong năm 2003 và 16% trong năm 2004.

Cuối năm ngoái, United Airlines khởi đầu các chuyến bay trực tiếp hàng ngày từ San Francisco tới TP. Hồ Chí Minh.

Tuy vậy, tổng số đầu tư có liên quan đến Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện chỉ ở mức khiêm tốn là 2.6 tỉ đôla.

Đại sứ Mỹ nói các nhà đầu tư Mỹ nhìn thấy ở một số thị trường khác có điểm hấp dẫn hơn so với Việt Nam.

“Những nhà quyết sách trong các công ty của Hoa Kỳ phải tính tới chi phí của tệ quan liêu, những khoản thuế và lệ phí không thể lường trước, thủ tục cấp phép phiền hà và những rào cản pháp lý và cả tệ tham nhũng khi tính toán chi phí đầu tư.”

“Hiện nay Việt Nam vẫn bị coi là nơi tiếp nhận đầu tư tương đối rủi ro hơn và tốn kém hơn bởi vì ở Việt Nam những vấn đề nêu trên diễn ra thường xuyên hơn so với những quốc gia đang cạnh tranh thu hút đầu tư khác. Và hơn hết, pháp quyền lỏng lẻo cùng những rào cản về thuế và luật pháp còn tiểm ẩn đối với công việc kinh doanh.”

Tuy vậy, vị đại sứ bày tỏ lạc quan rằng ở Việt Nam, ích lợi của việc đầu tư trong một nền kinh tế đang phát triển mạnh không ngừng tăng lên trong khi những chi phí và rủi ro kinh doanh liên tục giảm xuống.

An ninh

Đại sứ Michael Marine khẳng định hai nước không còn bất kỳ bất đồng nào có thể dẫn tới kịch bản quân đội hai nước giao chiến với nhau.

Trong các lĩnh vực như chống khủng bố và thực thi luật pháp, ông bày tỏ hy vọng rằng sự hợp tác sẽ được củng cố.

“Mặc dù còn có nhiều điều mà tôi cho tin rằng chúng ta có thể làm được – nhất là trong lĩnh vực thực thi pháp luật – chúng ta đã đạt được nhiều tiến bộ trong những năm gần đây, nổi bật nhất là việc ký hiệp định song phương về chống ma túy hồi năm ngoái.”

“Ngay tại thời điểm này, việc Việt Nam lưỡng lự không hợp tác trực tiếp với các nhân viên thực thi luật pháp từ Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào khác cũng đều khiến Việt Nam trở thành mắt xích yếu kém trong đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia.”

“Trong mấy tháng gần đây, chúng tôi đã gặt hái được một số thành công, đã thuyết phục được phía Việt Nam tịch thu số tiền buôn lậu ma túy từ một hành khách và dàn xếp dẫn độ một số đối tượng bị truy nã từ Việt Nam về Hoa Kỳ. Giờ đây chúng ta phải dựa trên những bước khởi đầu đó để xây dựng mối quan hệ làm việc chặt chẽ và hiệu quả hơn.”

Đại sứ Mỹ nhận định rằng Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cùng chung lợi ích trong việc đảm bảo châu Á vẫn là một khu vực an toàn và ổn định.

Bất đồng

Người đại diện cho Hoa Kỳ tại Việt Nam nhận xét “hai quốc gia càng thắt chặt quan hệ bao nhiêu và phạm vi quan hệ càng rộng bao nhiêu thì số vấn đề nảy sinh lại càng lớn bấy nhiêu.”

“Một lĩnh vực mà chúng ta còn nhiều điểm bất đồng với Việt Nam là nhân quyền, trong đó có tự do tôn giáo.”

“Như Bộ Ngoại giao đã miêu tả trong Báo cáo Nhân quyền và Tự do Tôn giáo, Chính phủ Hoa Kỳ lo ngại nghiêm trọng về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam tiếp tục không khoan dung đối với quan điểm bất đồng về chính trị và hạn chế khá nhiều quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và lập hội.”

Đại sứ Michael Marine nói hiện nay người Việt Nam “được hưởng quyền tự do cá nhân nhiều hơn và trong cuộc sống họ được tự chủ hơn…Tuy nhiên, vẫn có thể làm được nhiều hơn thế.”

“Thực tế là mặc dù hàng triệu người Việt Nam theo những tín ngưỡng khác nhau, song có một bộ phận không nhỏ công dân Việt Nam không được tự do thờ cúng và hành đạo theo ý muốn. Và đây chính là điều chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ.”

“Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu chúng ta tập trung vào đa số những người đã hài lòng và những người được tự do theo đạo hoặc không theo đạo mà họ cho là phù hợp chứ không nên tập trung vào một số ít người phàn nàn rằng họ bị đàn áp. Nhưng chính việc đối xử với nhóm thiểu số và việc tôn trọng quyền của những người có thể phản đối chính phủ mới xác định quốc gia đó có tôn trọng quyền con người hay không.”

Tuy vậy, đại sứ Hoa Kỳ kết luận rằng những nỗ lực tạo bầu không khí tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau sẽ được tiếp tục.

Một trong những nỗ lực như thế là việc trao đổi giáo dục và đào tạo các quan chức, nhà báo, sinh viên và công chúng.

“Điều đó không chỉ giúp tăng cường cơ hội trao đổi học thuật mà còn tạo điều kiện cho các học giả Việt Nam trở về nước và giúp phát triển các lĩnh vực có tiềm năng lớn ở Việt Nam như khoa học, công nghệ và khoa học xã hội.”

Phỏng vấn ông Carl Thayer về mối quan hệ giữa Hà Nội, Vientiane và Phnom Penh


2005.03.31 - Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA

Hôm nay, ông Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh của Việt Nam đã hoàn tất chuyến viếng thăm Kampuchea kéo dài 3 ngày. Trước đó, người cầm đầu Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã ghé thăm Lào.

Nhân dịp này, Ban Việt Ngữ chúng tôi đã phỏng vấn ông Carl Thayer, một chuyên gia về Ðông Nam Á để tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa Hà Nội, Vientiane và Phnom Penh. Cuộc phỏng vấn do Nguyễn Khanh thực hiện.

Một “Ðông Dương Mới”?

Nguyễn Khanh: Ông Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh mới kết thúc chuyến viếng thăm Lào và Kampuchea. Liệu chúng ta có thể nói rằng một “Ðông Dương Mới” đang thành hình không?

Ông Carl Thayer: trong những năm vừa qua, các nước Ðông Dương đã hợp tác chặt chẽ với nhau, hầu hết trong các hoạt động và phát triển của ASEAN và đặc biệt nhất là khi một số quốc gia thuộc ASEAN bắt đầu nói đến chuyện có thể sẽ can thiệp vào tình hình chính trị nội bộ của Miến Ðiện.

Ðó là lý do tại sao nhiều thượng đỉnh giữa các nước Ðông Dương đã xảy ra, và Việt Nam là nước nỗ lực chính để đẩy chuyện này.

Ðiều mà tôi có thể nói là mối quan hệ chính trị chặt chẽ giữa 3 nước, cả 3 đều không muốn thấy chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của những nước khác mà ASEAN từng áp dụng thay đổi, họ lo sợ nếu thay đổi này nếu được đưa ra áp dụng với Miến Ðiện có thể ảnh hưởng đến họ.

Ông Carl Thayer
Ðiều mà tôi có thể nói là mối quan hệ chính trị chặt chẽ giữa 3 nước, cả 3 đều không muốn thấy chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của những nước khác mà ASEAN từng áp dụng thay đổi, họ lo sợ nếu thay đổi này nếu được đưa ra áp dụng với Miến Ðiện có thể ảnh hưởng đến họ.

Họ cũng là những nước đang phát triển, và phải kết hợp với nhau để điều đình với các nước khác ngay trong ASEAN và họ đã thành công, đạt được những quyền lợi đặc biệt. Vì thế, để bảo vệ hệ thống chính trị giống nhau, họ đến gần với nhau hơn, thành một nhóm bán chính thức, về cả chính trị lẫn kinh tế.

Và cuối cùng, Việt Nam đang tranh giành ảnh hưởng ở Lào và Kampuchea với Trung Quốc, nên Việt Nam phải thường xuyên xuất hiện ở hai nước láng giềng để chứng tỏ sự hiện diện của mình và đẩy mạnh quan hệ sẵn có giữa các đảng đang cầm quyền.

Ngã về Việt Nam hay Trung Quốc?

Nguyễn Khanh: Theo ông thì trong tương lai, Lào và Kampuchea sẽ ngã về phía Việt Nam hay về phía Trung Quốc?

Ông Carl Thayer: Tất cả vấn đề nằm ở ASEAN, là tổ chức đã tạo ra rất nhiều trở ngại khi giải quyết vấn đề Trung Quốc. Hồi 1999 và 2000, Trung Quốc đã hoàn tất cuộc thương thuyết với từng nước một trong ASEAN, trong đó có cả Lào, Kampuchea và Việt Nam.

Thành thử ra quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Ðông Nam Á tùy thuộc vào từng nước một, từ quan hệ Chính Quyền, quan hệ đảng, và trong một số trường hợp có cả quan hệ về quân sự. Rõ ràng Trung Quốc viện trợ rất nhiều cho Lào và Kampuchea, đương nhiên Việt Nam phải có phản ứng.

Tôi không nghĩ là Lào hay Kampuchea sẽ nghiêng về phía Trung Quốc hay phía Việt Nam, mà điều cần phải nói đến là làm sao Phnom Penh cũng như Vientiane có thể giữ được độc lập. Riêng trường hợp của Lào, nước này đang thân thiết với Việt Nam hơn, nên quan hệ với Hà Nội sẽ bị sứt mẻ, sẽ gặp trở ngại nếu Vientaine nghiêng về phía Trung Quốc.

Ông Carl Thayer
Tôi không nghĩ là Lào hay Kampuchea sẽ nghiêng về phía Trung Quốc hay phía Việt Nam, mà điều cần phải nói đến là làm sao Phnom Penh cũng như Vientiane có thể giữ được độc lập. Riêng trường hợp của Lào, nước này đang thân thiết với Việt Nam hơn, nên quan hệ với Hà Nội sẽ bị sứt mẻ, sẽ gặp trở ngại nếu Vientaine nghiêng về phía Trung Quốc. Tôi không nghĩ chuyện này sẽ xảy ra.

Tôi cho rằng giới lãnh đạo Chính Quyền Lào hiện giờ vẫn ủng hộ việc có quan hệ chặt chẽ, vững mạnh với Việt Nam. Trường hợp của Kampuchea thì khó khăn hơn, vì quan hệ cá nhân của Thủ Tướng Hun Sen với Việt Nam và vì tình hình chính trường Phnom Penh hiện giờ, nên Kampuchea sẵn sàng nhận viện trợ từ Trung Quốc.

Nhiều năm trước đây, Việt Nam từng nói với cả Lào lẫn Kampuchea là không thể viện trợ quân sự cho 2 nước này, bây giờ để tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc, Việt Nam phải làm điều đó. Thành ra chuyện tranh giành ảnh hưởng giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Kampuchea và Lào trở nên rõ rệt hơn, và cả Phnom Penh lẫn Vientaine đến bây giờ cũng chưa tỏ dấu hiệu nào cho thấy là có thể nghiêng về phía Bắc Kinh cả.

Đối tác chiến lược với Lào và Kampuchea

Nguyễn Khanh: Giới lãnh đạo Việt Nam từng nói là muốn xây dựng thế đối tác chiến lược với Lào và Kampuchea. Liệu ước muốn này của Việt Nam có thành sự thật không?

Ông Carl Thayer: nếu nhìn vào kinh tế, chúng ta thấy thế đối tác chiến lược đã thành hình, từ chuyện hợp tác phát triển kỹ nghệ du lịch chung cho đến việc cùng hợp tác với nhau và với những nước khác trong chương trình phát triển sông Mê Kông.

Ðối tác chiến lược cũng thành hình vì ba nước có cùng biên giới với nhau, nên có cùng quan tâm về an ninh, quan tâm về hoạt động của bọn buôn lậu xuyên biên giới, như buôn lậu gỗ, buôn người, quan tâm đến những nhóm chống đối có võ trang.

Ông Carl Thayer
Ðối tác chiến lược cũng thành hình vì ba nước có cùng biên giới với nhau, nên có cùng quan tâm về an ninh, quan tâm về hoạt động của bọn buôn lậu xuyên biên giới, như buôn lậu gỗ, buôn người, quan tâm đến những nhóm chống đối có võ trang. Thành ra đối tác chiến lược được nhìn ở nhiều khía cạnh và 3 nước phải hợp tác chung với nhau. Ðối tác chiến lược cũng có nghĩa là quan hệ về quân sự.

Quan hệ quốc phòng giữa Lào và Việt Nam thì thật chặt chẽ, hơn hẳn quan hệ quân sự với những nước khác, kể cả với Kampuchea.

Kết quả của cuộc chạy đua?

Nguyễn Khanh: Nhưng theo ông, cuộc chay đua ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ đem lại kết quả như thế nào? Việt Nam thắng hay Trung Quốc thắng?

Ông Carl Thayer: Tôi nghĩ là Việt Nam đang có một thế mạnh ở Lào và Kampuchea, nhưng Trung Quốc cũng đang xây dựng thế lực của họ. Chuyện ai thắng, ai bại là điều mà chính các nhà quan sát cũng bàn cãi với nhau, theo tôi thì chẳng ai thắng, ai bại cả.

Theo cái nhìn của Tây Phương thì có 3 trường hợp, hoặc cân bằng thế lực với Trung Quốc hoặc chống lại Trung Quốc, hoặc đi theo Trung Quốc. Nếu Trung Quốc vươn lên và trở thành quốc gia thống trị thì Phnom Penh, Vientaine và ngay cả Hà Nội phải tìm cách làm sao để tự giải quyết lấy vị thế của mình đối với Bắc Kinh.

Theo cái nhìn của Tây Phương thì có 3 trường hợp, hoặc cân bằng thế lực với Trung Quốc hoặc chống lại Trung Quốc, hoặc đi theo Trung Quốc. Nếu Trung Quốc vươn lên và trở thành quốc gia thống trị thì Phnom Penh, Vientaine và ngay cả Hà Nội phải tìm cách làm sao để tự giải quyết lấy vị thế của mình đối với Bắc Kinh.

Ông Carl Thayer
Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn có thế lực đối với Lào và Kampuchea, nhưng Hà Nội không thể dùng thế lực đó để ngăn cản quyền lợi của Trung Quốc được. Cả 3 nước phải biết vị thế của họ đối với Trung Quốc, và riêng với trường hợp của Kampuchea và Lào, Trung Quốc không cho 2 nước này cơ hội chọn lựa giữa họ và Việt Nam.

Quân đội Việt Nam tại Lào

Nguyễn Khanh: Nhưng ông đừng quên là quân đội Việt Nam hiện đang có mặt tại Lào và dĩ nhiên Trung Quốc không mấy vui về chuyện này…

Ông Carl Thayer: Các đơn vị chiến đấu của Việt Nam không có mặt ở Lào. Việt Nam chỉ đưa những binh sĩ đã phục viên sang Lào làm việc cho các công ty của quân đội để thực hiện những dự án.

Cách đây ít năm, lúc an ninh ở Lào bị căng thẳng, đã có tin đồn nói là những đơn vị quân sự đặc biệt của Việt Nam được gửi tạm sang Lào, nhưng mở các chương trình như huấn luyện rốt ráo cho các sĩ quan Lào, huấn luyện chính trị, huấn luyện cho các tướng lãnh, lại là vấn đề rất tế nhị, ảnh hưởng đến quan hệ song phương.

Quân đội Lào ngày một xuống cấp, Việt Nam có thể giúp đỡ khí cụ nhưng chuyện trực tiếp nhúng tay vào về cả mặt quân sự lẫn dân sự thì Việt Nam đã có những kinh nghiệm để tự biết không nên làm điều đó. Trung Quốc hiện đang làm chuyện này, nhưng chưa có ảnh hưởng sâu đậm.

Nguyễn Khanh: xin cám ơn ông Carl Thayer đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

25 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam Ờ Thái Lan


RFA 2001.08.05

Lời giới thiệu: Tuần qua, đánh dấu kỷ niệm hai mươi lăm năm việc thiết lập bang giao giữa Thái Lan và chính quyền Hà Nội của Việt Nam. Tại Bangkok và Hà Nội đã có những hoạt động để kỷ niệm dịp này. Dưới đây, Mạnh Hùng lược lại những thăng trầm của bang giao Việt Thái trong 25 năm qua...

Thái Lan là một trong những nước đầu tiên công nhận chiến thắng của Hà Nội tại miền Nam Việt Nam. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiếùt lập vào ngày 6-5-1976 ngay sau khi nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được thành lập, thống nhất hai miền Nam - Bắc.

Tuy nhiên chẳng bao lâu quan hệ này đã bị suy thoái khi chính quyền Hà Nội tìm cách chi phối toàn bộ bán đảo Đông Dương và trở nên hoàn toàn căng thẳng sau khi quân đội Việt Nam tấn công vào Cambodia và thành lập một chính quyền thân Hà Nội vào năm 1979. Trong suốt thập niên 1980, quan hệ giữa hai nước ở vào tình trạng băng giá với Thái Lan là một trong những nước chủ động trong tổ chức Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN, tạo lập một liên minh chống Việt Nam. Trong thời gian này, Thái Lan đã yểm trợ và mở cửa lãnh thổ cho Khmer Đỏ cũng như các lực lượng chống Hà Nội khác sử dụng để chống lại việc chiếm đóng Cambodia của quân đội Việt Nam. Thái Lan và một số những nước khác trong khối ASEAN cũng là nước tiếp nhận đầu tiên cho hàng triệu người Việt Nam tỵ nạn vượt biên, để rồi từ đó sang định cư tại những quốc gia khác. Để đáp lễ, Hà Nội cũng bí mật yểm trợ cho những đám Cộng sản Thái hoạt động nổi dậy chống lại chính phủ Thái.

Việc triệt thoái quân đội Việt Nam tại Cambodia vào năm 1989, cộng với việc Hà Nội thay đổi chính sách về kinh tế và cởi mở hơn về chính trrị qua chính sách đổi mới đã mở ra hy vọng làm ấm lên bang giao giữa hai nước. Chuyến đi thăm Thái Lan vào năm 1991 của Thủ tướng Việt Nam lúc đó là ông Võ Văn Kiệt và chuyến đi thăm Việt Nam vào năm 1992 của tướng Chavalit Yongchaiudh, lúc đó đang là tổng tham mưu trưởng quân đội Thái đã đánh dấu một bước biến đổi trong bang giao giữa hai nước. Và năm 1995, Hà Nội đã được chính thức gia nhập ASEAN tổ chức mà trước đó chưa đầy 10 năm đã là đối thủ kiên quyết nhất chống lại Việt Nam. Tuy nhiên bang giao Thái Việt trong thập niên 90 vẫn còn bị trở ngại nhiều vì những e ngại của Hà Nội rằng Bangkok vẫn còn làm ngơ trước những hành động của những nhóm người Việt chống cộng lấy Thái Lan làm địa bàn hoạt động.

Cách đây 5 năm, ngày kỷ niệm 20 năm việc thiết lập bang giao giữa hai nước đã trôi qua một cách lặng lẽ.

Lần này hai bên đã tổ chức một cách tương đối rầm rộ kỷ niệm 25 năm thiết lập bang giao, một dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa hai nước đã ấm hơn sau nhiều năm lạnh lẽo. Vào cuối tuần trước, trường đại học Chulalongkorn tại Bangkok đã tổ chức một cuộc hội thảo hai ngày về quan hệ song phương trong khi tại Hà Nội, một hội chợ triễn lãm hàng Thái sẽ khai mạc vào ngày mai. Và hôm nay cựu thủ tướng Thái, ông Anand Panyarachun, đã đến Hà Nội để tham dự một buổi dạ tiệc tổ chức ăn mừng kỷ niệm hai mươi lăm năm quan hệ này. Ông Anand là người đã từng tuyên bố khi sang thăm Việt Nam lần đầu rằng muốn biến bãi chiến trường thành chốn thương trường. Tiếc rằng ước muốn đó của ông phải hai mươi lăm năm vẫn chưa hoàn tòan trở thành sự thực.

Quan hệ hợp tác Việt Nam-Mianma


TTXVN 05/04/2005 -- 11:34 (GMT+7)
http://www.vnanet.vn/News.asp?LANGUAGE_ID=1&CATEGORY_ID=48&NEWS_ID=145591

Hà Nội (TTXVN) - Là quốc gia gần gũi với Mianma ở Đông Nam Á, Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực có quan hệ với Mianma từ năm 1947 khi Việt Nam lập cơ quan thường trú tại thủ đô Yangun, trước khi Mianma giành được độc lập (4/1/1948). Gần nửa thế kỷ qua, nhất là vào những thời điểm lịch sử quan trọng của mỗi nước, nhân dân Việt Nam và nhân dân Mianma không ngừng ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 28/5/1975, hai nước đã nâng quan hệ ngoại giao lên cấp đại sứ. Từ đó đến nay, mối quan hệ này không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau:

Về phía Mianma:
- Tháng 11/1954, Thủ tướng Mianma U Nu sang thăm Việt Nam, cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tuyên bố chung, lấy 5 nguyên tắc chung sống hoà bình làm cơ sở cho quan hệ hai nước.
- Tháng 3/1995, Thống tướng Than Suề, Chủ tịch Hội đồng Luật pháp và Trật tự Quốc gia (SLORC) Mianma sang thăm Việt Nam.
- Tháng 12/1998, Thống tướng Than Suề, Chủ tịch Hội đồng Hoà bình và Phát triển Quốc gia Mianma (SPDC) sang dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-VI tại Hà Nội.
- Tháng 3/2003, Thống tướng Than Suề, Chủ tịch SPDC, thăm Việt Nam.
- Ngày 9/8/2004, Thủ tướng Mianma, đại tướng Khin Nyunt thăm Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của ông trên cương vị Thủ tướng Trong chuyến thăm này, Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Mianma đã ký Hiệp định về hợp tác phòng chống tội phạm.

Về phía Việt Nam:
- Tháng 5/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Mianma; Trong bản Tuyên bố chung được hai bên ký kết, Mianma đã tuyên bố ủng hộ việc thi hành Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, ủng hộ việc Việt Nam thống nhất theo tinh thần của Hiệp định này.
- Tháng 5/1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, thăm Mianma. Hai bên đã ký kết 3 hiệp định: Hiệp định Thương mại, Hiệp định hợp tác Du lịch và Hiệp định thành lập Uỷ ban hỗn hợp kinh tế-kỹ thuật hai nước.
- Tháng 5/1997, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Mianma.
- Tháng 5/2000, Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Mianma.
- Tháng 5/2002, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Mianma. Trong chuyến thăm này, Việt Nam và Mianma ra Tuyên bố chung 14 điểm thể hiện mong muốn tăng cường và củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt, nhằm tạo bước phát triển mới trong quan hệ hai nước.
- Tháng 8/2004, Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cùng phu nhân thăm Mianma.

Bước khởi động mới cho quan hệ thương mại giữa hai nước là khi Hiệp định thương mại song phương được ký tháng 5/1994 và việc thành lập uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật Việt Nam-Mianma. Từ năm 2002 đến nay, thương mại giữa hai nước đã có những bước khởi sắc đáng khích lệ. Quan hệ buôn bán hai chiều đã tăng nhanh từ 13 triệu USD năm 2002 lên 30,8 triệu USD năm 2003. Hai nước đã thành lập uỷ ban thương mại chung nhằm thúc đẩy thương mại hai nước lên 50 triệu USD vào năm 2004.

Hai nước đã tiến hành 5 kỳ họp Uỷ ban hỗn hợp kinh tế kỹ thuật Việt Nam-Mianma (tháng 3/1995, 1/1997, 6/1998, 5/2002 và 12/2004).

Năm 2002, một số doanh nghiệp Việt Nam sang Mianma khảo sát và đầu tư trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, thăm dò khai thác dầu khí; một số doanh nghiệp của Mianma cũng đã sang Việt Nam tìm cơ hội kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất dược liệu, trồng lúa nước, nuôi tôm.

Tháng 10/2002, lần đầu tiên Việt Nam tổ chức Hội chợ triển lãm và giới thiệu hàng Việt Nam tại Yangun, với sự tham gia của 32 công ty, với các mặt hàng chế biến từ cao su, đồ dùng gia dụng, thuốc tân dược, mỹ phẩm...

Tháng 10/2003, Việt Nam đã tổ chức Hội chợ triển lãm hàng Việt Nam lần thứ hai tại Mianma với sự tham dự của 52 doanh nghiệp Việt Nam.

Việt Nam có thể xuất sang Mianma thép xây dựng, than, đồ dùng nội thất, sứ vệ sinh, sứ mỹ nghệ, gỗ khảm trai, mỹ phẩm, mì ăn liền, đồ nhôm gia dụng, dầu thô, bia và thiết bị máy móc. Phía Mianma có thể xuất sang Việt Nam gỗ tếch, gỗ cao su, gỗ cứng các loại, cao su tự nhiên, đá quý thô, nông sản, cà phê và song mây. Đây là những mặt hàng mà cả hai nước đều có nhiều tiềm năng.

Tuy nhiên trên thực tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Mianma với các nước khác trong khối ASEAN lớn hơn nhiều so với buôn bán song phương giữa hai nước. Đó là do một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang nước bạn như thép, đồ nội thất, đồ nhôm gia dụng, mì ăn liền không phải là các mặt hàng chủ lực nên kim ngạch không cao. Không những vậy, một số mặt hàng xuất khẩu chủ đạo hai nước lại trùng nhau như dầu thô, gạo, hàng dệt may...

Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Mianma trong thời gian qua chủ yếu là dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm về một số lĩnh vực như khai thác đá quí, trồng rừng và bảo vệ rừng, dầu khí, giáo dục, quản lý đô thị và môi trường, phòng chống ma tuý. Với tiềm năng của mỗi nước, Việt Nam và Mianma đã thoả thuận sẽ tích cực mở rộng quan hợp tác để khai thác các tiềm năng đó./.

Vai trò sinh tử của vùng biển Đông Hải


RFA 2005.03.21 - David Beasley - Phạm Điền

Biển Đông Hải của ta hay Bắc Kinh xem là Nam Hải của Trung Quốc là nơi có hải lộ chiến lược nắm một vai trò sinh tử về kinh tế và an ninh thế giới. Sự căng thẳng giữa Hoa Lục và Đài Loan ngang vùng eo biển càng làm cho vùng biển này nóng hơn nữa.

Hoa Kỳ không thể không chú tâm vào nhất cử nhất động trong vùng này, vì ảnh hưởng của nó rất lớn đối với các nước trong vùng và sự ổn định không những chỉ của vùng mà còn của toàn cầu. Giáo sư David Rosenberg, của khoa chính trị tại đại học Middlebury College mới đây đã nói chuyện đến vấn đề này.

Sáng kiến An ninh Container

Vùng biển phía Nam Trung Quốc đóng vai trò chính trong nền kinh tế và an ninh phần lớn của toàn cầu và đó là lý do tại sao Hoa Kỳ chú tâm kiểm soát khu vực này chặt chẽ hơn nữa. Có 6 quốc gia trong vùng phía nam biển Trung Hoa có chung biên giới biển, nơi hải lộ có 60% tàu chở dầu và 50% tàu chở hàng hoá của thế giới thông thương.

Giáo sư khoa học chính trị David Rosenberg của đại học Middlebury đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của con đường biển chiến lược này trong buổi nói chuyện ở Viện Nghiên Cứu Quốc Tế về Đông Nam Á ở Washingtton DC hồi tuần trước.

Ông cho hay, sau ngày biến động 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra, tầm quan trọng của vùng biển nam Trung Hoa đã buộc Hoa Kỳ đặt thành định chế hai biện pháp an ninh chưa từng được quy định trước đây. Biện pháp thứ nhất là CSI, chữ viết tắt cho Sáng kiến An ninh Container, được ban hành vào tháng Giêng năm 2002, làm thay đổi các luật lệ điều hành hải lộ và phương thức theo đó các luật lệ này được thi hành.

Giám sát và theo dõi việc kiểm soát an ninh

phải chấp thuận việc bổ nhiệm một viên chức thuế quan Hoa Kỳ giám sát và theo dõi việc kiểm soát an ninh. Rồi họ còn phải trang bị máy dò tất cả những kiện hàng.

Giáo sư khoa học chính trị David Rosenberg

Cho đến nay đã có có 18 trong số 20 hải cảng nước ngoài được Cơ quan Quan Thuế Hoa Kỳ cho là cần ưu tiên thực hiện, đã tuân thủ sáng kiến này, trong số đó có hai cảng lớn nhất là Hồng Kông và Singapore. Thế thì các quốc gia ký kết vào chương trình CSI phải làm gì để tuân hành quy định đó.

Ông Rosenberg cho biết rằng trước hết họ phải chấp thuận việc bổ nhiệm một viên chức thuế quan Hoa Kỳ giám sát và theo dõi việc kiểm soát an ninh. Rồi họ còn phải trang bị máy dò tất cả những kiện hàng.

Việc kiểm soát không những dò tìm võ khí sinh hoá hay các lọai võ khí qui ước mà còn cả những lọai phóng xạ, các lọai ma túy trái phép, các món khác cần quan tâm. Sau đó họ phải lập danh sách điện tử ghi lại những gì nằm trong các container đó cho Hoa Kỳ và tiếp tục nâng cấp các biện pháp đó theo những tiêu chuẩn sau này được loan báo.

Theo ông Rosenberg thì việc chuyển trọng tâm việc bảo vệ an ninh từ cảng đến sang cho cảng xuống hàng là “một sự thay đổi to lớn trong việc trao đổi hàng hoá, gửi hàng hoá toàn cầu”. Ông Rosenberg cho hay, điều đáng kể về sự thay đổi này được áp dụng khá nhanh chóng và êm ả, ít gặp phản đối.

Sáng kiến Cấm phổ biến võ khí

Biện pháp an ninh thứ nhì, được biết dưới tên gọi tắt là PSI tức Sáng kiến Cấm phổ biến võ khí, được ban hành vào tháng 9 năm 2003. Biện pháp này chủ yếu là nhằm tịch thu các lọai võ khí có khả năng hủy diệt lớn và các lọai kỹ thuật liên quan, trên đường biển cũng như đường hàng không, trước khi chúng rơi vào tay quân khủng bố hay những xứ bảo trợ cho khủng bố.

Ông Rosenberg giải thích: “Một biện pháp nữa được chính phủ Bush đưa ra là tìm cách lấy tin tức về những chuyến hàng khả nghi rồi cho lệnh chận bắt giữ các tàu hàng khả nghi để khám xét. Ngoài ra còn khuyến khích tất cả những nước tham dự cải tiến luật lệ của họ theo hướng dẫn tổng quát về những chất liệu cần cấm phổ biến”.

Ông Rosenberg cho hay vì những biện pháp đó tương đối mới và chưa áp dụng nhiều nên chưa kết luận là chúng có hữu hiệu hay không. Tuy nhiên ông đề nghị để làm giảm bớt sự bực bội của những quốc gia tham dự, Hoa Kỳ nên kiên quyết áp dụng hai sáng kiến CSI và PSI, nêu rõ các lợi ích khác như chống hải tặc, chống ô nhiễm, chống buôn lậu.

Thêm vào đó, ông Rosenberg nói rằng, nên cho các quốc gia tham dự được phản hồi ý kiến và trợ giúp về chi phí tham gia và huấn luyện nhân sự. Giữ được an ninh cho hải lộ có tầm chiến lược toàn cầu trong vùng biển Trung Hoa là một công tác nan giải.

Sau vụ khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 9 tháng 11, việc đặt ra các biện pháp ứng phó trước các biến động có thể xảy ra, hẳn nhiên là những bước không thể tránh. Hoa Kỳ ý thức được điều này trong lúc các nước tham dự cũng cảnh giác và có sự tham gia các chương trình phòng chống đúng mức, mới có thể giúp tránh khỏi cảnh “mất bò rồi mới rào chuồng”.