Cần làm gì trước nguy cơ mất chủ quyền trên Vịnh Bắc Bộ ?

Lê Ðoàn Việt - (LMVNTD - LÊN MẠNG THỨ NĂM 10 THÁNG BẢY 2003)

NGÀY 26/06/2003 vừa qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên đã chính thức ký Hiệp Định Phân Định Biên Giới Trên Biển với Bộ Trưởng Ngoại Giao Nam Dương Wassan Wirajuda trước sự chứng kiến của Chủ tịch CSVN Trần Đức Lương và Tổng Thống Nam Dương Bà Megawati Sukarnoputri nhân chuyến công du của bà tại Hà Nội. Nội dung chi tiết của Hiệp Định này đang được Hà Nội giữ kín và một lần nữa, chính quyền CSVN đang có nhiều chỉ dấu muốn "ém nhẹm" những chi tiết quan trọng liên quan đến Hiệp Định này. Và trong lúc mọi người còn tiếp tục theo dõi để đặt áp lực buộc CSVN phải công bố toàn bộ nội dung Hiệp Định này cho toàn dân trong và ngoài nước biết đến, tưởng cũng nên nhắc lại 2 Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hợp Tác Nghề Cá đã được ký kết giữa CSVN và Trung Cộng vào ngày 25-12-2000 nhưng cho đến nay (đã trên 2 năm rưỡi) toàn bộ nội dung của 2 Hiệp Định vẫn chưa được công bố rộng rãi trong dân chúng hoặc giải trình trước Quốc Hội CSVN.

Những ngày tháng cuối năm 2000 là thời điểm mà cả thế giới đang rộn ràng chuẩn bị bước sang một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới tràn đầy hy vọng, thì Trần Đức Lương, Chủ tịch nước của CSVN đã lặng lẽ thân hành sang diện kiến với Chủ tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân và ký kết "Hiệp Định Phận Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá" giữa 2 nước. Như thường lệ, chính quyền CSVN lớn tiếng cho rằng đây là "một thành công lớn của hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong năm 2000". Hiệp Định Biên Giới Trên Đất Liền đã được ký kết giữa CSVN và Trung Quốc vào ngày 30/12/1999 và được Quốc Hội CSVN thông qua vào ngày 9/6/2000, tức là chỉ trong vòng 6 tháng sau đó ! Điều gì đã xảy ra trong quá trình đàm phán hoặc tiến trình "hậu" đàm phán và ký kết "Hiệp Định Phận Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá" giữa 2 bên và đối với chính nội bộ của CSVN ? Phải chăng những áp lực từ phía Trung Quốc trong lúc đàm phán và sau khi ký kết cũng như những thiệt hại to lớn và quá rõ ràng từ hậu quả của việc ký kết 2 Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hợp Tác Nghề Cá mà chính quyền và Quốc Hội CSVN đã còn chần chờ chưa thông qua được ? Chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đã bị đánh mất ra sao ? Bao nhiêu diện tích lãnh hải đã bị mất trắng do "Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ" gây ra ? Tại sao CSVN bị ép phải đàm phán và ký kết thêm Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá, hay nói rõ hơn là Hiệp Định Phân Định Vùng Đánh Cá Chung, để rồi phải chịu thiệt hại to lớn trong lãnh vực đánh bắt, xuất khẩu hải sản và khai thác tài nguyên thiên nhiên ? Đây là những câu hỏi mà CSVN vẫn còn lấp liếm, giấu diếm không chịu trả lời công khai trước Quốc Hội CSVN cũng như trước quốc dân đồng bào trong và ngoài nước trong gần 3 năm qua !

Lần theo những tuyên bố chính thức trong thời gian qua của chính quyền CSVN cũng đủ để cho chúng ta thấy được phần nào những khúc mắc, mâu thuẫn và áp lực chính trị trong quá trình đàm phán và ký kết 2 Hiệp Định kể trên. Tờ Tạp Chí Cộng Sản, số 2, phát hành tháng 1/2001, có bài viết của ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại Giao CSVN, với đoạn như sau :

"... Trong quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này thì khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Ta (CSVN) không chủ trương gắn vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng ta nhận thức rõ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, và tình hình ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định... Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đã đồng ý lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ."

Những điều trên đã chứng tỏ rằng Trung Quốc đã khôn khéo và mạnh mẽ đặt áp lực khi đưa ra điều kiện phải "lập vùng đánh cá chung" song song với việc đàm phán về phân định lãnh hải trong vịnh Bắc Việt. Ngoài ra, Trung Cộng còn "dằn mặt" trước với CSVN rằng nếu không thỏa thuận được vấn đề đánh cá chung thì không thể phân định Vịnh Bắc Việt. Rõ ràng, đây là một áp lực chính trị, ngầm cho Hà Nội hiểu ý rằng nếu không đồng ý thì Trung Quốc sẽ không phân định lại lãnh hải, tiếp tục đơn phương xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn bộ vùng Biển Đông phía Nam Trung Quốc (South China Sea), đồng thời tiến hành việc đánh cá, khai thác hải sản thường xuyên trên phần hải phận Việt Nam mà lâu nay Hà Nội phải chịu thiệt thòi nhưng không dám phản đối mạnh. Đây là sự nhượng bộ và thiệt hại đầu tiên nhưng rất quan trọng trong tiến trình đàm phán về lãnh hải và vùng đánh cá chung, để hậu quả kéo theo là việc chính thức hóa quyền khai thác hải sản của Trung Quốc trong vùng đánh cá chung, những vùng đáng lý ra nhiều phần là thuộc lãnh hải đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Trung Quốc không có quyền đánh cá. Việt Nam có quyền không lập hoặc giới hạn vùng đánh cá chung với Trung Quốc bằng nhiều lý do khác nhau, và về mặt pháp lý thì hoàn toàn theo đúng với Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982.

Vùng đánh cá chung này được hai bên thỏa thuận với nhau, có tổng diện tích là 33.500km2, tức khoảng 27,9% diện tích toàn vùng Vịnh. Dù Hà Nội được bảo đảm là vùng đánh cá chung này cách bờ mỗi nước là 30 hải lý, nhưng có nơi thật sự cách bờ phía Việt Nam chỉ có 28 hải lý ! Trong khi đó, đa số các quốc gia trên thế giới đều ấn định ranh giới chủ quyền khai thác kinh tế hay còn gọi là vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone - EEZ) là khoảng từ 200 cho đến 240 hải lý, tính từ bờ đất. Nói một cách đơn giản và dễ hiểu thì thay vì Việt Nam được đặc quyền khai thác hải sản, tài nguyên trong vòng trên dưới 200 hải lý của vùng Vịnh thì nay có thêm Trung Quốc được quyền khai thác chung trong vùng biển này, cách bờ biển Việt Nam chỉ có 28-30 hải lý. Mất biển là một thiệt hại lớn nhưng mất luôn cả chủ quyền đánh cá, khai thác tài nguyên độc lập trên vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia thì rõ ràng là một nỗi nhục, một sự bán đứng tài nguyên đất nước cho ngoại bang !

Tưởng cũng cần nhắc lại là Hiệp Ước Pháp - Thanh được ký kết tại Bắc Kinh vào ngày 26-06-1887, có ghi rõ đường ranh giới hải phận EEZ trong vịnh Bắc Việt được lấy theo đường kinh tuyến (Longitude) 108oo03'18"E (tính từ Greenwood), tính từ biên giới bờ biển giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Vịnh Tonkin (Bắc Việt). Cũng theo Hiệp Ước này, lãnh hải Vịnh Bắc Việt được phân chia như sau : Việt Nam - 62% (76.694km2) và Trung Quốc - 38% (47.006km2). Trong các cuộc đàm phán vừa qua giữa đôi bên, Trung Quốc không nhìn nhận Hiệp Ước Pháp - Thanh và yêu cầu Việt Nam lấy đường trung tuyến để phân định lãnh hải giữa hai nước. Hà Nội lại nhục nhã nhượng bộ, hoàn toàn không đề cập đến Hiệp Ước Pháp - Thanh trong các tài liệu nói về Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hợp Tác Nghề Cá. Ngoài ra, Trung Quốc chỉ chấp nhận đường trung tuyến giữa đảo Hải Nam (của Trung Quốc) và bờ biển đất liền của Việt Nam, bác bỏ đề nghị của Hà Nội xem đường trung tuyến nằm giữa đảo Bạch Long Vĩ (của Việt Nam) và đảo Hải Nam. Sự khác biệt giữa 2 cách phân định lãnh hải này là vùng màu xám (xem hình bên dưới) với một diện tích lãnh hải trên 5 ngàn cây số vuông !

Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ do CSVN ký kết với Trung Cộng vào ngày 25-12-2000 phân chia lãnh hải như sau : Việt Nam - 53,23% (65.845,51km2) và Trung Quốc - 46,77% (57.854,49km2). Tổng diện tích lãnh hải của Vịnh Bắc Việt là 123.700km2, chiều ngang nơi rộng nhất là khoảng 320km2 (176 hải lý) và nơi hẹp nhất là khoảng 220km2 (119 hải lý). Từ số diện tích lãnh hải ban đầu với 62% (76.694km2) của tổng diện tích toàn Vịnh Bắc Việt, nay với Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam bị mất 8,77%, tức 10.848,49km2 lãnh hải !

Tóm lại, ngoài tầm quan trọng về mặt quốc phòng mà không ai có thể chối cãi được, Vịnh Bắc Việt còn có những giá trị to lớn về mặt thương mại, kinh tế và tài nguyên thiên nhiên. Việc chính quyền CSVN bất chấp quyền lợi quốc gia mà ngang nhiên ký kết với Trung Quốc Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá rõ ràng là một hành động quy hàng trước áp lực của ngoại bang hoặc đúng hơn là hành động bán nước, một trọng tội đối với tổ tiên và dân tộc.

Điều đáng nói là hành động này không phải là lần đầu tiên đảng CSVN cam tâm dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng. Văn thư nhượng bộ lãnh hải đã được Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14-09-1958, đồng ý với tuyên bố về lãnh hải và bản đồ 9 gạch của Trung Quốc ban hành ngày 04-09-1958, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, một lãnh hải chạy dài hết bờ biển Việt Nam cũng như bao quanh các quốc gia lân cận như Phi Luật Tân, Mã Lai và Nam Dương. Và chính văn thư này, hiện vẫn đang được đăng trên trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, đã được Trung Quốc dùng làm bằng chứng cho rằng Việt Nam đã xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn bộ vùng biển Đông được gọi là South China Sea.

Kế đến, vào ngày 14-03-1988, Trung Quốc đã ngang nhiên cưỡng chiếm vùng đá ngầm Ferry Cross Reef (Bãi Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa vào ngày 14-03-1988, trước sự chống đỡ yếu ớt và vô dụng của hải quân CSVN. Đảng CSVN một lần nữa cam tâm chấp nhận quy hàng và dâng hiến vùng lãnh hải này cho Trung Cộng. Ba chiến hạm của hải quân CSVN bị đánh chìm và trên 72 thủy thủ đoàn Việt Nam bị tử thương chẳng lẽ không phải là một nỗi nhục thất trận, mất nước và không đáng để toàn dân đau buồn, phẫn nộ ?

Những Mập Mờ, Giấu Giếm Tội Lỗi Trong Việc Ký Kết Các Hiệp Định Biên Giới Của Hà Nội.

Sự kiện CSVN đã phải giấu giếm bản Hiệp Định Biên Giới Trên Bộ (Việt-Trung) từ lúc được ký kết vào ngày 30/12/1999 cho đến ngày 29/08/2002, tức là trên 2 năm rưỡi sau và chỉ công bố nội dung Hiệp Định (nhưng chưa công bố bản đồ đi kèm) sau khi đồng bào trong và ngoài nước lên tiếng đòi hỏi. Điều này khiến dư luận quần chúng đặt vấn đề về sự mập mờ, động cơ giấu giếm tội lỗi và mức độ khả tín trong nội dung các bản văn cùng những nhận định của chính quyền Hà Nội liên quan đến các bản Hiệp Định về biên giới. Kể từ ngày ký 2 Hiệp Định về lãnh hải và đánh cá chung, đồng bào trong và ngoài nước, kể cả các đảng viên và đại biểu Quốc Hội CSVN cũng không được biết nội dung của 2 Hiệp Định này. Mãi đến tháng 2 năm 2001, Thứ trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng mới công bố vài điều tổng quát trên Tạp Chí Cộng Sản ; và trên Tạp Chí Tư Tưởng Văn Hóa số 3 năm 2001 cũng có ghi vài điều tóm lược về 2 Hiệp Định này. Câu hỏi bức xúc hiện nay của toàn dân trong và ngoài nước là tại sao Đảng CSVN vẫn tiếp tục giấu giếm nội dung Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá ? Đây rõ ràng là hành động cố tình che giấu những tội lỗi và thiệt hại trong việc ký kết 2 Hiệp Định này. Phải chăng Đảng CSVN đang khiếp sợ sự chất vấn và trừng phạt của toàn dân ?

Những Đòi Hỏi Của Người Việt Nam Trong và Ngoài Nước.

1. Công bố toàn bộ và đầy đủ nội dung chi tiết của các Hiệp Định Biên Giới Trên Đất Liền, Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá giữa Việt Nam và Trung Quốc trên báo chí cho toàn dân biết.

2. Công khai hóa trách nhiệm của các cá nhân và tập thể đã tham gia trong tiến trình đàm phán và ký kết các Hiệp Định này. Và yêu cầu Tổng Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, cùng các ông Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương và Nông Đức Mạnh ra trước quốc dân đồng bào để giải thích lý do ký kết các hiệp định này cùng với sự thật về những mất mát do các hiệp định này gây ra.

3. Chấm dứt tình trạng đàn áp, bắt bớ, xét xử bất công những người lên tiếng phản đối các Hiệp Định về biên giới trên đất liền, lãnh hải và nghề cá giữa Việt Nam và Trung Cộng.

Riêng đối với đồng bào trong nước, vì hoàn cảnh đấu tranh còn khắc nghiệt, hãy kiên quyết đòi hỏi 2 điều căn bản sau đây :

1. Đảng CSVN phải giải trình trước Quốc Hội hiện nay về nội dung các Hiệp Định đã được ký kết và nếu bị thiệt hại, Quốc Hội có trách nhiệm bãi bỏ tất cả các Hiệp Định này.

2. Đề nghị Quốc Hội đưa ra quyết định trưng cầu ý dân về các Hiệp Định liên quan đến biên giới trên đất liền, lãnh hải và đánh cá chung giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Song song với việc lên tiếng đòi hỏi những điều trên, đồng bào Việt Nam có thể tiếp tục mở rộng chiến dịch xin chữ ký của toàn dân trong và ngoài nước về bản "Tuyên Bố Về Hiệp Định Biên Giới Việt-Trung" do 20 nhà phản kháng trong nước cùng ký tên khởi xướng vào ngày 27-12-2002 và đã được đông đảo hội đoàn, thân hào nhân sĩ tại hải ngoại hưởng ứng ký tên chung trong Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ được tổ chức vào 2 ngày 28-29/12/2002 tại thủ phủ Little Sài Gòn, thuộc miền Nam tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Dân tộc ta đang đứng trước một vấn nạn vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tiền đồ tổ quốc và lịch sử dân tộc trong nhiều thế hệ con cháu mai sau. Nhưng đây cũng là một vấn nạn mà toàn dân trong và ngoài nước đều có sự đồng thuận sâu sắc và mạnh mẽ trong quyết tâm bảo toàn đất tổ và giữ vững chủ quyền đất nước. Điểm đồng thuận này vừa là động lực kết hợp vừa là vũ khí gia tăng sức mạnh đoàn kết của toàn dân nhắm vào 2 mục tiêu chính yếu hiện nay : a) thay đổi chế độ đã chịu trách nhiệm ký kết các hiệp định biên giới gây thiệt hại cho đất nước ; và b) bãi bỏ hoặc tái đàm phán các hiệp định này !

Lê Đoàn Việt