Phạm Đỉnh: Gs Nguyễn Huệ Chi là một nhà nghiên cứu văn học ở
trong nước. Những năm gần đây, ông có một số bài viết bộc lộ những trăn
trở của một người trí thức về những vấn đề liên quan đến tình trạng của
trí thức và văn hóa thời hiện tại, việc quản lí lãnh đạo họat động văn
hóa. Bài viết dưới đây có thể xem là một chứng từ về sự quản lí tồi dở
và tầm nhìn thiển cận của giới quản lí văn hóa. Chúng tôi trân trọng
giới thiệu bài viết này, trích theo bản in của talawas.
Gần đây, tôi được một nữ phóng viên đặt cho hai câu hỏi sau khi chị đi
thăm di tích Côn Sơn nổi tiếng trở về: 1. Tại sao ở nơi lưu danh những
nhân vật tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử như Trần Nguyên Đán, Nguyễn
Trãi lại có những kẻ ngang nhiên đục bừa bãi tên mình lên các tấm bia
đá cổ được các đời dựng làm lưu niệm, thậm chí bọn người làm việc vô
lương đó còn ghi rõ địa chỉ của họ là những môi trường học vấn (như
Cường và Duy ở Cao đẳng Sư phạm Hà Bắc; Quang, Quân, Vũ Anh Hào, Ngô
Tịch ở Cao đẳng Sư phạm Bắc Giang; Thành, Tuấn, Lê Huynh, Nguyễn Tiến
Huấn ở K2 Đại học Bách Khoa...)? 2. Tại sao các di tích văn hóa-lịch sử
của chúng ta lại không được chăm sóc chu đáo như ở các nước láng giềng,
và các bài văn bia không được dịch ra cho du khách hiểu, làm “chiếc cầu
nối” quá khứ với lớp người sinh sau đẻ muộn hôm nay?
Cả hai câu hỏi của chị đều gợi lên những vấn đề bức thiết, nhưng ngẫm
cho kỹ dường như chúng có mối liên quan nhân quả nào đó với nhau mà để
tìm được lời giải đáp thật “trúng”, quả không phải dễ dàng.
Việc xây dựng “chiếc cầu nối” giữa văn hóa truyền thống với thế hệ hôm
nay là điều hết sức cần kíp. Tạm giới hạn trong phạm vi các di tích,
việc đó đòi hỏi một đội ngũ có chuyên môn sâu, tinh thông Hán ngữ, và
có tấm lòng tận tụy đi về tận nơi có di tích nghiên cứu kỹ lưỡng rồi
giới thiệu sao cho hay, cho đúng nét đặc sắc của từng di tích hiện còn
ở từng địa phương cho gần xa cùng hiểu, rồi dịch các bài văn bia ra
tiếng Việt, sau đó chép lại trang trọng ở những nơi tấm bia được bảo
quản, nhằm giúp khách tham quan đọc, và từ đọc sẽ thấm, dần dần biết
quý công sức, tài năng, sự nghiệp, tâm huyết của cha ông. Đây là một
hướng làm marketing đòi hỏi phải có thực tài và thực tâm. Một đội ngũ
chuyên gia như thế hiện nay chưa có nhiều.
Nhưng vấn đề là “cung” phải xuất phát từ “cầu”. Cầu ở đây không phải là
nhu cầu của người xem di tích (nhu cầu ấy bao giờ mà chả có), mà là nhu
cầu của người có trách nhiệm bảo quản di tích. Chưa thấy một cơ quan
bảo tồn bảo tàng ở cấp nào “đặt hàng” cho giới chuyên môn để làm các
việc như tôi vừa nói. Thành thử, các di tích đối với khách tham quan từ
trước tới nay đa số vẫn chỉ biết “câm lặng”! Mà “câm lặng” thì cầm chắc
là một di tích chết, không chóng thì chầy số phận của chúng sẽ lâm
nguy. Tôi nhớ, trước đây hơn 40 năm, học giả Lê Thước đã lặn lội về
những nơi có dấu chân Nguyễn Trãi, về quê Tiên Điền của Nguyễn Du, để
điều tra lập hồ sơ di tích về hai danh nhân đó. Nhưng lập hồ sơ thì cứ
lập, còn giữ gìn di tích trên thực địa lại là một chuyện khác. Hãy cứ
thử soát lại hồ sơ tỉ mỉ của cụ Lê Thước rồi đối chiếu với tình trạng
thực của di tích hiện tại thì sẽ biết cái nào mất, cái nào còn, cái nào
đã biến dạng như thế nào. Có lẽ ta chưa có đủ kinh phí để làm công việc
giữ gìn, tôn tạo theo cái cách làm cho ra làm, ít ra là đối với những
di tích vào loại tiêu biểu chăng?
Nhưng nói chưa đủ kinh phí xem chừng vẫn chưa thuyết phục. Chẳng phải
ta đã bỏ tiền ra để trùng tu, quy hoạch Côn Sơn, Nhị Khê, Tiên Điền...
mỗi nơi chí ít cũng vài ba lần, tốn kém đến cả bao nhiêu chục tỷ đồng
đấy sao? Tại sao đi tham quan di tích của các nước, thấy người ta chăm
chút, trân trọng từng hiện vật rất nhỏ, rồi trở về nhìn lại cung cách
tu bổ chăm nom di tích của nước mình thì lại có tâm trạng xấu hổ đến
chán ngán? Hầu như khắp đất nước, đâu đâu cũng tôn tạo lại đình, chùa,
miếu mạo mà một thời đã từng bị đập cho tan nát, nhưng than ôi, tôn tạo
theo cái kiểu bôi xanh bôi đỏ lòe loẹt, chữ Hán viết đã xấu lại sai
lẫn, và cứ đến đình miếu nào cũng chỉ thấy rặt một vài câu sáo rỗng như
“Đức lưu phương 德 流 芳”, “Đức lưu quang 德 流 光” hay “Hộ quốc tý dân
護 國 庇 民” phô ra một cách hãnh diện, tưởng như không còn câu nào xứng
đáng hơn thế nữa. Chợt nghĩ nếu có một phái đoàn Trung Hoa nào nhỡ đến
tham quan một di tích hôm nay họ sẽ nghĩ ra sao về trình độ Hán học của
cha ông ta, vì họ có biết đâu những tấm biển “sản xuất đại trà” kia là
mới làm lại dăm ba năm nay. Trừ một ít di tích nào đấy thuộc “phương
diện quốc gia” người trùng tu còn cố gắng làm cho có vẻ tươm tất, ngoại
giả thì đều lợp ngói tây, xây tường con kiến, cột xi măng và vì kèo giả
gỗ, cong nơi này, vểnh nơi nọ... theo cách bôi bác, cẩu thả, có lẽ chỉ
cốt thỏa mãn tâm lý khao khát tín ngưỡng của người dân ngót sáu mươi
năm bị cấm đoán, và nhất là tâm lý của mấy vị chức sắc thích được người
ta khen địa phương mình đã biết tôn trọng “vốn cổ”, chứ có một công
trình tôn tạo nào làm với nhiệt huyết của người thật sự vì cái vốn
liếng quá khứ của dân tộc mà bảo tồn đâu (chưa nói việc tôn tạo có thể
còn đi kèm với hiệu quả... “tiết kiệm” được một khoản kha khá bỏ vào
hầu bao người lập dự án, thiết kế và thi công, nó là chuyện nhan nhản ở
xứ sở này, kể ra không xuể nên ở đây khỏi bàn). Cho nên làm xong rồi
thì phó mặc. Bao nhiêu tượng quý, bao nhiêu đồ thờ đáng giá ở không ít
đình chùa bị trộm nẫng mất (có chùa như Tây Phương chúng còn đem cần
cẩu đến bứng đi đàng hoàng) mà nếu tuần phòng không ngẫu nhiên bắt gặp
thì hiếm có một nơi nào điều tra ra. “Tiền thầy” đã bỏ túi rồi, sống
chết là chuyện tự anh phải lo lấy chứ! Còn công an? Họ cũng có quan tâm
đến một chừng mực nào đấy nhưng nhiều việc tày trời phát sinh như cơm
bữa, đuổi theo mướt mồ hôi còn chưa xuể, mấy cái chuyên án “đồ cổ” này
giải quyết được đến đâu hay đến đấy, dẫu có quan trọng đến mấy cũng nào
đã chết ai. Nội một việc như đục bừa lên bia đá Côn Sơn, người bảo vệ
di tích ngồi chỗ nào - hay đang bận đi “làm ăn” - mà không kịp thời
ngăn chặn? Đục một dòng chữ nào có phải vài phút mà nhoáng cái đã không
thấy tăm hơi “phường lòi tói” đó nữa. Nếu không ngăn chặn kịp thì sao
không lần theo địa chỉ của những kẻ “thiếu học” ấy, yêu cầu nhà trường,
cơ quan thi hành kỷ luật thật nặng đối với họ? Chẳng lẽ di tích đã được
xếp hạng, có biển cấm mà không có luật trị tội kẻ vi phạm lệnh cấm hay
sao?
Xét cho cùng, sự coi thường văn hóa của tổ tiên thấm vào trong tiềm
thức trong cốt tủy từ lâu như một căn bệnh mãn tính có lẽ mới là lý do
để cho những việc vừa dẫn ở trên cứ tiếp tục diễn ra không ngớt. Không
thể không nhắc lại rằng từ hơn 50 năm lại đây, văn hóa truyền thống đã
trải qua một “đại nạn”: vì nghĩ đây là những tàn tích phong kiến, chúng
ta đã công nhiên lên án chúng, thẳng tay “đàn áp”, “xử tội” chúng; đã
để cho bao nhiêu đình chùa, bia mộ, sách vở quý giá ở khắp mọi vùng bị
đốt phá, hoặc mất mát hư hỏng mà không một chút động tâm, như nhiều thế
hệ đã tận mắt nhìn thấy. Nhưng “đại nạn” liệu đã qua khỏi thật chưa khi
người ta mới chỉ quan tâm đến bảo vệ di tích một cách hình thức và vẫn
để cho việc trộm cắp cổ vật, lấn chiếm di chỉ, tự do đục khắc lên bia,
tháp, mộ, đập phá thành cổ, hang động để lấy đá, để tìm vàng... công
nhiên hoành hành? Trèo lên Ngọa Vân Am ở phía tây hòn Yên Tử, ở độ cao
khoảng 1.000 mét, nơi người anh hùng hai lần lãnh đạo cả nước chống
giặc Nguyên và cũng là vị tổ của nền Phật giáo thống nhất đời Trần:
dòng Thiền Trúc Lâm - Trần Nhân Tông - an tịch, người ta thấy choáng
váng đến sững sờ: ngôi Tháp Phật hoàng tức tháp Trần Nhân Tông cao sừng
sững, bị đào rỗng ruột đứng vật vờ trước gió, bài vị bằng đá đen và một
tấm đá bán nguyệt rất lớn khắc mấy chữ “Phật hoàng tháp” thật đẹp trong
niên hiệu Minh Mạng (1839) bị đập thành nhiều mảnh. Một tấm bia cao lớn
đề năm 1689 do chúa Trịnh Căn cho khắc để ghi nhớ việc ông dẫn các con
(vương tử và quận chúa) trèo lên đây chiêm bái người anh hùng, cũng bị
đập thành năm bảy mảnh. Bên cạnh đó, ở một ngọn núi khác có động Hồ
Thiên nằm ở độ cao khoảng 800 mét, cũng là nơi trần Nhân Tông tu Phật,
có nhiều ngôi tháp rất đẹp phía dưới bằng đá xanh phía trên bằng đá đỏ
gắn khít với nhau không hề thấy dấu vết vôi vữa, đều bị phạt ngang tất
cả. Một ngôi thạch thất được kiến tạo bằng những tấm đá xẻ mỏng rất to
lớn nguyên phiến không chắp, kể cả hai mái cũng bằng đá, cũng bị đào
rỗng phía dưới và đập vỡ mất một bên vách, mà ở trong còn dựng một tấm
bia chạm khắc tinh xảo vào thế kỷ XVIII (tấm bia sẽ đổ bất cứ lúc nào).
Rồi đình Trạo Hà ngay giữa thị xã Đông Triều có ngôi mộ một vị tướng
của Tây Sơn với bốn phiến đá trắng khắc mấy đạo sắc của Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ và Quang Toản cũng đang bị “đóng băng” để... ai kia tranh
thủ bán đất cho người ta xây cửa hàng cửa hiệu. Vân vân... Chúng tôi đã
gửi thư cấp báo đến Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa Thông tin
Quảng Ninh, cũng như đã khẩn thiết “báo cáo miệng” với Ủy ban Nhân dân
huyện Đông Triều (vào năm 1992 sau khi đi khảo sát trở về). Một cái
cười xã giao đầy “thông cảm”, và một sự im lặng kéo dài từ bấy đến nay
ở tất cả những cơ quan hữu trách... chốc đã chín mười năm (!!!). Sau
này mỗi lần nghĩ lại cái buổi chiều trèo đến bở hơi tai, lội qua tám
con suối và bị ong độc đuổi chạy rơi cả kính, lên đúng nơi có tiếng là
thiêng liêng nay đã trở thành một hoang tích ghê sợ - mà mấy chị đi
cùng đoàn không nén được đã bật khóc - tôi cứ lẩn thẩn nghĩ không hiểu
ông vua Trần lừng danh kia có tội tình gì mà bị người ta đối xử thậm tệ
đến vậy, một ông vua có tầm vóc trong lịch sử và có tư tưởng khoáng đạt
xứng đáng được cả dân tộc tôn vinh – có lẽ còn phải liệt tên ở trước Hồ
Chí Minh nữa kia. Hay vì ông đã hòa đồng Phật, Đạo với Nho, không nêu
tấm gương “cực quyền” để đời sau học hỏi, nên không xứng tư cách một
Hoàng đế đáng được tôn sùng?
Nhân nói về Hồ Chí Minh, tôi nhớ lại đã nhiều lần đưa khách nước ngoài
đi thăm một số di tích ở Hà Nội, nhưng hễ cứ đến ngắm cảnh quan chùa
Một Cột hiện nay là ai cũng ngao ngán lắc đầu. Bảo tàng Hồ Chí Minh đã
choán hết không gian của cụm chùa Diên Hựu và chùa Một Cột, đến nỗi mới
nhìn tưởng đâu như cụm di tích này là một thứ công trình phụ nép vào
Bảo tàng, hoặc được mọc lên từ một đáy giếng, không còn đâu một khoảng
trời xanh và một khuôn viên đủ rộng cho chúng nữa. Có lần, một vị khách
cảm thấy băn khoăn không nín nổi đã chỉ vào tòa nhà xòe cánh lừng lững
mà hỏi khéo tôi: “Có phải cái bông sen nở xòe to lớn ấy mọc lên đây
trước cả cái bông sen xinh xinh này phải không?” Tôi cười, biết rằng
ông khách có một vốn hiểu biết văn hóa Việt khá thâm thúy nên chơi chữ
với mình, bèn cũng chơi chữ lại: “Bông sen thời Lý mới nhú khiêm tốn
nên đứng âm thầm một góc khuất nẻo càng làm cho người ta quý, còn bông
sen thời nay là “sen vàng” (Kim Liên) đã tỏa sáng đến năm châu bốn
biển, nên phải vươn thật cao xòe cánh che lấy bầu trời chứ sao”. Nhưng
khi khách đã chia tay rồi, lòng tôi tự nhiên thấy trĩu nặng. Sao khi
tìm địa điểm làm Bảo tàng Hồ Chí Minh người ta không thèm hỏi gì giới
chuyên môn, để cho một di tích vào loại cổ nhất Thăng Long và là một
biểu trưng của Thăng Long ngàn năm văn vật - nên nhớ là vào năm 1954
khi người Pháp rút khỏi nơi đây có kẻ nào đó muốn phá biểu trưng kia đi
đã manh tâm giật sập chùa Một Cột - phải lâm vào tình trạng bị “cớm”
một cách tệ hại mà khách nước ngoài cũng phải thấy là bất nhẫn? Chẳng
lẽ với cơ chế này trí thức chẳng một ai có cơ hội bộc lộ chính kiến
thật của mình hay sao? Hay người ta có hỏi mà không ai dám trả lời?
Không giải đáp nổi thắc mắc cho mình, tôi bèn cất công đi tìm, thi hỡi
ôi, lại còn biết thêm một sự thật bàng hoàng hơn: khi xây Bảo tàng,
thấy chùa Diên Hựu đứng đó làm vướng víu cho công trình tưởng niệm Bác,
một chức sắc cao cấp trong ngành xây dựng chịu trách nhiệm thi công đã
ngấm ngầm lệnh cho thợ xây phun nước liên tục vào chùa cho nó sập quách
đi. May mà về sau có người - Gs. Trần Quốc Vượng - tìm mọi cách “rỉ
tai” nên trước nguy cơ ngàn cân treo sợi tóc, ngôi chùa vẫn còn giữ
được “cái mạng” già lão. Nghe rồi bần thần mất một lúc, lại liên tưởng
đến bọn Taliban đã phá hai tượng Phật khổng lồ ở Afghanistan. Hóa ra
mọi cái đầu độc tôn bản chất đều giống nhau, chỉ khác về tầm mức. “Đậm
đà bản sắc dân tộc” là đấy chăng, một hành vi tự tung tự tác, đối xử
“kẻ cả” với di sản, ngay cả một Hồ Tây bị lấn chiếm tứ phía, hết cả cái
lãng đãng khói sương mờ ảo từ lâu rồi, nhưng đến nay nguy cơ bị thu hẹp
diện tích cũng nào đã hết. Tại sao gia tài văn hóa của cụ Vương Hồng Sển để lại*,
từ người trong nước cũng như khách nước ngoài đều thấy là quý báu, thế
mà không thành lập nổi một “bảo tàng cổ vật Vương Hồng Sển”, khiến phải
phân tán đi ba bốn nơi? Thử hỏi, một ngôi nhà có từ thời nhà Nguyễn,
bao nhiêu là đồ cổ ngoạn có từ hàng mấy trăm năm, rồi những pho sách
hơn trăm tuổi... chúng đã gắn bó hữu cơ với nhau, nay đem xé lẻ ra thì
còn ra sao nữa. Mà những cổ vật bằng sứ quý như thế liệu có giữ được
khỏi “thất tán” hay không? Và những cuốn sách vốn đã cũ, đã giòn, nay
đem về thư viện cho người đọc bình thường tự do mượn đọc, liệu khuân ra
khuân vào được mấy lần thì nát? Và muốn mua lại được những cuốn sách vô
giá ấy hỏi biết đến bao giờ?!
Không nói đâu xa, ở di tích Côn Sơn, ngay trên đỉnh núi, nơi dấu tích
bàn cờ tiên của Nguyễn Trãi thuở xưa, nay không hiểu sao lại bị san
phẳng đi để xây lên đấy một nhà bia tưởng niệm Hồ Chí Minh. Thế là, vẻ
đẹp vẹn toàn của một hệ thống di tích nhìn từ thấp lên cao bỗng nhiên
bị phá vỡ. Hồ Chủ tịch về thăm Côn Sơn là việc bình thường hà cớ gì
phải khắc tên ông vào bia và cắm lên chỗ cao chót vót, cao hơn cả nơi
tưởng niệm Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Đán, khiến cho Bàn cờ tiên bỗng
biến mất? Nếu ông Hồ sống lại, chẳng biết ông có vui trước việc làm ngỡ
là tôn kính mình nhưng lại tàn hại cảnh quan nghiêm trọng như thế hay
không? Tất nhiên đây là việc của người phụ trách bảo tồn bảo tàng ở Sở
Văn hóa Thông tin Hải Dương, nhưng ví như do phải chiều theo thị hiếu
của một ai đi nữa, thì kiến thức và tầm nhìn của người chịu trách nhiệm
trước dân trong quản lý di tích ở đâu, vai trò của chính quyền nhà nước
các cấp ở đâu, hay là họ “không có thì giờ” đến thăm nom di tích? Mà
càng ngắm cái nhà bia, người xem lại càng thấy phải ngẫm nghĩ, bởi đó
vẫn là một kiểu nhà xi măng giả gỗ rẻ tiền, đặt vào quần thể những ngôi
nhà cổ của Côn Sơn ai cũng nhận ra là khập khiễng, hơn nữa lại có cả
một... “hòm công đức” đi kèm, và hàng quán mọc la liệt xung quanh.
Hãy nói sang di tích Nguyễn Du. Cách đây vài năm, người ta đã bỏ ra đến
khoảng mươi lăm tỷ đồng để dựng lên cả một khu “hoành tráng” có vườn
cây, nhà trưng bày, tượng ông Nguyễn Du trên bệ cao đang ngồi cầm bút
thật đĩnh đạc. Nhưng tượng ấy là tượng của Nguyễn Du ư? Còn nhớ vào năm
1965, để chuẩn bị kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, nhà phê bình Hoài
Thanh, Viện phó Viện Văn học, giao cho tôi thảo một lá đơn trình lên Bộ
Chính trị Trung ương Đảng nhân danh cá nhân ông, đề xuất việc làm tượng
cho Nguyễn Du dựa vào phương pháp Guerassimov, do chỗ ông căn cứ vào
báo cáo thực địa của cụ Lê Thước (năm 1958) và của tôi (năm 1961) về
việc mộ Nguyễn Du chỉ mới được cải táng từ Vườn Đào (nơi nhà riêng của
Nguyễn Du ở Tiên Điền) ra bãi cát hiện nay vào năm 1941 và theo gia
đình thì khi cải táng sọ vẫn còn nguyên. Theo cách tính toán của Hoài
Thanh, khoảng thời gian từ 1941 đến 1965 chưa xa là mấy, lại táng nơi
cát trắng, xương khó nát ngay được, nên ông đề nghị cho đào mộ lên gửi
hộp sọ sang Liên Xô để khôi phục lại nguyên dạng bộ mặt của Nguyễn Du.
Tốn kém không nhiều mà ta sẽ giữ được gương mặt duy nhất của một danh
nhân thời xưa đúng như thật. Tiêc thay, hai lần thảo thư cho ông rồi tự
ông cho đánh máy và gửi đi theo đường nào đấy mà không hề thấy hồi âm.
Tôi cứ nghĩ lúc ấy Bộ Chính trị chắc còn bận trăm công nghìn chuyện
nhằm đẩy mạnh cuộc chiến tranh miền Nam nên hẳn không có thì giờ để lo
việc dựng tượng một nhà thơ. Phía sau hậu trường không rõ thật hư thế
nào nhưng nghe đâu khi thông qua chủ trương kỷ niệm, vẫn có một đôi vị
chê trách nhà thơ của chúng ta đã để cho Từ Hải “bó thân về với triều
đình”, thậm chí họ còn giễu Từ Hải là “cái thằng ấy không chết đứng thì
cũng đến chết quỳ”. Mãi năm 1990 có dịp sang Liên Xô đọc sách ở Thư
vỉện Viện Viễn Đông tôi tìm thấy trong một tờ tạp chí của Trung Quốc
một cái tin làm cho mình sững người. Vào năm 1988 chính người Trung
Quốc đã làm một việc giống như Hoài Thanh từng mong mỏi. Sau khi tra
tìm được đích xác ngôi mộ của Ngô Thừa Ân tác giả Tây du ký
họ bèn cho đào lên và tìm thấy ba hộp sọ, mời chuyên gia Anh Pháp sang
làm việc thì xác định được một hộp sọ là nam, hai hộp sọ còn lại là nữ.
Mở gia phả ra biết Ngô Thừa Ân được hợp táng với hai vợ nên chắc chắn
đấy là sọ của tác giả Tây du ký rồi. Thế là một hợp đồng ký kết
ngay với chuyên gia nước ngoài (không phải Liên Xô) để các nhà khoa học
kỳ công dùng phương pháp phục chế từ hộp sọ mà khôi phục lại diện mạo
Ngô Thừa Ân. Sau đó họ đổ đồng, dựng tượng, và tự hào rằng họ đã có
được một Ngô Thừa Ân mặt mũi đúng như lúc sinh thời. Nghĩ đến Nguyễn Du
và cả đến tâm nguyện của Hoài Thanh tôi không khỏi thoáng chút ngậm
ngùi sao những con người đó lại... trót sinh ra làm người Việt Nam. Và
nghĩ đến nước Tàu, tôi lại muốn bắt chước Nam Cao mượn lời nhân vật
Hoàng trong truyện Đôi mắt: “Tiên sư anh Tào Tháo!”.
Gần đây nhân về thăm khu lưu niệm Nguyễn Du, thấy mộ ông mấy lần đập đi
xây lại rất tốn kém mà vẫn chẳng đẹp, hỏi thì người ta bảo: từ lần xây
đầu tiên đã định đào lên xác định lại vị trí để xây cho đúng chỗ, nhưng
có ngài quan chức vào hàng cao nhất trong tỉnh bấy giờ phán một lời
thật khôn ngoan: “Các anh đào lên nhỡ không còn thấy gì cả thì sao? Có
phải là làm cho dân thất vọng hay không? Cứ chỗ đó mà xây mộ thì yên ổn
đủ mọi bề, có hài cốt hay không ở dưới ấy nào ai có biết, mà mình cũng
đâu có cần, miễn là có một ngôi mộ là được”. Tôi nghe mà thấy sợ cho
cách nghĩ chỉn chu của một vị quan, nó là cái tiểu xảo muôn đời của sĩ
đại phu nước Việt. Ranh khôn đến thế thì ứng xử với văn hóa quá khứ
cách nào mà chẳng được. Chỉ có điều muốn có được một sản phẩm văn hóa
đích thực thì e sẽ chẳng bao giờ có (như câu chuyện Thành Lồi thuở nào
[1] ). Cũng như bao nhiêu nhà cửa, cầu cống, tượng, đài... đã xây ra,
đã dựng lên, luôn luôn được đài báo khoe là nhất Đông Nam Á, nhưng cứ
ngẫm xem, có mấy cái rồi sẽ bền vững với thời gian và in sâu trong ký
ức của đương thời và hậu thế, đánh dấu công trình của thời đại này?
Chỉ nói chừng ấy cũng đủ thấy việc chăm lo cho văn hóa truyền thống còn
bao nhiêu là vấn đề nổi cộm làm nhức nhối những người hiểu biết. Trách
nào lớp trẻ chả mạnh ai nấy khắc, vạch lên bia Thanh Hư động, đá Thạch
Bàn, tượng linga ở Mỹ Sơn và vô số những nơi khác mà chắc gì họ đã hiểu
đó là việc làm tội lỗi. Sự phô bày trắng trợn địa chỉ của họ ở các
trường cao đẳng, đại học hẳn hoi cho thấy nhà trường của ta hình như
không lấy việc giáo dục ý thức công dân cho học trò, phải biết coi
trọng lịch sử dân tộc làm việc hàng đầu, hay có giáo dục mà chẳng đến
đầu đến đũa. Song nói cho đáng tội, lớp trẻ hẳn cũng đã “lây” cái thái
độ coi thường văn hóa, hãnh tiến với quá khứ của cha chú họ. Vì thế,
việc cần kíp hiện nay, theo ý tôi, là phải xây dựng lại một cách nghiêm
túc và thật cơ bản ý thức lịch sử trong mọi tầng lớp quan chức từ cấp
cao nhất trở xuống cũng như trong dân chúng, xây dựng cả “quan trí” và
“dân trí” thì mới mong làm được “chiếc cầu nối” giữa quá khứ và hiện
tại.
9-2001/9-2005
Nguyễn Huệ Chi
[1]Truyền thuyết Thành Lồi kể rằng vào thế kỷ XIII, sau khi Huyền Trân
Công chúa không lên dàn thiêu chết theo chồng mà được Đỗ Khắc Chung cứu
thoát về Thăng Long, vua Chàm tức giận cho quân ra chiếm lại hai châu Ô
và Lý. Quân Việt kéo vào nhưng không đánh mà đem ra kế sách hai bên
cùng thi nhau xây một bức thành, trong một đêm nếu ai xây xong trước
thì sẽ thắng, bên kia phải tự nguyện rút quân. Trong khi quân Chàm do
tướng Lồi thật thà lo hùng hục đắp đất xây thành thì quân Việt giở trò
ranh mãnh làm một thành giả bằng phên tre rồi sơn phết như thật. Sáng
ra quân Chàm nhìn sang kinh hoảng vì thấy thành của mình xây còn dang
dở thế mà tòa thành của đối phương đã xong tự lúc nào. Họ bèn lặng lẽ
rút lui. Ngày nay vẫn còn dấu tích bức thành dang dở của quân Chàm
thuộc địa phận mấy xã Dương Xuân, Nguyệt biều, Thừa Thiên mà người ta
quen gọi là Thành Lồi (xin xem Kho tàng truyện cổ tích việt Nam 5 tập của Nguyễn Đổng Chi. Viện Văn học xuất bản, 1992).
Nguồn: Đã đăng một phần trên tạp chí Tia sáng, Hà Nội, số 11-2001
© 2005 talawas
* Trong trường hợp bài báo liên
quan đến "gia tài văn hoá cụ Vương Hồn gSển để lại" không hiện ra, bạn
đọc có thể tìm kiếm ở trang sau đây: http://www.sggp.org.vn/saigonthubay/nam2005/thang9/67822/