Nghiên-cứu vấn-đề « bán đất và nhượng biển » của đảng CSVN.
Mang Y Kien - Trương Nhân Tuấn - 09-09-2005
Vấn-đề Việt-Nam mất đất và biển cho Trung-Hoa do hậu-quả của các Hiệp-Ước ký năm 1999 và năm 2000 là một sự thật. Từ năm 2001, đã có nhiều người trong nước viết bài lên tiếng tố-cáo CSVN đã « bán đất và nhượng biển » cho Tàu. Những lời tố-cáo này hoàn-toàn hợp-lý vì nội-dung các bài viết đã dựa phần lớn lên thực-tế. Tiếng nói của những người viết ở trong nước biểu-lộ trước hết tình-cảm yêu nước nồng-nàn, nhưng đồng-thời bộc-lộ sau đó lòng can-đảm vô-biên. Hầu hết những người lên tiếng viết về biên-giới đều bị nhà-nước CSVN bắt bỏ tù như Lê Chí Quang, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình v.v.. Anh Nguyễn Vũ Bình bị kết án 7 năm tù và 3 năm quản-chế ngày 31 tháng 12 năm 2003.
Người viết bài này sẽ chứng-minh việc « bán đất và nhượng biển » của đảng CSVN là sự thật, bằng cách so-sánh đường biên-giới Việt-Trung theo Hiệp-Ước Biên-Giới 1999 (HUBG 1999) với đường biên-giới theo Công-Ước 1887, cũng như so-sánh tài-liệu của CSVN công-bố năm 1979 với các « đoạn biên-giới theo đường đỏ » của HUBG 1999.
Lời chứng-minh này thay lời biện-hộ cho những người yêu nước hiện còn đang trong vòng tù-tội vì đã dám nói lên sự-thật về lãnh-thổ quốc-gia.
Để tiện việc so-sánh, đường biên-giới sẽ được chia làm ba vùng : Quảng-Đông 1, Quảng-Tây và Vân-Nam như đường biên-giới đã được xác-định do Công-Ước Pháp-Thanh 1887.
Vùng tiếp-giáp Vân-Nam, nhờ có các biên-bản phân-giới do Ðại-Tá Pennequin2 thiết-lập, vùng này có thể so-sánh dễ-dàng. Vùng Quảng-Tây, tài-liệu thiếu-sót vì thất-lạc. Ðại-Tá Galliéni 3 có lập biên-bản phân-giới nhưng không mô-tả hướng đi của đường biên-giới. Các biên-bản phân-định 1887 thì chỉ có biên-bản của ông De St Chaffray 4 là có giá-trị. Mặt khác, nội-dung mơ-hồ của Hiệp-Ước Biên-Giới 1999 làm cho đoạn này khó so-sánh. Tuy-nhiên, hai bản tường-trình của Trung-Úy Querette 5 và Trung-Úy Détrie 6 , hai nhân-viên thuộc ủy-ban phân-giới, đã ghi lại tóm-tắt tình-trạng đường biên-giới. Vì vậy hai bản tường-trình này cũng có một giá-trị nhứt-định. Ông Quérette phụ-trách đoạn từ Lũng-Ban đến Vân-Nam, ông Détrie phụ-trách đoạn Lũng-Ban đến Ðèo-Lương. Người ta có thể dựa lên các bản tường-trình để bổ-túc cho việc xác-định vị-trị các cột mốc (thí-dụ cột mốc 53 thác Bản-Giốc). Nhật-ký phân-giới của Ðại-Tá Servière 7 , sau đó Ðại-Tá Galliéni tiếp-tục, cho chúng ta những chi-tiết quí-giá, thí-dụ vị-trí cột mốc tại núi Khấu-Mai mà biên-bản phân-giới đã không ghi rõ. Ðoạn biên-giới Quảng-Ðông tương-đối ngắn, biên-giới phần lớn là con sông, các biên-bản do Chiniac De Labastide 8 và Galliéni lập rõ-ràng, việc so-sánh không khó. Ðiều quan-trọng, hiện nay tại Văn-Khố Hải-Ngại Pháp tại Aix-En-Provence (CAOM), ngoài hồ-sơ phân-định biên-giới 1887-1897 đã được trình-bày ở các chương trước 9 , một số bộ bản-đồ 1/50.000 và 1/100.000 vẫn còn được giữ nguyên-vẹn. Hiệp-ước Lào-Việt 1977 phân-định căn-bản trên bộ bản-đồ SGI xuất-bản năm 1948.
Việc so-sánh cụ-thể đường biên-giới sẽ dễ-dàng và có thể thực-hiện bất-kỳ lúc
nào mà bản-đồ của HUBG 1999 công-bố.
Theo HUBG 1999, biên-giới vùng Vân-Nam
từ giới-điểm số 1 đến giới-điểm số 21. Vùng Quảng-Tây từ giới-điểm 22 đến
giới-điểm 52. Phần còn lại thuộc biên-giới Quảng-Ðông 10 .
Ở những nơi có thể so-sánh, ta thấy hai đường biên-giới có một số khác biệt.
Giới điểm số 1 : đỉnh Khoan-La
Sơn, là giao-điểm 3 biên-giới Trung-Hoa – Lào - Việt-Nam. Ðiểm này không
trùng-hợp với giới-điểm theo Hiệp-Ước Lào-Việt.
HUBG 1999 : « Giới điểm số 1 ở điểm có độ
cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), điểm này cách điểm có độ cao
1439 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có
độ cao 1691 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây - Tây Bắc, cách
điểm có độ cao 1208 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Nam. ».
Hiệp-Ước Việt-Lào 11 :
« Khởi đầu từ điểm có tọa-độ 110 G 89’ 03’’ – 24 G 89’ 06’’, điểm này cách
điểm cao 1865 – Khoan La San (có ký-hiệu điểm tam-giác) khoảng 120 m (một trăm
hai mươi mét) về phía Bắc Tây Bắc, đường biên-giới đi hướng Đông Nam theo sống
núi đến điểm cao 1850 (có ký-hiệu điểm tam-giác) ; rồi chuyển hướng Tây Nam theo
sống núi Y Ma Ho, trở lại hướng Đông Nam theo sống núi San Cho Kay ... »
Giới điểm số 3 : Sông Nậm-Xí-Lùng, HUBG 1999 xác-định sông này là đường biên-giới. Nhưng theo bản-đồ CUBG 1887 do August Pavie thiết-lập năm 1893, sông này thuộc về Việt-Nam và cách biên-giới khoảng vài cây số.
Giới điểm số 6 : Ðường
biên-giới 1887 « gặp sông Thiên-Hà » trong khi ở HUBG 1999 « gặp nhánh suối
không tên ».
Ðường biên-giới HUBG 1999
mô-tả : « xuôi sông Bá-Kết rồi xuôi theo suối Lũng Pô (Hồng Nham) và hạ lưu
của nó, hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông này với sông Hồng, từ đó đường
biên giới xuôi sông Hồng, hướng Đông Nam đến hợp lưu sông Hồng với sông Nậm Thi
(Nam Khê), tiếp đó ngược sông Nậm Thi (Nam Khê), hướng chung Đông Bắc đến hợp
lưu sông Nậm Thi (Nam Khê) với sông Bá Kết (Bá Cát), rồi ngược sông Bá Kết (Bát
Tự), hướng chung là hướng Bắc đến hợp lưu sông này với một nhánh suối không
tên, sau đó ngược nhánh suối không tên đó, hướng Bắc đến giới điểm số 7.
»
CUBG 1887 : « Từ hợp-lưu sông
Long-Bác với sông Hồng, đường biên giới theo trung-tuyến sông Hồng cho đến
hợp-lưu của sông này với sông Nam-Tây (Nam Tây Hà 南洗河 HUBG 1999 ghi là sông
Nam-Khê, chú-thích tg), sau đó đường biên-giới theo sông Nam-Tây cho đến hợp-lưu
giữa nó với sông Bá-Kết (Bá Kết Hà 垻結河), đường biên-giới đi ngược sông Bá-Kết
cho đến hợp-lưu giữa nó với con sông có tên Thiên (Thiên Hà 千河), sau đó
theo Thiên-Hà cho đến điểm mà con sông nhỏ này bị cắt ngang do con đường từ
Cốc-Phương (谷方) đến Lão-Ao-Trang (老凹), tức là cách làng Cốc-Phương 900
thước. 12 »
Giới điểm số 8 : Có sự khác
biệt về hợp-lưu hai con sông Chảy và Nam-Len (Ðông Nhai Hà) theo CUBG 1887, với
hợp-lưu của hai con sông Chảy và sông Xiao-Bai theo HUBG 1999.
HUBG 1999 « Từ giới điểm số 8, đường biên
giới xuôi sông Xanh (Qua Sách), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu sông này
với sông Chảy, rồi ngược sông Chảy, hướng chung Đông Nam, đến giới điểm số 9.
Giới điểm này ở hợp lưu sông Chảy với sông Xiao Bai… ».
CUBG 1887 : « Từ điểm chấm dứt đoạn
biên-giới thứ nhứt trên sông Qua-Sách (Qua Sách Hà 戈 索 河 ), đường biên giới từ
điểm này xuôi dòng chảy cho đến hợp-lưu với sông Chảy (Hắc Hà 黑河), đường
biên-giới rời sông Qua-Sách bắt qua sông Chảy, đi ngược sông cho đến điểm
hợp-lưu với sông Nam-Len (Ðông-Nhai Hà 銅 街 河) 13. »
Giới điểm số 9 : Ðường
biên-giới 1999, ngoài khoảng « theo đường đỏ » bị thay đổi, còn sai biệt là
không theo sông Qua-Nhai như CUBG 1887.
HUBG 1999 « Từ giới điểm số 9, đường biên
giới rời sông, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua
điểm có độ cao 741 đến điểm có độ cao 1326, sau đó theo đường phân thủy giữa các
nhánh của sông Chảy đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh của sông Xiao Bai đổ
vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1681,
1541, 1716, 2002, 1964, đỉnh núi không tên (Đại Nham Động) đến điểm có độ cao
1804, từ đó, theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ
cao 1623, sau đó theo đường phân thủy giữa suối Nàn Xỉn trong lãnh thổ Việt Nam
và sông Xiao Bai trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao
1638 đến điểm có độ cao 1661, rồi theo khe, hướng Đông Bắc xuống giữa suối Hồ
Pả, tiếp đó xuôi suối này đến hợp lưu suối này với một nhánh khác của nó, rồi
rời suối bắt vào sống núi, rồi theo sống núi hướng Tây - Tây Bắc, qua điểm có độ
cao 1259 đến giới điểm số 10. »
CUBG 1887 : « Ðường biên-giới sau đó lên bộ
theo hướng Ðông-Bắc, trước hết theo đường phân-thủy chia thung-lũng sông Chảy
với thung-lũng sông Nam-Len (Ðông-Nhai Hà), sau đó theo đường phân-thủy chia
thung-lũng sông Nam-Tùng (Nam Tùng Hà 南松河) và sông Qua-Nhai (Qua Nhai
Hà戈街河).
Ðường biên-giới xuống
đột-ngột để bắt vào sông Qua-Nhai, tại điểm cách hợp-lưu sông này với
sông Nam-Bắc Hà (南北河) khoảng 300 thước, đi ngược sông cho đến giao-điểm của sông
này với đường từ Bảo-Lương Nhai (保良街) đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡) . 14»
Ở các giới điểm 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 21, 22, 24, 26, 27, 31, 34, 35 (thác Bản-Giốc), 36, 39, 42 (Khấu-Mai Lĩnh), 43, 44, 47, 48, 49 (Ðại-Nam Quan), 50, 51, 54 (Trình-Tường) đường biên-giới có thay đổi (theo đường đỏ).
Ở những nơi « đường biên-giới theo đường đỏ trên bản-đồ đính kèm » thì không thể kiểm-chứng vì các « bản-đồ đính kèm » chưa được CSVN công-bố. Ngoại trừ vùng Ðại-Nam Quan, bản-đồ mang số 249 C và vùng thác Bản-Giốc, bản-đồ mang số 186 C 15.
Các giới-điểm cũng rất khó kiểm-chứng, mặc dầu đã được mô-tả cao-độ, khoảng-cách với các cao-điểm khác chung-quanh, nhưng không thể nhận-diện nếu không có bản-đồ không-ảnh chụp ba chiều. Tuy-nhiên, nếu đọc nguyên-văn lời tố-cáo của CSVN trước dư-luận quốc-tế năm 1979, về những vụ Trung-Cộng lấn đất từ năm 1954 đến nay, một số nghi-vấn sẽ được giải-tỏa.
Các đoạn biên-giới « theo đường đỏ » thực ra là những đoạn biên-giới đã được sửa-chữa vì bị Trung-Cộng lấn-chiếm. HUBG 1999 có thể nhằm mục-đích chính-thức-hóa việc chiếm đất của Trung-Cộng. Người ta cho rằng CSVN « bán đất, nhượng biển » vì thế đều có căn-cứ. Nguyên-bản tài-liệu này được chụp hình ở trong chương 9 phụ-lục. Tài-liệu có tựa-đề : « Tình-hình Trung-Quốc lấn chiếm lãnh-thổ Việt-Nam từ năm 1954 đến nay. » 16 Nguyên-văn các đoạn liên-hệ đến « biên-giới theo đường đỏ » như sau :
1/ Từ xâm-canh, xâm-cư đến xâm-chiếm đất.
Lợi-dụng đặc-điểm là núi-sông hai
nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân-dân hai bên biên-giới vốn có quan-hệ
họ-hàng, dân-tộc, phía Trung-Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh-thổ Việt-Nam
để làm ruộng, làm nương, rồi định-cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng,
nương, cuối cùng nhà cầm-quyền Trung-Quốc ngang-ngược coi những khu-vực đó là
lãnh-thổ Trung-Quốc.
Khu-vực
Trình-Tường thuộc tỉnh Quảng-Ninh là một thí-dụ điển-hình cho kiểu lấn-chiếm đó.
Khu-vực này được các văn-bản và các bản-đồ hoạch-định và cắm mốc xác-định
rõ-ràng là thuộc lãnh-thổ Việt-Nam: đường biên-giới lịch-sử tại đây đi qua một
dải núi cao, chỉ rõ làng Trình-Tường và vùng chung-quanh là lãnh-thổ Việt-Nam.
Trên thực-tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình-Tường, những người
dân Trung-Quốc sang quá-canh ở Trình-Tường đều đóng thuế cho nhà đương-cục
Việt-Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung-Quốc tìm cách nắm số dân sang làm ăn ở
Trình-Tường bằng cách cung-cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và
nhiều hàng khác, đưa họ vào công-xã Ðồng-Tâm thuộc huyện Ðông-Hưng, khu tự-trị
Choang - Quảng-Tây. Nhà đương-cục Trung-Quốc ngiễm-nhiên biến một vùng lãnh-thổ
Việt-Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300 m thành sở-hữu tập-thể của một công-xã
Trung-Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt-Nam đã nhiều đời nay làm ăn
sinh-sống ở Trình-Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện-thoại, tự cho phép đi
tuần-tra khu-vực này, đơn-phương sửa lại đường biên-gới sang đồi Khâu-Thúc của
Việt-Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành-hung, bắt cóc công-an vũ-trang
Việt-Nam đi tuần-tra theo đường biên-giới lịch-sử và họ phá-hoại hoa-mầu của
nhân-dân địa-phương. Trình-Tường không phải là một trường-hợp riêng-lẻ, còn đến
trên 40 điểm khác mà phía Trung-Quốc tranh-lấn với thủ-đoạn tương-tự như xã
Thanh-Loa, huyện Cao-Lộc (mốc 25,26,27) ở Lạng-Sơn, Khẳm-Khau (mốc 17-19), ở
Cao-Bằng, Tả-Lũng, Làn-Phù-Phìn, Minh-Tân (mốc 14) ở Hà-Tuyên, khu-vực xã
Nam-Chay (mốc 2-3) ờ Hoàng-Liên-Sơn với chiều dài hơn 4 Km, sâu hơn 1 Km;
diện-tích hơn 300 héc-ta.
Có thể nói
đây là một kiểu chiếm đất một cách êm-lặng.
Biên-giới vùng Trình-Tường, hiện nay
có tranh-chấp, tương-ứng các cột mốc 30, 31, 32 của CUBG 1887, được xác-định qua
biên-bản 21 tháng 12 năm 1893 : «La frontière suivra ensuite le cours de ce
même affluent jusqu’à son intersection avec le ruisseau qui prend sa source à
500 mètres de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang) ; elle
suivra ce ruisseau depuis cette intersection jusqu’à sa source ; de là, elle se
dirigera par des lignes droites jusqu’à 北崗 (en annamite Bac Cuong Aï, en chinois
Pé Kang Aï), passant par les sommets 675, 812 et 746 qui se trouvent au N.O. de
Trinh Tuong.
Le village de
Trinh Tuong appartient à l’Annam ; ceux de 衞慙 (en annamite Vệ Tàm, en
chinois Shu Tsan) et de 矯曹(en annamite Kiểu-Tào, en chinois Kiao Tsao) à la
Chine. »
Ðường biên-giới sau đó
là cũng là phụ-lưu nói trên cho tới giao điểm của sông này với con suối mà nguồn
của nó cách Trịnh-Tường 呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên-giới theo dòng suối
này từ giao-điểm cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên-giới theo những đường
thẳng cho tới Bắc-Cương Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía
Tây-Bắc Trịnh-Tường.
Làng
Trịnh-Tường thuộc về Việt-Nam ; các làng Vệ-Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu-Tào
矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung-Hoa. »
Biên-bản đã xác-định rõ rệt làng Trình-Tường
thuộc về Việt-Nam. Biên-giới tại đây được xác định là những đường thẳng nối
các đỉnh cao 675, 812 và 746. Các đỉnh này ở về phía Tây-Bắc
Trình-Tường.
Ðây là đoạn « biên-giới
theo đường đỏ » gần mốc giới 54 của HUBG 1999. Vì chưa biết được hình-dạng «
đường đỏ » phân-chia vùng này thế nào nên không thể kết-luận. Theo tài-liệu thì
có tới 40 vùng như thế trên biên-giới. Người thông-hiểu tình-hình trong nước nói
rằng Việt-Nam mất 750km² đất.
Biên-giới xã Thanh-Loa, huyện Cao-Lộc, Lạng-Sơn
bị lấn ở đoạn Bản-Phiêu Ngoại Sách (cột mốc 25), Pháp-Ca Sơn (26), Bộ-Tác Sơn
(27). Vùng này tương-ứng với đoạn « biên-giới theo đường đỏ » ở mốc giới
50.
Vùng Khảm-Khau (cột mốc 17
Canh-Hoa Ải ; 19 Lũng-Dương Ca) Cao-Bằng, tương-ứng vùng « đường đỏ » thuộc
giới-điểm 44 của HUBG 1999.
Ðoạn các
giới-điểm 46, 47, 48 và 49 thuộc đoạn biên-giới từ Bình-Nhi Quan đến Ðại-Nam
Quan.
2/ Lợi-dụng việc xây-dựng các công-trình hữu-nghị để đẩy lùi biên-giới sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam.
Năm 1955, tại khu-vực Hữu-Nghị
Quan, khi giúp Việt-Nam khôi-phục đoạn đường sắt từ biên-giới Việt-Trung đến
Yên-Viên, gần Hà-Nội, lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, phía Trung-Quốc đã đặt
điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh-thổ Việt-Nam trên 300m so với
đường biên-giới lịch-sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên-giới giữa hai
nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính-Phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa đã
đề-nghị chính-phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều-chỉnh lại điểm
nối ray cho phù-hợp với đường biên-giới lịch-sử nhưng họ một-mực khước-từ bằng
cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn-bộ vấn-đề biên-giới thì sẽ xem-xét. Cho đến
nay họ vẫn trắng-trợn ngụy-biện rằng khu-vực hơn 300m đường sắt đó là đất
Trung-Quốc với lập-luận rằng “không thể có đường sắt nuớc này đặt trên lãnh-thổ
nước khác”.
Cũng tại khu-vực này, phía
Trung-Quốc đã ủi nát mốc biên-giới số 18 nằm cách cửa Nam-Quan 100m trên đường
Quốc-Lộ để xóa vết-tích đường biên-giới lịch-sử, rồi đặt cột mốc ki-lô-mét 0
đường bộ sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam trên 100m, coi đó là vị-trí đường quốc-giới
giữa hai nước ở khu-vực này.
Như vậy,
họ đã lấn-chiếm một khu-vực liên-hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã
Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn của Việt-Nam, dài 3.100km (có lẽ ghi
sai, m chứ không thể km, chú-thích của tác-giả) và vào sâu đất Việt-Nam 0,500
km. Năm 1975, tại khu-vực mốc 23 (xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn), họ
định diễn lại thủ-đoạn tương-tự khi hai bên phối hợp đặt ống dẫn dầu chạy qua
biên-giới: phía Việt-Nam đề-nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên-giới,
họ đã từ-chối, do đó bỏ dở công-trình này.
Khi xây-dựng các công-trình cầu-cống trên sông,
suối biên-giới, phía Trung-Quốc cũng lợi-dụng việc thiết-kế kỹ-thuật làm thay
đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt-Nam, để nhận đường biên-giới có lợi
cho phía Trung-Quốc.
Các cầu ngầm
Hoành-Mô thuộc tỉnh Quảng-Ninh được Trung-Quốc giúp xây-dựng vào năm 1968. Một
thời-gian dài sau khi cầu được xây-dựng xong, hai bên vẫn tôn-trọng đường
biên-giới ở giữa cầu; vật-liệu dự-trữ để sửa-chữa cầu sau nầy cũng được đặt ở
mỗi bên với số-lượng bằng nhau tính theo đường biên-giới ở giữa cầu. Nhưng do
Trung-Quốc có sẵn ý-đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt-Nam nên
lưu-lượng dòng chảy đã chuyển hẵn sang phía Việt-Nam, từ đó phía Trung-Quốc dịch
đường biên-giới trên cầu qua sang đất Việt-Nam. Thủ-đoạn như vậy cũng thực-hiện
đối với cầu ngầm Pò-Hèn (Quảng-Ninh), đập Ái-Cảnh (Cao-Bằng), cầu Ba-Nậm-Cúm
(Lai-Châu)...
Ðoạn « biên-giới theo đường đỏ » vùng Ðại-Nam Quan tương-ứng mốc-giới 49.
3/ Ðơn-phương xây-dựng các công-trình ở biên-giới lấn sang đất Việt-Nam. Trên đoạn biên-giới đất liền cũng như các đoạn biên-giới đi theo sông-suối, tại nhiều nơi, phía Trung-Quốc đã tự-tiện mở rộng xây-dựng các công-trình để từng bước xâm-lấn đất.
Tại khu-vực cột mốc 53 (xã
Ðàm-Thủy, huyện Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng) trên sông Qui-Thuận có thác
Bản-Giốc, từ lâu là của Việt-Nam và chính-quyền Bắc-Kinh cũng đã công-nhận sự
thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung-Quốc đã huy-động trên 2.000 người
kể cả lực-lượng vũ-trang lập-thành hàng rào bố-phòng dày-dặc bao-quanh toàn-bộ
khu-vực thác Bản-Giốc thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, cho công-nhân cấp-tốc xây-dựng
một đập kiên-cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên-giới, làm việc đã
rồi, xâm-phạm lãnh-thổ Việt-Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang-nhiên nhận cồn này
là của Trung-Quốc.
Các thị-trấn
Ái-Ðiểm (đối-diện với Chi-Ma, Lạng-Sơn), Bình-Mãng (đối-diện Sóc-Giang,
Cao-Bằng) vốn đã nằm sát các mốc-giới 43 và 114, lại ngày càng được phía
Trung-Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt-Nam từ hàng chục đến đến hàng trăm mét
với công-trình nhà-cửa, trường-học, khu-phố ...
Bằng cách tổ-chức lâm-trường, trồng cây gây
rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ-thống điện cao-thế, điện-thoại lấn vào lãnh-thổ
Việt-Nam, Trung-Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt-Nam thành đất của
Trung-Quốc.
Ðoạn ải Chí-Mã (Ải-Ðiếm Ải Khẩu, không phải Ái-Ðiểm) là cột mốc 44, không phải cột 43. Cột mốc 43 có tên Ðạo-Nê Sơn. Ðoạn này tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận mốc-giới 51. Cột mốc 114 ở Cao-Bằng có tên Bình-Mãng Ải Khẩu. Ðoạn thác Bản-Giốc « theo đường đỏ » ở khoảng mốc-giới 35.
4/ Từ mượn đất của Việt-Nam đến biến thành lãnh-thổ của Trung-Quốc.
Ở một số địa-phương, do địa-hình phức-tạp, điều-kiện sinh-hoạt của dân-cư Trung-Quốc gặp khó-khăn, theo yêu-cầu phía Trung-Quốc, Việt-Nam đã cho Trung-Quốc mượn đường đi lại , cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy của, đặt mồ-mả... trên đất Việt-Nam, họ đã dần-dần mặc-nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung-Quốc. Khu-vực Phia-Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà-Lĩnh, tỉnh Cao-Bằng là điển-hình cho kiểu lấn-chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung-Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại đuợc vào khu-vực mỏ của Trung-Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào thực-tế đó, từ 1956 họ không thừa-nhận đường biên-giới lịch-sử chạy trên đỉnh núi Phia-Un mà đòi biên-giới chạy xa về phía Nam con đường, sâu vào đất Việt-Nam trên 500 mét. Lý-lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung-Quốc sao họ có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện-thoại được... Nguyên-nhân chủ-yếu của việc họ lấn chiếm là vì khu-vực Phia-Un có mỏ măng-gan.
Cột mốc 94 tên Kim-Thiền Khẩu và cột 95 mang tên Tứ-Bang Lĩnh. Vùng này tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận mốc-giới 27.
5/ Xê-dịch và xuyên-tạc pháp-lý các mốc-giới để sửa-đổi đường biên-giới.
Ngoài việc lợi-dụng một số các mốc-giới đã bị Trung-Quốc xê-dịch từ trước sai với nguyên-trạng đường biên-giới lịch-sử để chiếm-giữ trái phép đất Việt-Nam, nay phía Trung-Quốc cũng tự ý di-chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén-lút đập-phá, thủ-tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu-vực Chi-Ma (Lạng-Sơn), khu-vực mốc 136 ở Cao-Bằng... Ðối với những trường-hợp như vậy, họ đều khước-từ đề-nghị của phía Việt-Nam về việc hai bên cùng điều-tra và lập biên-bản xác-nhận. Ngay tại một số nơi mà vị-trí mốc giới đặt đúng với đường biên-giới lịch-sử, họ cũng tìm cách xuyên-tạc đường biên-giới đã rõ-ràng chạy giữa hai mốc như khu-vực Kùm-Mu – Kim-Ngân - Mẫu-Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng-Sơn dài trên 2,5 Km, diện-tích gần 1.000 héc-ta, khu-vực Nà-Pảng – Kéo-Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao-Bằng, dài 6,45 Km, sâu vào đất Việt-Nam 1,3 Km, diện-tích gần 200 héc-ta.
Mốc 41 là Lục-Vinh Sơn, 42 Công-Mẫu Sơn, 43 Đạo-Nê Sơn. Mốc 136 (Cao-Bằng) Bạch-Hoài Đại Ải. Cột mốc 29 Tam-Sắc Sơn, 30 Khấu-Sơn Ngoại Sách, 31 Khô-Liểu Lĩnh.
6/ Làm đường biên-giới lấn sang Việt-Nam.
Ðể chuẩn-bị cho các cuộc tiến-công xâm-lược Việt-Nam, liên-tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung-Quốc đã thực-hiện kế-hoạch làm đường biên-giới qui-mô lớn nấp dưới danh-nghĩa là để “cơ-giới-hóa nông-nghiệp”. Ðặc-biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ào-ạt những chiến-dịch làm đường, có nơi huy-động một lúc 8.000 người vào công-việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di-tích về đường biên-giới lịch-sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh-thổ Việt-Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên-giới họ đã lấn vào đất Việt-Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện-tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt-Nam trên 1 km như khu-vực giữa cột mốc 63-65 thuộc huyện Trà-Lĩnh, tỉnh Cao-Bằng hay khu-vực giữa mốc 1-2 Cao-Ma-Pờ thuộc tỉnh Hà-Tuyên dài 4 km, sâu vào đất Việt-Nam 2 km.
Vùng Cao-Ma-Pờ, thực ra là Cao-Mã-Bạch, cột mốc số 1 ở trên đèo, cách Tân-Nham 2 dặm và mốc số 2 trên đỉnh đèo ở phía Bắc Cao-Mã-Bạch. Tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận giới-điểm 21.
7/ Lợi-dụng vẽ bản-đồ giúp Việt-Nam để chuyển-dịch đường biên-giới.
Năm 1955-1956, Việt-Nam đã nhờ Trung-Quốc in lại bản-đồ nước Việt-Nam tỉ-lệ 1/100.000. Lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, họ đã sửa ký-hiệu một số đoạn đường biên-giới dịch về phía Việt-Nam, biến vùng đất của Việt-Nam thành của Trung-Quốc. Thí-dụ: họ đã sửa ký-hiệu ở khu-vực thác Bản-Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao-Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản-Giốc của Việt-Nam và cồn Pò-Thoong.
8/ Dùng lực-lượng vũ-trang uy-hiếp và đóng chốt để chiếm đất.
Trên một số địa-bàn quan-trọng,
phía Trung-Quốc trắng-trợn dùng lực-lượng vũ-trang để cố đạt tới mục-đích
xâm-lấn lãnh-thổ. Tại khu-vực Trà-Mần - Suối-Lũng (mốc 136 – 137) thuộc huyện
Bảo-Lạc, tỉnh Cao-Bằng, năm 1953 Trung-Quốc đã cho một số hộ dân Trung-Quốc sang
xâm-cư ở cùng với dân của Việt-Nam; sau đó, họ tiếp-tục đưa dân sang thêm
hình-thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân-khẩu mà họ đặt tên là Si Lũng theo tên một
làng của Trung-Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung-Quốc vẫn
thừa-nhận khu-vực này là đất của Việt-Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến-hành việc
dựng trường học, bắc dây truyền-thanh đào hố khai-thác than chì rồi ngang-nhiên
cắm cờ biểu-thị chủ-quyền lãnh-thổ của Trung-Quốc. Tháng 6 năm 1976, họ đã
trắng-trợn đưa lực-lượng vũ-trang đến đóng chốt để đàn-áp quần-chúng đấu-tranh
và ngăn-cản việc tuần-tra của Việt-Nam vào khu-vực này, chiếm hẵn một vùng đất
Việt-Nam trên 3,2 Km, có mỏ than chì.
Ở khu-vực giữa mốc 2 – 3 thuộc xã Nậm-Chảy,
huyện Mường-Khương, tỉnh Hoàng-Liên-Sơn cũng xãy ra tình-hình như vậy. Năm 1967
– 1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã-Quan, tỉnh Vân-Nam (Trung-Quốc) chạy
sang định-cư ở đây. Phía Việt-Nam đã yêu-cầu phía Trung-Quốc đưa số dân đó trở
về Trung-Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp-tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm
152 người, vào vùng này thu-thuế phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo
nầy là “Sìn-Sài-Thàng”, tên của một bản Trung-Quốc ở bên kia biên-giới cách
khu-vực nầy 3 Km. Mặc dù phía Việt-Nam đã nhiều lần kháng-nghị, họ vẫn không rút
số dân đó đi, trái lại, đầu năm 1976 còn đưa lực-lượng vũ-trang vào đóng-chốt
chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện-thoại, loa phóng-thanh, dựng trường
học, tổ-chức đội sản-xuất, coi là lãnh-thổ của Trung-Quốc.
Cột mốc 136 có tên Bạch-Hoài Ðại Ải và cột mốc 137 Cốc-Tùng Sơn, tương-ứng vùng « biên-giới theo đường đỏ » ở mốc giới 22. Mốc số 2, trên đường từ Long-Ba-Mỹ đến Bạch-Thạch Nhai, cột số 3 trên đường từ Nam-Trại đến Giáp-Mã-Thạch (Lào-Cai - Vân-Nam, biên-bản số 2 ngày 13 tháng 6 năm 1897), tương-ứng đoạn « đường đỏ » thuộc mốc giới số 9. Trong đoạn này có mỏ than chì ở Suối Lũng.
Từ thực-tế cho đến tài-liệu trên, CSVN đã để lộ trước hết cái dại-dột của người lãnh-đạo. Đoạn liên-quan Trình-Tường cũng như nhiều đoạn khác, biết được thái-độ của Trung-Cộng, ta không khỏi tự hỏi « chẳng lẻ đất nước này vô chủ hay sao ? ». CSVN để lộ rõ-rệt hơn bao giờ hết tinh-thần « quốc-tế » nhưng bạc-bẻo với dân và hờ-hửng đối với đất nước.
Nếu ta trở lại vấn-đề Hoàng-Sa, từ khi chính-phủ CSVN hiện-hữu cho đến năm 1979, chính-phủ này đã nhiều lần lên tiếng công-nhận chủ-quyền của Trung-Cộng tại quần-đảo. Trong khi quân VNCH đang chí-tử với Trung-Cộng tại Hoàng-Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 để bảo-vệ lãnh-thổ nước nhà, CSVN vẫn im-lặng đồng-lõa với quân xâm-lăng. Những vụ Trung-Cộng lấn đất trên biên-giới cũng thế, đã xãy ra từ 1954, lúc Hồ Chí Minh còn tại-vị. Chúng ta chưa bao giờ nghe ông Hồ lên tiếng phản-đối. Toàn-bộ tài-liệu cho ta biết rõ những âm-mưu lấn đất của Trung-Cộng. Thác Bản-Giốc, ải Ðại-Nam, Trình-Tường, các mỏ khoáng-sản cũng như tham-vọng bành-trướng biển Ðông v.v… CSVN chỉ lên tiếng phản-đối sau 1979, tức sau khi có xung-đột với Trung-Cộng, CSVN bỏ Tàu theo Liên-Xô. Nếu không có cuộc chiến này chắc-chắn họ im luôn. Nhưng sự lên tiếng của họ từ 1979 đến nay có hiệu-quả gì không ? Câu trả lời là Không có gì hết ! Hiệp-Ước 1999 là bằng-chứng cụ-thể cho lời khẳng-định này.
Ta thấy biên-giới vùng Ðại-Nam Quan (Nam-Quan) đã thay-đổi từ thời còn Hồ Chí Minh. Cột mốc 18 bị « ủi nát » và lấn về Việt-Nam trên 200m. Ðoạn nối ray cũng bị lấn 300m từ thời Hồ Chí Minh. Vấn-đề thác Bản-Giốc trở nên rõ-rệt hơn ở tài-liệu này. CSVN đã biết thác Bản-Giốc thuộc Việt-Nam và họ không thiếu bằng chứng để chứng-minh chủ-quyền của Việt-Nam tại đây.
Nhiều phần đất đã đổi chủ từ lâu như tài liệu tố-cáo, nhưng cũng có nhiều vùng biên-giới bị thay đổi sau cuộc chiến 1979. Một số cao điểm thuộc lãnh-thổ Việt-Nam đã bị Trung-Hoa chiếm-đóng từ 1979 cho đến hôm nay. Các đoạn biên-giới thuộc giới-điểm 42, 43, 44, 46, 47, 48, 49, 50, 51 đều thay-đổi theo « đường đỏ ». Ðoạn từ giới điểm 40 đến 46, là tổng Ðèo-Lương , trước 1887 thuộc Việt-Nam, mất về Tàu do sự trao-đổi của Ðại-Tá Galliéni năm 1894 (xem chương 3). Việt-Nam chỉ còn giữ được các cao-điểm chiến-lược, trong đó có ngọn Khấu-Mai. Sau 1979, các cao điểm chiến-lược đó đều bị Trung-Cộng chiếm.
Khảo-sát các tài-liệu ta cũng biết cột mốc bị dời đi đã bắt đầu từ khi đường biên-giới phân-định vừa xong (1897). Hồ-sơ SGI (xem phụ-lục chương 9, phần SGI) cho phép ta khẳng-định như thế. Thực-dân Pháp làm ngơ chuyện này vì đối với họ là chuyện nhỏ, vì không phải là đất của cha-ông họ để lại.
Những lời tuyên-bố trễ-tràng của CSVN không nhằm mục-tiêu đòi lại lãnh-thổ hay lãnh-hải đã bị mất. Hai hiệp-ước đã ký năm 1999 và năm 2000 là hai bằng-chứng hùng-hồn : Thác Bản-Giốc nhượng mất ½, ải Đại-Nam nhượng trên 200m, nhượng núi Khấu-Mai, nhượng trên 11.000km² biển trong Vịnh Bắc-Việt v.v… Nhưng những vùng đất và biển mà CSVN nhượng cho Trung-Cộng mà chúng ta biết được chỉ là phần nổi của một băng-đảo. Khi các bản-đồ của hiệp-ước 1999 được công-bố ta sẽ thấy có thêm bao nhiêu đất bị mất.
Trong vấn-đề nhượng lãnh-thổ và lãnh-hải của Việt-Nam, Hồ Chí Minh là người có trách-nhiệm lớn nhất. Hồ Chí Minh có chủ-trương nhượng đất, nhượng biển, nhượng hải-đảo từ thập-niên 1950, thời ông còn sống. Các vùng đất được hợp-thức-hóa vào năm 1999 phần lớn là nhượng từ thời Hồ Chí Minh.
« Các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta có công giữ nước » là khẩu-hiệu ta thường nghe ở trong nước. Thực-tế cho thấy « bác cháu » họ không hề giữ nước. Chúng ta chưa dám nói bác cháu họ đã bán nước. Nhưng phần nói về núi Khấu-Mai, ta sẽ thấy hành-động « các cháu của bác » là hành-động bán nước. « Bác cháu » họ là những người có tội rất nặng trước những vua Hùng.
Trương Nhân Tuấn