|
|||
|
1. Lượt duyệt những phản ứng tại quốc nội về sự kiện biên giới. CHắc chúng ta còn nhớ, người lên tiếng đầu tiên một cách công khai về vụ biên giới chính là ông Đỗ Việt Sơn, một người có 54 năm phục vụ cho đảng CSVN hiện cư ngụ tại Hải Phòng. Vào đầu tháng 10/2001, ông Sơn đã viết một lá thư gởi giới lãnh đạo Hà Nội để bày tỏ sự phẫn nộ của ông trước sự kiện nhà nước ký kết những hiệp định nhượng đất và lãnh hải cho Trung Quốc. Trong lá thư này, ông cũng cho biết là vào tháng 2/2001, trong bản góp ý với Dự thảo báo cáo chính trị của Đại hội IX, ông đã đề cập đến vấn đề này. Cũng vào tháng 10/2001, lần đầu tiên chúng ta biết đến một nhân vật tên là Lê Chí Quang, một luật sư trẻ ở Hà Nội. Anh Quang đã viết một bài nhận định với tựa đề "Hãy cảnh giác với Bắc Triều", qua đó anh nói lên sự chi phối của Trung Quốc đối với giới lãnh đạo đảng CSVN và đây là lý do mà những kẻ cầm quyền hiện nay đã sẵn sàng dâng hiến đất đai của tổ tiên để lại, nhằm mong được sự bảo trợ của Bắc Triều. Nhắc lại những sự kiện nói trên để cho thấy là giới đối kháng tại quốc nội đã có những phản ứng đầu tiên về sự kiện biên giới. Những phản ứng này lúc đầu là sự lên tiếng của một số cá nhân và sau đó là sự phản kháng tập thể qua bản kiến nghị ngày 18/11/2001 của 20 người, trong đó có tên hầu hết những người đối kháng trong nước như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương, Nguyễn Vũ Bình,... để yêu cầu quốc hội Hà Nội không thông qua hiệp định biên giới Việt Trung. Với nỗ lực tố cáo ở trong nước và với sự kiện Hà Nội - Bắc Kinh tổ chức lễ cắm cột mốc biên giới đầu tiên vào ngày 27/12/2001, phong trào đấu tranh ở hải ngoại đã bùng lên mạnh mẽ vào đầu năm 2002 và đã góp phần tạo nên những áp lực buộc lãnh đạo Hà Nội phải có một số phản ứng đỡ đòn. 2. Những phản ứng của Hà Nội. Trước áp lực của dư luận ở trong và ngoài nước, Hà Nội đã cho Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại Giao và là người cầm đầu phái đoàn thương thuyết với Bắc Kinh về vấn đề biên giới và lãnh hải, lên tiếng trong một bài phỏng vấn đầu tháng 2/2002, đăng trên trang web internet. Mục đích bài phỏng vấn này là để chứng minh các hiệp định ký kết với Trung Quốc đã được bàn thảo trong tinh thần hai bên cùng có lợi, nhưng điều mà người ta không rõ Việt Nam được lợi gì, chỉ biết là Lê Công Phụng chính thức xác nhận Ải Nam Quan hoàn toàn là của Trung Quốc, phân nửa thác Bản Giốc không còn là của Việt Nam và gần 11% lãnh hải ở vịnh Bắc Việt cũng rơi vào tay Bắc Kinh. Đến tháng 8/2002, bản hiệp ước biên giới trên đất liền ký ngày 30/12/1999 với Bắc Kinh đã được đăng tải trên trang Web của báo nhân dân điện tử. Tuy nhiên sự đăng tải này chẳng những không thỏa được những đòi hỏi của dư luận, mà còn phản ảnh thái độ ngoan cố tìm cách che dấu sự thật của nhà cầm quyền Hà Nội. Ở trong nước, không có một cơ quan truyền thông nào đề cập đến bản Hiệp Ước và sự loan tải trên internet cũng không có một giá trị nào cả, vì Hà Nội vẫn dấu nhẹm các bản đồ phân định, trong khi ngay trong hiệp ước có ghi rõ là các bản đồ này là "bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước". Sang đến tháng 9/2002, người ta thấy các cơ quan truyền thông trong nước bắt đầu đề cập đến vụ biên giới. Trước hết là bài viết của Trần Bạch Đằng với tựa đề "Ải Nam Quan và những kẻ "đốt đền"", đăng trên báo công an ngày 7/9/2002. Sau đó là bài phỏng vấn Lê Công Phụng đăng trên báo tuổi trẻ ngày 17/9/2002 và một loạt bài khác đăng trên các báo Lao Động, Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng,... Điều mà chúng ta nhận thấy là các bài viết trên báo hay các bài đọc trên hệ thống truyền thanh, truyền hình trong thời gian qua, không nhằm mục tiêu cung cấp các chi tiết liên quan đến những hiệp định đã ký kết với Trung Quốc, mà chỉ nhằm lên án những người phản kháng trong nước và cộng đồng hải ngoại đã tìm cách bôi xấu, xuyên tạc và phá hoại tình hữu nghị giữa Việt Nam - Trung Quốc. Mục đích của Hà Nội qua cách phản ứng này rất rõ ràng, đó là răn đe những người đấu tranh và quần chúng trong nước, nhằm tiêu diệt mọi ý muốn phản đối hành động bán nước của giới lãnh đạo đảng CSVN. 3. Ảnh hưởng đối với quần chúng trong nước. Có thể nói là cho đến khi Hà Nội mở chiến dịch phản công trên các cơ quan truyền thông trong nước từ tháng 9/2002, quảng đại quần chúng trong nước mới bắt đầu biết đến sự kiện biên giới, biết là có những sự chống đối về sự kiện này. Vì trước đó, ngoài thành phần có điều kiện ra nước ngoài hay nhận được thông tin trên mạng internet, đại đa số người dân chỉ biết một cách lờ mờ là giữa Việt Nam và Trung Quốc có ký kết một số hiệp định phân định lại biên giới và lãnh hải, nhưng đối với họ, đây là việc của nhà nước và vì vậy không mấy quan tâm. Điều này cho thấy là sự bưng bít thông tin còn rất lớn ở quốc nội. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian gần đây, qua chiến dịch phản công của Hà Nội trên các cơ quan truyền thông, qua nỗ lực thông tin của cộng đồng người Việt hải ngoại, quần chúng trong nước đã bắt đầu quan tâm đến sự kiện biên giới và lãnh hải. Họ đã truyền miệng với nhau những tin tức, dữ kiện và truyền tay nhau đọc những tài liệu từ nước ngoài gởi về. Mặc dù cho đến nay, quần chúng quốc nội nói chung vẫn chưa có những phản ứng mạnh mẽ, nhưng sự bất bình đối với nhà cầm quyền đã bắt rễ và sẽ có cơ hội bùng lên, nếu có những tác động đúng mức. 4. Xác định những mục tiêu hướng vào quốc nội. Sau khi lượt duyệt qua những phản ứng tại quốc nội, của giới đối kháng và của nhà cầm quyền Hà Nội, sau khi thẩm định về ảnh hưởng của sự kiện biên giới đối với quần chúng trong nước, chúng ta cần xác định một số mục tiêu của các nỗ lực hướng vào quốc nội. Các mục tiêu này sẽ giúp cho chúng ta dễ dàng chọn lựa những hành động nào nên tiến hành trong thời gian tới. Theo quan điểm của chúng tôi, thì tất cả nỗ lực của chúng ta hiện nay cũng đều nhắm vào mục tiêu lớn là đánh sập chế độ độc tài bán nước hiện nay. Những kế hoạch hành động liên quan đến sự kiện biên giới cũng phải được điều hướng để phục vụ cho mục tiêu lớn này. Trong tinh thần đó, những mục tiêu hướng vào quốc nội nhằm khai thác sự kiện biên giới xin được đề nghị như sau : Thứ nhất, chúng ta dùng sự kiện biên giới để đánh sập chiêu bài dân tộc của đảng CSVN. Từ trước đến nay, đảng CSVN vẫn núp sau chiêu bài dân tộc để lừa mị quần chúng. Mỗi khi gặp khó khăn, tập đoàn này luôn luôn sử dụng chiêu bài này để thoát hiểm. Ngày nay, khi ký kết những hiệp định nhượng đất và lãnh hải cho Trung Quốc, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội đã để lộ rõ bản chất phi dân tộc và có thể nói chưa bao giờ mà có nhiều người Việt Nam, trong đó có cả những đảng viên CSVN, đã dám chỉ thẳng vào mặt của các nhân vật chóp bu của chế độ để mắng rằng "các ông là bọn bán nước !" Do đó, chúng ta phải khai thác tối đa sự kiện biên giới để đánh sập chiêu bài dân tộc của đảng CSVN, làm cho tập đoàn này hiện nguyên hình là một tập đoàn phi dân tộc, bán nước, bị dân tộc và lịch sử đời đời nguyền rủa. Thứ hai, chúng ta dùng sự kiện biên giới để tác động vào ý thức của quảng đại quần chúng trong nước, để từ bất mãn ngấm ngầm biến thành hành động đấu tranh cụ thể. Quần chúng trong nước nói chung đều có sự bất mãn ngấm ngầm và có ước vọng thay đổi. Nhưng từ bất mãn, ước vọng, bước sang đòi hỏi, hành động, cần phải có sự kiện xúc tác và nỗ lực tác động. Vấn đề nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang đã và đang được quần chúng trong nước quan tâm. Chúng ta cần tác động thêm vào ý thức để có nhiều người dám mạnh dạn lên tiếng phản đối sự kiện này. Khi đã có số đông phản ứng, thì chúng ta tin rằng một phong trào đấu tranh mạnh mẽ sẽ có cơ hội bùng lên. Thứ ba là dùng sự kiện biên giới để tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của những người đối kháng trong nước. Hiện nay, những người đứng lên đấu tranh đòi dân chủ trong nước vẫn còn là một thiểu số rất nhỏ. Hà Nội đang tìm cách triệt tiêu họ và giảm thiểu những ảnh hưởng có thể có trong quần chúng. Tuy nhiên, qua sự kiện biên giới, hàng ngũ của họ đang được mở rộng, với sự nhập cuộc của những người phẫn nộ trước hành động bán nước của đảng CSVN. Chúng ta cần hỗ trợ những người này để tăng cường sức mạnh của họ. Nỗ lực hỗ trợ và bảo vệ từ hải ngoại góp một phần rất lớn để họ vượt qua những khó khăn, thử thách và giúp đưa tiếng nói của họ đến quảng đại quần chúng trong nước. Thứ tư là dùng sự kiện biên giới để mở rộng sự liên kết trong ngoài, góp phần xây dựng sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Hoàn cảnh của lịch sử đã phân chia dân tộc ta làm hai bộ phận. Một phần lớn dân tộc sống trên đất nước và một bộ phận nhỏ sống tại hải ngoại. Mỗi bộ phận đều có bổn phận đối với tổ quốc và mỗi bộ phận đều có một vai trò chuyên biệt đối với vận mệnh của đất nước. Mở rộng sự trao đổi và liên đới giữa hai bộ phận này là một nhu cầu để siết chặt sự đoàn kết dân tộc nhằm tranh đấu cho mục tiêu chung là chấm dứt độc tài, canh tân Việt Nam. Hiện nay, sự kiện biên giới đã tạo ra sự đồng thuận rất lớn giữa trong và ngoài. Do đó, cần khai dụng cơ hội này để mở rộng sự liên kết. 5. Một số chương trình hành động đề nghị. 5.1. Phối hợp với quốc nội để thu thập dữ kiện liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh hải. Cho đến nay, chúng ta có thể tự hào là sau sự kiện biên giới, nhiều vị học giả, chuyên gia, các tổ chức và đoàn thể, đã có nỗ lực thu thập rất nhiều tài liệu, dữ kiện quí báu. Tuy nhiên, vẫn có những dữ kiện chúng ta vẫn còn mù mờ, như vị trí chính xác các cột mốc biên giới đã được cắm, để có thể so với lằn biên giới cũ trước đây, nhằm biết được rõ ràng phần đất nào đã rơi vào tay Trung Quốc. Việc thu thập những dữ kiện này có thể tiến hành bằng sự phối hợp với những người đấu tranh trong nước. 5.2. Thực hiện tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau để tán phát trong nước. Có lẽ, qua sự phản đối của ông Nguyễn Thanh Giang và bà Vũ Thúy Hà, vợ của bác sĩ Phạm Hồng Sơn, chúng ta đều biết đến bài "Băng đĩa có nội dung phản động - Phần nổi của tảng băng chìm", đăng trên báo An Ninh Thế Giới số ra ngày 5/12 vừa qua. Bài báo này đề cập đến nỗ lực của tổ chức chúng tôi, Liên Minh Việt Nam Tự Do, phối hợp cùng với Hội Chuyên Gia Việt Nam, thực hiện một băng VCD nội dung nói về vụ Hà Nội ký kết những hiệp định bán nước và tìm cách chuyển về trong nước. Những băng VCD này được thực hiện khoảng 5000 ấn bản, được ngụy trang thành của những phim bình thường khác nhau và được chuyển về trong nước bằng nhiều cách khác nhau. Điều đáng lưu ý không phải là phản ứng hằn học của chế độ qua bài báo nói trên, mà là sự hồi âm rất tích cực của một số người nhận được băng VCD này. Có người đã hồi âm bằng những bài viết nói lên sự phẫn nộ của mình khi biết được các sự kiện này. Hiện nay, nhà cầm quyền Hà Nội đang báo động và tìm cách ngăn chặn nỗ lực chuyển tài liệu của chúng ta về nước. Nhưng với tình trạng mở cửa hiện nay, Hà Nội khó lòng kiểm soát hết tất cả sự ra vào, trao đổi giữa trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để vượt qua sự kiểm soát của chế độ, chúng ta phải tinh vi hóa phương cách tán phát và phát huy thật nhiều sáng kiến, để bung vào Việt Nam tài liệu về vụ biên giới dưới nhiều dạng khác nhau. Đây là một nỗ lực cần thiết nhằm phá vỡ sự bưng bít thông tin và nâng cao ý thức của quần chúng. 5.3. Phát động chiến dịch vận động người trong nước gởi email phản đối. Trong các đợt vận động ký tên vào các bản tuyên cáo phản đối hành động bán nước của nhà cầm quyền CSVN, chúng ta nhận thấy có một số người trong nước tham gia qua mạng internet. Đây là cách bày tỏ sự bất mãn và ít mang lại rũi ro cho họ. Vì họ có thể vào mạng internet bất cứ ở đâu và không dùng tên thật, nên nhà cầm quyền rất khó truy cứu. Chúng ta nên khuyến khích sự tham gia này để người trong nước ngày một mạnh dạn hơn trong hành động. Tôi xin đề nghị các tổ chức, đoàn thể có trang nhà trên mạng internet, cùng nhau phát động chiến dịch vận động người trong nước gởi email phản đối đến các địa chỉ email của nhà cầm quyền Hà Nội. Để dễ dàng cho những người tham gia, chúng ta thu thập hết các địa chỉ email của các cơ quan nhà nước, các cơ quan truyền thông Hà Nội, các tòa đại sứ ở các nơi, người trong nước khi vào các trang nhà của chúng ta, họ chỉ cần ghi tên, địa chỉ email và địa phương cư ngụ của họ, thì mẫu thư phản đối soạn sẵn sẽ được gởi đi tự động đến tất cả các địa chỉ email của nhà cầm quyền. 5.4. Phát động chiến dịch gởi kiến nghị về vụ biên giới, lãnh hải. Ở mức độ cao hơn, ngay tại trong nước, chúng ta cần vận động những người đối kháng trong nước ra lời kêu gọi đồng bào cả nước cùng nhau gởi kiến nghị đến các đại biểu quốc hội Hà Nội, để yêu cầu họ đặt vấn đề với giới lãnh đạo nhà nước CSVN là phải bạch hóa các văn kiện, tài liệu liên quan đến các hiệp định biên giới, lãnh hải đã ký kết với Trung Quốc. Chiến dịch này có thể phát động vào dịp Quốc Hội CSVN nhóm họp vào đầu năm 2003. Hẳn nhiên, điều mà chúng ta mong muốn là đến một thời điểm nào đó, quần chúng trong nước sẽ có những hình thức bày tỏ quan điểm của họ ở mức cao hơn nữa, như tập trung trước quốc hội để đưa kiến nghị yêu cầu không thông qua các hiệp định đã ký kết với Trung Quốc, nhưng theo tôi, muốn đạt được điều này, chúng ta cần có những nỗ lực tác động mạnh mẽ và liên tục theo lối "mưa dầm thấm đất", thì mới gỡ bỏ được sự sợ hãi và tạo can đảm cho quần chúng trong đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của đất nước. Trong suốt chiều dài hơn 1000 năm Bắc thuộc, trong khi rất nhiều sắc dân khác đã bị các triều đại phong kiến của người Tàu lần lượt đồng hóa, dân tộc ta vẫn giữ được phong tục, tập quán và ngôn ngữ của mình. Đó chính là nhờ ý thức dân tộc đã ăn sâu vào huyết quản của tổ tiên ta. Cho đến khi Ngô Quyền lãnh đạo toàn dân thành công trong việc đẩy lui cuộc xâm lược của Nam Hán, ý thức quốc gia đã giúp cho dân tộc ta giành lại được nền tự chủ và xây dựng một đất nước thật sự độc lập với nước Tàu. Hai ý thức dân tộc và quốc gia này đã giúp cho tiền nhân ta vượt qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, bảo vệ được bờ cõi và gìn giữ được đất nước. Ngày nay, trước hành động bán nước của tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN, có người trong chúng ta lo lắng là bao giờ dân tộc ta mới giành lại được đất đai và biển cả bị rơi vào tay Trung Quốc, hay dân tộc ta sẽ mất vĩnh viễn ? Câu trả lời là chừng nào dân ta vẫn giữ được ý thức quốc gia và dân tộc, vẫn tiếp nối truyền thống bất khuất của tổ tiên, thì chắc chắn có ngày dân ta sẽ giành lại được đất đai và biển cả bị rơi vào vòng ngoại thuộc. Vấn đề là người Việt Nam phải thanh toán kẻ nội thù bán nước trước, như ngày xưa Ngô Quyền đã thanh toán Kiều Công Tiễn, thì mới giải quyết được vấn đề ngoại xâm. Do đó, noi gương người xưa, chúng ta phải hạ quyết tâm đấu tranh dứt điểm chế độ độc tài bán nước hiện nay, thì mới có cơ hội giành lại đất tổ đã bị tập đoàn này bán cho ngoại bang. Nguyễn Ngọc Đức |