Sau Khi Mất Đất, Việt-Nam Mất
Tới Biển
HƠN MỘT NỬA VỊNH BẮC VIỆT THUỘC TRUNG CỘNG
Nhóm Lướt Sóng 
Lời Giới-thiệu:“Hơn một nửa Vịnh Bắc-Việt đã thuộc về
Trung-Cộng” không phải là một tin giả. Đó là tin-tức chính-thức
loan đi của Đảng Cộng-Sản Việt-Nam trên Internet. Sau khi đã dâng
đất biên-giới trên bộ, bọn Cộng-Sản lại hiến thêm vùng
biển quê-hương Tổ-Quốc cho quan thầy. Mục-đích của chúng là cúi
xin quan thầy thương xót để được tiếp-tục đóng vai trò một
chính-quyền bù-nhìn. Trong khi kẻ thù truyền-kiếp của dân-tộc còn
ở ngoài biên chưa thèm động binh mà mới chỉ “ho” nhẹ một
tiếng, tôi-tớ của chúng tại ngay Hà-Nội đã vội vàng hết
cắt đất, đến cắt biển cầu thân.
... Sự thực, Biển Việt-Nam đã bị mất nhiều lắm, phần bị
cắt với tài-nguyên và hải-sản có thể lên tới hai phần ba hay
ba phần tư của Vịnh Biển mà Ông Cha để lại suốt mấy ngàn năm
qua. Bài viết này do Ban Biên Tập Lướt Sóng nghiên-cứu, sưu-tầm,
tuy không nặng phần pháp-lý, nhưng rất chính-xác và có chút
tham-vọng nêu ra một số tài-liệu sơ-khởi để tìm hiểu xem:
- Gia-tài bọn Cộng-Sản “cống nạp” Quan Thầy ngày nay to lớn
đến thế nào?
- Phần “quốc-phá” về lâu về dài lên sẽ di-hại tới mức-độ
bao nhiêu cho dân-tộc và con cháu những thế-hệ sau này?
Đồng-bào ơi! Đã Quốc-Phá tất Gia-Vong. Hãy cùng đứng lên
thanh-toán ngay kẻ nội-thù cho rảnh tay trước khi chống giặc
ngoại-xâm. Ngay trong lúc này, chúng ta hãy ghi lại kỹ-lưỡng tên
tuổi những tên bán nước để dân ta muôn đời nguyền rủa.
Bọn Cộng-nô hèn hạ này nếu không sớm bị lật đổ, chúng sẽ
tiếp-tục cắt đất và dần dần nhượng cho quan thầy của chúng
cho đến hết trọn Biển Đông.
Ban Biên-tập LƯỚT SÓNG
Lần đầu tiên Cộng-Sản phải Tiết-lộ vì bị bắt buộcSau
một thời-gian dài im-lặng, Đảng Cộng-Sản Việt-Nam đã
phổ-biến tin-tức liên-hệ đến Hiệp định phân định Vịnh
Bắc-Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung
Quốc trong Vịnh Bắc Bộ qua hai bài viết:
- Bài của Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao (CSVN)
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6_lecongphung.htm)
- Bài tóm tắt sự kiện, Tạp Chí Tư Tưởng Văn Hóa số 3, 2001
(http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/
13_kyhiepdinh.htm)
Từ trước đến nay, dân-chúng Việt-Nam (VN) chưa khi nào được Đảng
Cộng-Sản và Chính-quyền Hà-Nội cung cấp đầy đủ tin tức hay
chi tiết liên quan đến tình-trạng biên-giới trên bộ cũng như
ngoài biển với Trung-Cộng (TC). Lần này, nhân dịp mừng Đại-hội
lần IX (1), Đảng Cộng-Sản VN cho công-bố chính-thức chuyện này
trên Website mới của họ vào ngày 10/04/2001. Phải có những lý-do
sâu xa bắt buộc họ phải làm như vậy. Đáng kể nhất là áp-lực
mạnh mẽ từ phía đảng Cộng-sản Trung-Hoa. Có lẽ đã đến lúc
Trung-Cộng ra oai, muốn bạch-hóa những thành-tích lấn-chiếm của
họ. Tội ác cắt biển cầu thân của giặc Cộng rất rõ-ràng.
-
Xem dâng đất và biển (hình 1)
-
Xem dâng đất và biển (hình 2)
-
Xem dâng đất và biển (hình 3)
Trung-Cộng lại đang tranh-cãi chủ-quyền hải-phận và không-phận
với Hoa-Kỳ. Trong khi phi-cơ Hải-Quân Mỹ bay thám-thính Biển Đông,
gặp phi-cơ chiến-đấu Trung-Cộng ngăn cản, **ng nhau rồi phải đáp
khẩn-cấp xuống Hải-Nam. Việc ký-kết Việt-Hoa về Hải-phận
nhiều ít cũng tăng-cường thế mạnh của Trung-Cộng, đặc-biệt
khi Đế-quốc Đỏ này đang hung-hăng đòi chủ-quyền tuyệt-đối
tới 80% Biển Đông và diễu-võ dương-oai với các Quốc-Gia Đông-Nam-Á,
đồng-thời đe-dọa xâm-lăng Đài-Loan.
Trong khi chính-quyền Hà-Nội khoa-trương nền móng độc-lập
tự-trị, người ta lại thấy chúng xun xoe hầu tiếp Hồ Cẩm Đào,
Phó Chủ-tịch Trung-Cộng sang dự đại-hội Đảng CSVN kỳ IX. Chưa
bao giờ trong lịch-sử lại có chuyện phiên-thần nhục-nhã
“luồn cúi” tương-tự. Cho đến Việt-gian Lê-Chiêu-Thống cũng
chỉ cõng được con rắn “vĩ-đại” tới mức một quan-chức Tàu
cấp Tổng-Đốc hàng tỉnh (Lưỡng-Quảng) mà thôi. Ngày nay, “Á
Hoàng-Đế” Hồ-Cẩm-Đào đã nghiễm-nhiên ngồi giám-sát chuyện
họp hành quốc-gia trọng-sự của “An-Nam” trong suốt mấy
tuần-lễ tại Hà-Nội. Qua các hình-ảnh công-bố, sau khi được
Chủ-tịch Nước là Trần-Đức-Lương tiếp-rước chào-đón long-trọng,
người ta thấy họ Hồ luôn luôn kèm sát luôn bên cạnh
Chủ-tịch Đảng CSVN là Lê-Khả-Phiêu. Vì thể-diện quốc-gia và
nghi-lễ ngoại-giao, các chính-phủ từng bị chính Hà-Nội gọi là
bù-nhìn, chưa khi nào giám công-khai làm những trò trơ-trẽn đến
như vậy.
Chúng tôi xin kể tiếp câu chuyện “cõng rắn cắn gà nhà” này
bằng cách lược-duyệt những diễn-tiến thương-thuyết hải-biên
hai nước. Đặc-biệt, Lướt-Sóng trình-bày một số bản đồ
minh-chứng mà CSVN đã ém nhẹm vì sợ lộ-liễu quá. Hành động
cắt đất cắt biển cầu thân của giặc Cộng rất rõ-ràng.

CHỦ QUYỀN VỊNH BẮC VIỆT TRONG CỔ THỜIVịnh Bắc-Việt trong
cổ-thời hoàn toàn thuộc chủ-quyền Việt-Nam. Ngoài Sử Việt-Nam,
Sử Trung-Hoa cũng ghi-nhận vùng biển này là Biển Giao-Chỉ hay
Giao-Chỉ-Dương. Không những tên biển đuợc xác-nhận rõ-ràng, mà
theo nhà Địa-lý-Học Edward H. H, Schafer, ngay cả tên đảo Hải-Nam
- đảo tiếp-giáp - cũng một thời có nghiã là tỉnh của Việt-Nam.
Ông viết trong cuốn sách tựa đề Châu-Nhai “Shore Of Pearls”
(Berkley & London 1970, trang 9) như sau: “In Han period, when it (Hainan)
begins to appear in Chinese texts, “South Of the Sea” referred to the
Vietnamese provinces, as we would style them...” . Về hải-thương,
Schafer ghi-nhận hầu hết sản-phẩm đuợc đua tới bằng đuờng
biển. Thuyền từ phía Tây-Nam là Đại-Việt vượt ngang
Giao-Chỉ-Dương để đến đây. “Southwest of Hainan is that great sea
called “Chiao-Chih Ocean” (Shore Of Pearls, trang78).
Cho đến thế-kỷ thứ 11, người Trung-Hoa vẫn còn rất sợ-hãi
Vịnh Biển này không giám mạo-hiểm hải-hành vì sóng gió
khủng-khiếp. Ngay từ thời sinh-tiền, thi-hào Đỗ-Phủ đã có
lần đề-cập đến câu truyện này. Tên “kình ba” (whale waves)
thường ghi đậm nơi tâm-trí người Trung-Hoa. Một khi đã vượt
biển (quá-hải) ra đi, tất phải trở về, câu “cự kình-ba”
lần thứ hai quả là cơn ác mộng lớn trong một đời người
Trung-Hoa (Shore Of Pearls, trang79). Một phần bià cuốn sách “Shore Of
Pearls” (Berkley & London, 1970), có kèm tấm Bản-Đồ Hainan với
Giao-Chi-Dương và (sóng gió) kình-ba đuợc trình bày như ở trên.
CHỦ QUYẾN VỊNH BẮC VIỆT THEO THỎA ƯỚC 1887Sau khi Nhóm Trí
Thức Việt Nam Hải Ngoại ra Tuyên Cáo ngày 18/12/2000, phản-đối
việc phân ranh bất-hợp-pháp lãnh thổ VN, Giáo-Sư Nguyễn-Văn-Canh
đã viết thêm về vấn đề ấy. Theo đó, trong một phiên họp thương-thuyết
Việt-Hoa vào tháng 8/1974, phiá VC viện dẫn Công Ước 1887 về biên
giới dựa trên kinh tuyến Greenwich, 108 độ 3 phút 13 giây Đông
(hay kinh tuyến Ba Lê 105 độ 43' của đuờng kinh tuyến Đông) làm
đuờng phân ranh lãnh thổ v.v.... Tuy nhiên phía Trung-Hoa (TH) đã
phản bác rằng đuờng ranh Đỏ ấy có mục tiêu chỉ dẫn quyền
sở hữu chủ các đảo mà thôi, không phải là đuờng phân ranh
về lãnh thổ. Vì thế các cuộc họp không đạt đuợc kết quả.
Căn cứ vào đó, phiá TH kêu nài rằng VN chiếm tới 2/3 lãnh thổ
trong vịnh Bắc Việt, rằng TH phải ký hiệp ước ấy vì ở thế
yếu, do Pháp ép buộc. Nhưng không bao giờ phiá TH nói tới sự
kiện rằng khi Pháp điều đình với TH, Pháp đã cắt một phần
đất thuộc Lai Châu bây giờ, cho TH nhập vào Vân Nam để đổi
lấy làn ranh ấy. Riêng về việc cắt một phần lãnh thổ như trên
cho TH, Pháp đã làm một việc bất hợp pháp. Mặt khác, hình thể
VN chạy theo hình chữ S. Từ mỏm đầu chữ S, nơi giáp ranh giữa
VN và TH, Uỷ Ban Pháp Hoa Phân Định Lãnh Thổ kẻ một đuờng
mầu Đỏ Bắc-Nam là một điều công bằng và hợp lý. Phần lãnh
hải nằm về phiá Tây của đuờng ranh thuộc VN. Phần lãnh hải này
thuộc VN cũng phù hợp với Thuyết Lãnh Thổ Kế Cận mà Công Pháp
Quốc tế vẫn hằng nhìn nhận.
Cuối cùng, đuờng Mầu Đỏ trên bản đồ có mục đích phân chia
quyền sở hữu chủ các hải đảo trong vịnh, như TC nói, nếu không
phải là đuờng ranh phân chia lãnh thổ, thì là đuờng gì?
DIỄN TIẾN ÂM MƯU LẤN BIỂN VÀ VÙNG "HAND OFF"Cũng theo Giáo-Sư
Nguyễn-Văn-Canh, với kiểu ăn nói cố hữu của CS như vậy, TC
trong nhiều năm qua đã lạm dụng quyền hành và đơn phuong nới
rộng chủ quyền của mình trong Vịnh Bắc Việt. (Xem
Bản Ðồ Vùng Quần Ðảo Trường Sa)
Ngày 19 và 30/8/1992, 2 tàu của TC đuợc đua ra khoi để tìm dò
dầu hỏa trong vịnh Bắc Việt. Rồi ngày 30/9, tàu Nam Hải 6 đuợc
đua vào vùng mục tiêu mà Hà Nội nói là ở 112 cây số Đông Nam
hải cảng Ba Lạt. Tàu khác tên là Phấn Đấu 5 đã hoàn tất công
tác nghiên cứu địa chất vào 30/8 tại vùng Nam vịnh Bắc Việt.
Tàu này hoạt động ngay tại của bể Hải Phòng, cách tỉnh Thái
Bình 70 dậm (khoảng 120 cây số). Dù bị VC phản đối, TC trả
lời rằng các tàu khoan dầu ấy hoạt động trong phạm vi lãnh
thổ TH chiếu theo làn ranh của Vịnh. Thực-sự, các tàu ấy đã xâm
phạm quá sâu vào phiá Tây của vịnh, sau khi vượt qua đuờng ranh
Mầu Đỏ.
Trong suốt 3 thập-niên 70, 80, 90 bất chấp luật-pháp; Trung-Cộng
ngang nhiên tự-động vẽ ra vùng biển “Hands-Off Area” cấm Việt-Nam
không đuợc động-chạm đến. Còn TC vẫn tiếp-tục gửi tàu
tớI thăm dò. Khu vực này rất rộng lớn, kéo dài 2 độ vi-tuyến
(từ 18 đến 20 độ Bắc) rộng suốt 1 độ (từ 107 đến 108 độ
Đông) 120HLx 60HL= 72,000HL vuông.
VÙNG "HAND OFF" CÓ GÌ?Bằng đủ mọi cách âm-mưu,
Trung-Cộng nhắm chụp dựt khu Trung-ương của Vịnh Bắc-Việt.
Tại sao vậy? Để trả lời, người ta chỉ có một câu độc-nhất:
Ở đó có nhiều tiềm-năng dầu khí.
Theo nguyên-lý căn-bản, Việt-Nam đuong-nhiên sở-hữu khu-vực
trung-ương của Vịnh Bắc-Việt theo thỏa-ước 1887. Một lý-lẽ
khác hiện-hữu còn mạnh mẽ hơn nhiều lần nữa: Đảo
Bạch-Long-Vĩ của Việt-Nam nằm ở ngay vùng giữa Vịnh.
Ngay trước khi kỹ-thuật khai-thác dầu khí chưa tiến-bộ, các nhà
địa-chất-học đã biết loại tài-nguyên quý-giá này thường
nằm kẹt trong những lớp thủy-tra-thạch do sông ngòi bồi đắp
liên-tục từ hàng triệu năm về trước. Trong Vịnh Bắc-Việt, sông
Hồng tạo ra vùng những lớp kết-tầng này.
Bản-đồ và Tài-liệu của Đặc-San Petroleum News (USA, Feb. 1984)
chỉ cho thấy thủ-đoạn của Trung-Cộng âm-mưu với các Công-ty
ngoại-quốc xúc-tiến việc thăm-dò và khai-thác dầu lửa và khí
đốt, thọc sâu vào phần biển Việt-Nam. Kinh-nghiệm thu-hoạch nhiên-liệu
ở thềm lục-địa phiá Đông-Nam Nam-phần cho biết dầu lửa không
có nhiều ở vùng châu-thổ Cửu-Long-Giang, cũng không tìm thấy
gần bờ biển. Các túi dầu khí nằm tại vùng thủy-tra-thạch phiá
ngoài khơi của Côn-Sơn. (Xem
Bản Ðồ Vùng "Hand Off")
Vào thập-niên 1970, nhiều báo-cáo về tiềm-năng dầu hỏa và khí
đốt trong vùng biển VN đã hoàn-tất. Chúng tôi xin trình-bày
bản-đồ của Selig S. Harrison chỉ rõ ràng những khu-vực
thủy-tra-thạch kết-tầng và những khu-vực mà các hãng dầu khí
mong đợi để khai-thác. (An informative and interesting discussion of
these reports can be found in Selig S. Harrison, China. Oil and Asia: Conflict
Ahead? New York: Columbia University Press, 1977: 42-46.) (Xem
Bản Ðồ Dầu Khí)
Vì thế, Trung-Cộng mạnh tay nhất-định chiếm cho hết khu-vực
thủy-tra-thạch giữa vùng biển sâu của Bắc-phần, đúng ngay địa-điểm
có khả-năng chứa đựng dầu khí nhiều nhất.
ÐƯỜNG PHÂN ÐỊNH MỚI VÀ VÙNG BIỂN CHIẾN LƯỢC TRUNG CỘNGSau
khi thi-hành kế-hoạch với nhiều âm-mưu dài-hạn qua nhiều
thập-niên, nay thời-cơ thực chín mùi; đã đến lúc Trung-Cộng ra
tay chộp lấy thành-quả chính-thức. TC đã ép buộc đuợc Hà-Nội
ký-kết một hiệp-ước hoàn-toàn có lợi cho họ. Từ sở-hữu
2/3 Vịnh Bìển, nay Việt-Nam chỉ còn giữ đuợc trên lý-thuyết
một nửa (hay 53%) vịnh Bắc-Việt mà thôi.
Trên thực-tế, phần sở-hữu lại khác đi rất xa. Về tài-nguyên
dầu khí, có thể TC đã chiếm gần trọng khu-vực chính. Đặc-biệt
phần khai-thác ngư-nghiệp rất tệ-hại cho VN. Theo dự-đoán nhu
duới đây, tài nguyên hải-sản sát bờ của VN còn giữ đuợc là
một phần ba, nhưng phần tài nguyên vùng biển sâu đã thực-sự
bị cướp đoạt tới 3/4 sản-lượng. Trong khi đó, hon một nửa dân-chúng
Việt-Nam trông chờ Chính-quyền bảo-vệ nguồn sống muôn đời đành
chịu thất-vọng.?
Chúng tôi xin đăng toàn-thể hai bản văn của chính-quyền Hà-Nội
- tại phần Phụ-bản - làm bằng chứng để chúng ta cùng
suy-luận.
VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA ÐẢO BẠCH LONG VĨ ÐÃ BỊ VÔ
HIỆUThoạt nhìn, các Chiến-lược-gia nhận ngay ra rằng Trung-Cộng
đã hoàn-toàn siết đuợc cổ Bắc Việt-Nam (và cả Việt-Nam nói
chung) khi họ vô-hiệu-hóa hoàn-toàn vị-trí chiến-lược của đảo
Bạch-Long-Vĩ.
Ngay từ lâu đời, Ông Cha ta đã chiếm đảo này để làm thế
“ỷ-dốc” cho toàn-thể Đại-Việt. Thời Pháp, Hải-Quân họ cũng
lo chuyện phòng-thủ này. Chính Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại
giao Hà-Nội là Trưởng Phái-đoàn Thương-thuyết cũng biết vậy.
Ông này viết: Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 300 hòn đảo ven bờ,
đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta
khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km... Vịnh
có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung
Quốc về an ninh và quốc phòng... Thế mà nay theo thỏa-ước 2001,
TC đã tạo đuợc khu “biển chiến-lược” kè sát nước ta,
chỉ cách Bạch-Long-Vĩ 15 Hải-lý (hay là chừng 1/2 tầm Hải-pháo
thường, không kể đến Hỏa-tiễn của chiến-hạm mới TC). Đó là
chưa kể tàu ngụy-trang đánh cá TC còn đuợc phép đến gần đảo
7.7 HL (Bờ nam Bạch-Long-Vĩ nằm trên vi độ 20 độ 07 phút 7 Bắc,
xem thêm phần hợp-tác nghề cá).
HIỆP ÐỊNH MỚI VỀ ÐÁNH CÁ VÀ VÙNG BIỂN KHẢ DỤNG TRUNG CỘNG
Nguyên-văn Hiệp-định mới thiết-lập “vùng đánh cá chung ở
trong Vịnh Bắc Bộ từ vi độ 20 độ xuống đuờng đóng cửa
Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đuờng phân
định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là
khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của
mỗi nước là 30 hải lý : đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59
hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý”. (Xem
Bản Ðồ Vùng Ðánh Cá)
Xem xét bản-đồ để ước-lượng, chúng ta thấy Trung-Cộng đã
đuợc nghiễm-nhiên thừa-hưởng tới gần 2/3 mặt biển (47% +
16.5% + 1% (cửa Bắc-Luân) = 64.5% diện-tích Vịnh).
Ai cũng biết rằng để nuôi sống 1,300,000,000 dân-chúng
thiếu-thốn protéine, Trung-Cộng đã từ lâu phát-triển các hạm-đội
đánh cá xa bờ hùng-hậu vào bậc nhất nhì trên thế-giới. Đối
đầu lại, Việt-Nam có khả-năng gì? Nếu Trung-Cộng muốn “đua
bắp thịt ra oai”, đem toàn Hạm-đội ngư-thuyền viễn-duyên vào
lần lượt “diễn-hành” trong Vịnh Bắc-Việt. Chỉ sau một mùa
cá, toàn thể các loại cá nước sâu sẽ tuyệt-chủng, không còn
một con sống sót để lại cho ngư-dân chúng ta.
MỚI CHỈ 40% CỦA ÐẢO MÀ ÐÃ LẤN CHIẾM ÐƯỢC NHIỀU ÐẾN
VẬY SAO?Dựa trên các yếu-tố bàn-thảo, VN đã sử-dụng quá
nhiều “sở-hữu-tố” để mang ra thương-thuyết. Sau khi đã đặt
trên bàn: 40 triệu dân-cư và gần một nửa duyên-hải toàn-quốc,
Việt-Nam không khác chi một tay chơi non kém, dại dột “tố xả láng”
và phung-phí tiền bạc trong một canh bạc khơi mào... Chúng tôi xin
trở lại những chi-tiết này trong trong một đoạn dưới.
Phân-tích Hiệp-định, chính-quyền Hà-Nội phải nhận thấy rằng
Việt-Nam chẳng thu lại đuợc bao nhiêu quyền-lợi mà vốn liếng
đã kiệt. Làm sao VN còn đầy đủ sức-lực cho một cuộc thương-thảo
nhiều lần quan-trọng hơn, về Hoàng-Sa, Trường-Sa cũng như toàn-thể
chủ-quyền Biển Đông sau này.
Phiá Trung-Cộng vẫn chưa chính-thức bước vào cuộc thương-thảo
lớn trên Biển Đông. Thế mà họ thực-sự đã thắng một hiệp
quyết-định. Trung-Cộng mới chỉ đua ra một đọan bờ biển
ngắn Liễu-Châu và 40% Hải-Nam lên bàn mà gặt hái ngay đuợc
một khu-vực chủ-quyền lớn lao ngoài biển như vậy sao? Lý ra, ai
cũng phải biết rằng duyên-hải còn lại của TC dài gấp ít
nhất là 5, 7 lần đoạn Bắc-Luân - Mũi Oanh-Ca chứ!
QUAN NIỆM TÀI SẢN CHUNG CỦA NHÂN LOẠI TRONG LUẬT BIỂN LIÊN HIỆP
QUỐCDù biết rằng hôm nay Trung-Cộng không thèm nói chuyện
luật-lệ với đàn em Hà-Nội, nhưng toàn-thể thế-giới văn-minh
tiến-bộ đều đã đổi thay bộ mặt tối tăm của thiên-hạ
thuộc “Đấng Con Trời” ngày xưa. Đâu còn là thời-đại
Thuộc-quốc quỳ-lạy Thiên-triều như khi xưa nữa. Ngày 10-12-1982,
một Thỏa-ước của Liên-Hiệp-Quốc “United Nations Convention on
the Law of Sea”, viết tắt là UNCLOS, đã ra đời. Nội-dung của
thỏa-ước rất lý-tưởng như cho rằng Biển cả là tài-sản
chung của Nhân-Loại”.
Vì là tài-sản chung nên yếu-tố dân-số sinh-sống tại duyên-hải
rất quan-trọng. Nhiều yếu-tố khác cũng đuợc Luật Biển đề-cập
đến như: hình-thể đáy biển nối dài ra khơi, tổng-số đảo,
diện-tích lãnh-thổ cận-duyên, chiều dài bờ biển, tỷ-lệ bờ
biển/ đất liền v.v... Những con số này đuợc dùng để tính-toán
trong việc quy-định vùng hải-phận theo Luật Biển LHQ ngày nay.
ƯU THẾ CỦA VIỆT NAM BỊ CỘNG SẢN BỎ QUA VÌ CẮT BIỂN CẦU THÂN

Hình-ảnh duyên-hải đảo Hải-Nam với núi đá cằn cỗi. Từ
trái sang là Mui Oanh Ca, False Hill, Flat Hill, đến núi Etna và núi
nhọn Lak Pang. Hải-đồ Mỹ HO No.3153
Cho dù yêu-cầu về đuờng Brévié trong Hiệp-ước Pháp-Hoa 1887 có
bị Trung-Cộng bỏ qua, những yếu-tố căn-bản pháp-lý hiện-hành
cũng vẫn tạo nhiều ưu-thế cho chủ-quyền Việt-Nam. Cho dù không
phải là chuyên-gia Luật Biển, chúng tôi cũng xin đon-cử một vài
điều căn-bản xác-quyết như sau:
-Hình-thể Thềm Lục-địa Việt-Nam kéo dài chạy thoai thoải ra
biển rõ rệt chiếm ưu-thế hơn bờ biển sâu của Đảo Hải-Nam.
(Xem
Bản Ðồ Ðường Phân Ðịnh Mới)
Bạch-Long-Vĩ với các yếu-tố dân-sinh, lịch-sử, kinh-tế xứng
đáng đuợc hưởng quy-chế một hòn đảo, tương-tự như Hải-Nam
hay bất cứ một hòn đảo nào khác. Về địa-lý, Bạch-Long-Vĩ là
hòn đảo lớn rất rộng, có diện tích tới hơn 2,5 km2, xuýt xoát
Đảo Cồn Cỏ (3 cây số vuông). (Xem
Bản Ðồ Ðường Căn Bản (Baseline))
Trong các sách quốc-tế về Hải-Hành, đảo Bạch-Long-Vĩ đuợc mô-tả
là một đối-vật quan-trọng cho người đi biển, độ cao sừng
sững lên tới 186 feet. Chắc-chắn không có một “người đuợc
gọi là hiểu biết” nào lại đồng-ý xếp hải-đảo nổi
tiếng Bạch-Long-Vĩ (huyện-đảo này gần 1,000 dân-cư) đồng-hạng
với một hòn đá tro-trọi cùng quy-chế tối-thiểu 15 hải-lý cho
đặc-quyền kinh-tế như vậy!
- Chiều dài bờ biển lục-địa Việt-Nam khúc khuỷu bao quanh
Vịnh dài gần gấp 2 lần bờ biển đối-diện của đảo Hải-Nam
và bán-đảo Liễu-Châu thuộc Trung-Cộng. Hai ngàn đảo VN cũng là
một con số áp-đảo khi so sánh với chừng 5 hải-đảo của Hải-Nam.
- Dân-cư Việt-Nam sinh-sống tiếp-cận với vịnh
Bắc-Việt trong vòng đai cách biển 60 hải-lý hiện nay lên tới 40
triệu người. Dân-số này nhiều gấp 4 đến 6 lần dân-số duyên-hải
Trung-Cộng, tuỳ theo cách tính toán. Dân Trung-Hoa sống ở phiá Tây
bán-đảo Liễu-Châu rất thưa thớt. Dân-số đảo Hải-Nam chỉ có
khoảng 7 triệu người mà thôi. Nhiều lắm trong khu-vực liên-hệ
(40% duyên-hải của đảo Hải-Nam) từ bán-đảo Liễu-Châu tới
Mui Oanh-Ca, dân-cư không quá 3, 4 triệu. Không có một thành-phố nào
của TC đáng kể là to lớn như hàng chục đô-thị của Việt-Nam.
- Khảo-cổ văn-minh-học thế-giới và cả sử Trung Hoa cũng
chứng-minh rằng những người Việt đã từng làm chủ mọi trong
khi người Tàu chỉ mới xuất-hiện ngoài biển này từ thời Hán,
tức là mới 2 ngàn năm mà thôi. Sử Trung-Hoa lại còn ghi rõ
những chi-tiết là ngoài vùng Châu-nhai phiá Bắc đảo, dân-cư đảo
Hải-Nam không chịu chấp-nhận Hoa-thuộc, luôn luôn kháng-chiến dành
quyền tự-chủ. Cho đến thời-gian gần đây, tình-hình mới tạm
ổn!
CHUYỆN KHÓ HIỂU: ÐƯỜNG CĂN BẢN CỦA DUYÊN HẢI VIỆT NAMBờ
biển và bờ đảo thường lởm chởm, chỗ lồi chỗ lõm. Các đuờng
ranh giới vì vậy rất ngoằn ngoèo phức-tạp. Để giải-quyết
vấn-đề chung cho các quốc-gia duyên-hải hay quần-đảo, một sự
đồng-ý đã đuợc đua vào Luật Biển LHQ. cho phép những nước
đó đuợc vẽ những đoạn Đuờng Thẳng Căn-bản (Baselines) nối
liền các mui đất và đảo. (U.N. Convention on the Law of the Sea, Dec.
10, 1982, pt. 11, S 3, 21 I.L.M. 1261, 1273; Kenneth R. Simmonds, U.N.
Convention on the Law of the Sea 1982 at B27 (1983). Part II, # 3).
Ý-thức sớm sự quan-trọng này nên vào ngày 12-11-1982, Việt-Nam công
bố một số Đuờng Căn-bản (mà họ gọi là Đuờng Cơ-Sở) từ
Poulo Wai đến Đảo Cồn Cỏ. Các Đuờng Cơ-Sở trong vịnh
Bắc-Việt (tức từ Đảo Cồn Cỏ đến Đảo Trà Cổ) hoàn-toàn
không đuợc vẽ.
Theo luật gia Kriangsak Kittichaisariee, nếu chỉ kể bốn đoạn (162,
161, 149 và 105 hl) trong 10 đoạn thẳng căn bản (dài tổng-cộng
850hl), nội hải (internal waters) Việt-Nam cũng đã chiếm tới 27,000
dậm vuông. (Law of the Sea and Maritime Boundary Delimitation in South-East
Asia, Oxford University Press, 1992: 16-17.) Đuờng căn-bản như vậy làm
gia-tăng diện-tích những khu-vực thuộc chủ-quyền quốc-gia lên
rất nhiều.
Giới Luật-gia cho dù đồng-ý hay không về cách-thức vẽ đuờng
cơ-sở ấy, họ cũng đều nghĩ rằng Việt-Nam rất quyết-tâm
trong việc bảo-vệ lãnh-hải. Tất cả đã nhầm lẫn lớn vì sự
mềm yếu của Hà-Nội ngay sau đó... Gần 20 năm đã qua đi trong
một yên-lặng khó hiểu, chưa bao giờ người ta thấy Đảng CS hay
Nhà Nước VN phổ-biến các đuờng cơ-sở cho những hải-đảo
chằng-chịt tại Vịnh Bắc-Việt. Trong thương-thảo, phái-đoàn HàNội
không giám hó hé gì với Bắc-Kinh, để Trung-Cộng mặc-tình thao-túng.
MỐI HẠI KINH KHỦNG TRONG TƯƠNG LAI NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠNGần đây,
dân Việt-Nam bắt đầu tiêu-thụ nhiều thịt hơn tổ-tiên của
họ trước đây. Nguời sống ở thành-thị có thể đã quên là còn
nhiều đồng-bào với mình tại vùng duyên-hà, duyên-hải vẫn thường
ngày chỉ có cá với cơm! Nhiều thống-kê quốc-tế vẫn ghi-nhận
trung-bình hàng năm một người Việt-Nam cần ít nhất là 35 kilo cá.
Người Pháp đã ước-lượng 2/3 (66%) số protein nuôi sống nước
Việt-Nam đến từ hải-sản. (Xem
Bản Ðồ Mực Nước Vịnh Bắc Việt)
(Nguyên-văn: In the 1970s, per capital consumption of fish in Vietnam was
at least 35 kilograms, and 50 percent of animal protein came from fish.
(Vietnam: Fisheries and Navigation Policies and Issues, Valencia, Mark J.; in
Ocean Development and International Law, Printed in the UK, Vol. 21, 1990, pp.
431-445.)
- Một khi mất Biển, nguồn lợi đánh cá suy-giảm, tài-nguyên dưới
lòng biển thuộc ngoại-bang. Và... ô-nhiễm sẽ tới ngay.
Trung-Cộng từ lâu nổi tiếng bất cần hậu-quả, miễn sao vơ vét
cho đầy túi tham. Tại Vịnh Bắc-Việt, nay mai Trung-Cộng sẽ
khai-thác lòng biển để lấy dầu lửa và khí đốt. Tai-nạn
thảm-khốc tràn dầu chắc chắn xảy ra, Việt-Nam sẽ một mình
chịu-đựng mọi khốn khổ ô-nhiễm. Gió thổi, nước trôi quanh năm
từ Đông Bắc xuống Tây Nam lập tức mang Thần Chết đến ngay
bờ biển và duyên-hải chúng ta. Vì địa-thế trên gió, trên nước;
Trung-Cộng vẫn an-bình để sống chết mặc bay!
- Ngoài ra, nhìn xa về tương-lai cũng không phải là chuyện viển vông.
Dòng lịch-sử dân-tộc đã chẳng dài nhiều ngàn năm đấy sao? Ngày
xưa, Vịnh Bắc-Việt từng ăn sâu tới tận Việt-Trì. Ngày nay, vùng
châu-thổ Sông Hồng đang tiếp-tục lấn nhanh ra biển. Trong khi
chu-kỳ nóng lạnh của trái đất xoay chuyển, mực nước biển
hạ xuống mỗi khi băng đá gia-tăng tại hai cực địa-cầu...,
rồi sẽ có giai-đoạn bờ biển kéo dài ra tới đảo Bạch-Long
Vi. Với những điều-kiện không thể cho là giả-tưởng khi Vịnh
Bắc-Việt thâu nhỏ lại trong tương-lai, Trung-Hoa sẽ hoàn-toàn
sở-hữu cả Vịnh Biển.
Xa hơn chút nưã - đến một ngày nào đó - cả hai bên bờ vùng
Biển một thời đuợc gọi là “vịnh Bắc-Việt” đều thuộc lãnh-thổ
Trung-Hoa. Xin mời người đọc xem thiết-đồ chúng tôi trình-bày dưới
đây.
ÐƯỜNG PHÂN THỦY VÀ MỘT ÐƯỜNG PHÂN RANH HỢP LÝTrung-Cộng đã
chấp-nhận quan-niệm cổ-truyền “dùng đuờng phân thủy làm
ranh-giới” trên lục-địa (xem thông-báo về hiệp-ước biên-giới
của CSVN). Đuờng phân- thủy ngoài biển cũng phải đuợc tôn-trọng.
Chúng tôi trình-bày đuờng phân-thủy của Vịnh Bắc-Việt vì sự
liên-hệ của nó gắn chặt với địa-thế đáy biển VN (đặc
biệt là Vịnh Bắc-Việt) chạy dài rất xa ra ngoài khơi. (Xem
Bản Ðồ Ðường Phân Thủy)
Khi TC tranh-luận kịch-liệt với Nhật-Bản về chủ-quyền Thềm
Lục-địa quanh khu-vực đảo Điếu-Ngư (Daio Dao - Uotshuri-Shima
25o45' N 123o29' E), họ đã dùng ưu-thế địa-lý này và đã đuợc
một số Chuyên-gia Luật Biển bênh-vực, cho là hữu-lý.
Một nhận-xét nữa của giới Luật-gia cũng cho thấy đoạn cuối
của đuờng Phân-Thủy cũng không xa bao nhiêu với đuờng
Kinh-tuyến 108 độ 3 phút 13 giây Đông (của Công Ước 1887 về biên
giới đã nói ở trên)
Tại sao mà luật-lệ lại không đồng-nhất (universal) và Việt-Nam
lại bị thiệt-thòi quá nhiều như vậy. Chính-quyền Hà-Nội rồi
ra sẽ phải trả lời câu hỏi đuợc đặt ra rất hợp-lý này.
Chỉ có sự chia cắt hợp-lý hải-phận mới đem lại một nền hòa-bình
trên Biển. Là một nhóm người nhỏ bé nghiên-cứu một vấn-đề
ngoài lãnh-vực chuyên-môn của mình, BBT Lướt-Sóng không có
khả-năng trình luận-án khó-khăn nhu phân-định Vịnh Bắc-Việt.
Tuy vậy, trong khi sưu-tầm tài-liệu, chúng tôi tìm thấy có nhiều
cá-nhân và tổ-chức luật-pháp rất quan-tâm cho Hòa-bình
Thế-giới, đã đi tìm những giải-pháp công-bằng cho cả hai
quốc-gia Hoa-Việt.
CHÍNH QUYỀN CHÂN CHÍNH PHẢI QUYẾT TÂM BẢO VỆ LÃNH THỔViệc phân
chia hải-phận Vịnh Bắc-Việt cũng như việc xác-định
chủ-quyền Quốc-gia chúng ta trong những vùng đất, vùng biển nào
khác đều quan-trọng. Một chính quyền chân chính phải quyết tâm
bảo vệ lãnh thổ.
Công-pháp Quốc-Tế đứng về phía Việt-Nam. Trong tinh-thần thượng-tôn
luật-pháp, ý-thức của nhân-loại đang gia-tăng về một
trật-tự cần-thiết trên biển; thời-gian hiển-nhiên cũng đứng
về phía dân-tộc chúng ta. Điều cần-thiết lúc này là Việt-Nam
phải làm sáng-tỏ chính-nghiã chủ-quyền của mình cùng cộng-đồng
thế-giới. Nếu vì đối-phương hiếp-đáp, áp-bức trong bàn
hội-nghị mà cuộc điều-giải bất- thành, Việt-Nam cần đua vụ
vịnh Bắc-Việt này (cũng như những tranh-chấp các quần-đảo Hoàng
Sa Trường Sa) ra trước Tòa-Án Quốc-Tế.
- Sau nữa, toàn dân trong cũng như ngoài nước hy-vọng
rằng nhà cầm-quyền Cộng-Sản Việt-Nam không nên muối mặt ký-kết
thêm hiệp-định bất bình-đẳng một lần nữa. Dù chót đã hứa
với Bắc-Kinh sẽ thoả-thuận về những tranh-chấp Biển Đông
trong những năm tới, Cộng-sản Hà-Nội nên hồi-tâm lại. Phải
đặt quyền-lợi quốc-gia trên hết. Không hèn, hãy phản công
lại mới đuợc chứ!
NHẬN XÉT VÀ TUYÊN CÁO CỦA ỦY BAN BẢO VỆ LÃNH THỔĐể thay cho
phần kết-luận, chúng tôi xin trích-đăng một số nhận xét về tình-trạng
biên-giới VN của Giáo-Sư Nguyễn Văn Canh và đoạn chót bản Tuyên-Cáo
của Ủy Ban Bảo Vệ Lãnh Thổ như sau:
... Nội dung của các cuộc thương thuyết về
phân định lãnh thổ không đuợc phổ biến. Người ta không biết
rõ là phần đất nào bị mất, phần đất nào đã thu hồi đuợc,
ngoại trừ các viên chức nắm giữ quyền hành trong Đảng. Dân tôc
VN có quyền đòi hỏi ĐCSVN phải công bố rõ điều này.
1. Nhìn vào thực tại về biên giới trên đất liền và trong vùng
vịnh Bắc Việt, cũng như có những bằng chứng về việc TC lấn
chiếm đất mà VC hoặc không quyết tâm đòi lại hay không phản
ứng đủ, và rất nhiều trường hợp chỉ phản ứng lấy lệ
trong việc bảo vệ lãnh thổ để khỏi bị chê trách, người ta có
quyền nghi ngờ rằng đây là việc chuyển nhượng tài sản quốc
gia trá hình. Điều này đã đuợc tìm thấy trong văn kiện mà
Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958, với tư cách Thủ tướng Chính
phủ nước VNDCCH gửi cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện, nước
CHNDTH nhìn nhận thẩm quyền lãnh thổ của TC trên Biển Đông.
2. Qua tiến trình thương thảo giữa phai phe, như Hàn Niệm Long,
thứ trưởng ngoại giao TC đặc trách Đông Nam Á, và cũng là trưởng
phái đoàn thương thuyết biên giới với VC từ thập niên 1970, thì
đây là công việc giữa hai Đảng: CSVN và CSTH. Hành pháp hay Quốc
Hội chỉ là các tổ chức ngọai vi của Đảng. Vì vậy việc
mỗi cơ quan này có tham dự vào việc ký kết hay phê chuẩn chỉ
để thực hiện mục tiêu của Đảng. Đặc biệt rõ hơn là trường
hợp Đỗ Mười, TBT của ĐCSVN ký thoả hiệp tạm thời thiết
lập mục tiêu, nguyên tắc cho việc ký hai hiệp ước trên, vì Đỗ
Mười không có một vai trò gì trong chính quyền. Các Hiệp ước này
không có giá trị gì đối với quốc dân Việt Nam.
3. ĐCSVN phải hoàn tòan chịu trách nhiệm về việc chuyển nhượng
bất hợp pháp đất đai này, dù vì lý do gì chăng nữa, nhất là
tự đặt mình dưới sự chỉ đạo của ĐCSTH, trong muu đồ tìm
sự hỗ trợ để đuợc tồn tại và triệt tiêu mọi lên tiếng
về sự chuyển nhượng này.
4. Đối với TH, quốc dân VN coi đây là việc riêng của hai ĐCS,
không liên hệ gì đối với quốc dân VN. Và hai hiệp ước trên
nếu TC không trả lại những phần đất đã chiếm sẽ bị coi là
vô hiệu.
Do đó, Trí Thức Việt Nam Hải Ngoại vào ngày 22/7/1994, sau đó là
Ủy Ban Bảo Vệ Lãnh Thổ trong các Tuyên Cáo vào ngày 29/4/1995 và
ngày 18/12/2000 đã lên tiếng về vấn đề ấy. (Lời Giáo-Sư
Nguyễn Văn Canh).
Cho dù nỗi ưu-tư còn nhiều nhưng vì khổ báo có hạn, Lướt Sóng
xin tạm ngưng lại đây. Xin cảm ơn Quý-Vị đã theo dõi bài viết
gây nhức nhối này.
NHÓM LƯỚT SÓNG
PHỤ BẢN 1
Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác
nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ Lê Công
Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao
Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Trần Đức
Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đã ký Hiệp định
phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong
Vịnh Bắc Bộ. Lễ ký kết đuợc tổ chức với sự chứng kiến
của Chủ tịch Trần Đức Lương và Chủ tịch Giang Trạch Dân.
Sự kiện trọng đại mang tính lịch sử này diễn ra vào thời
khắc rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu xếp hành trang
giã từ thế kỷ XX đi vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới.
Sự kiện này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp của quan
hệ Việt - Trung kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến
nay. Nhân dân ta đón nhận việc ký kết hai hiệp định trên như
một thành công lớn của hoạt động đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta trong năm 2000, coi đó là nhân tố hết sức quan
trọng trong việc tăng cuờng, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung
Quốc, cũng như trong việc duy trì, củng cố hòa bình, ổn định và
hợp tác trong khu vực.
- Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa ta và
Trung Quốc có 3 vấn đề liên quan đến biên giới lãnh thổ là xác
định đuờng biên giới trên đất liền; phân định Vịnh Bắc
Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề
chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như
đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta),
trong các vấn đề trên, vấn đề biên giới trên đất liền đã
đuợc giải quyết bằng việc ký kết Hiệp ước trên đất liền
giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 30-12-1999.
Vịnh Bắc Bộ đuợc bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện
tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km2 (176 hải
lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km2 (119 hải lý). Chiều dài bờ
biển phía Việt Nam khoảng 763 km2, còn phía Trung Quốc khoảng 695
km. Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 300 hòn đảo ven bờ, đặc
biệt có đảo Bạch Long Vi nằm cách đất liền nước ta khoảng
110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km.
Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và
Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Đặc thù của Vịnh là
chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa
hề phân định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên
hợp quốc, thì toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và
trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt
đến quan hệ giữa hai nước.
Trước tình hình đó, hai nuớc đều có nhu cầu tiến hành đàm phán
để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và
lâu dài : một là xác định đuờng phân giới rạch ròi, phân chia
vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai
nước láng giềng; hai là giải quyết vấn đề tồn tại do lịch
sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây
dựng lòng tin, tăng cuờng quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng,
hai nước theo phương châm 16 chữ mà hai đồng chí Tổng Bí thư đã
thỏa thuận.
Ngoài ý nghia về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghia
lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều
có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ
và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và
1963 hai nước có ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai
bên đuợc đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý,
6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên.
Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70. Trong quá
trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên
trì đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân
định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận đuợc
vấn đề này thì khó có thể giải quyết đuợc vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.
Ta không chủ trương gắn vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ
thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược
lâu dài. Nhưng ta cũng nhận thức rõ là việc không giải quyết đuợc
vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải
quyết đuợc vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc
đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa
hai bên, và tình hình ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định.
Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có vịnh hoặc vùng
biển chung cũng đã thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về
mặt pháp lý thì điều đó không trái với Công ước luật Biển
năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải
quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía
cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đã
đồng ý lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm
phán về biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đã đuợc tiến hành từ đầu
những năm 70.
Trong các năm 1974 và 1977 - 1978, hai nước đã tiến hành 2 vòng đàm
phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không
có kết quả. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, hai bên đã
quyết định thương lượng để giải quyết các vấn đề biên
giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ.
Hai nước đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải
quyết vấn đề biên giới - lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung
Quốc ngày 19-10-1993, trong đó nêu rõ phương hướng phân định
Vịnh Bắc Bộ là “Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham
khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến
mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công
bằng”. Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên
đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa
hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán
cấp chuyên viên.
Một thuận lợi hết sức lớn lao đối với quá trình đàm phán là
quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng đuợc tăng
cuờng, ngày càng đi vào thực chất và toàn diện, lãnh đạo của
hai bên luôn luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao. Trong các chuyến thăm
Trung Quốc vào năm 1997 của Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười và
tháng 2-1999 của Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo
cấp cao hai nước đạt đuợc thỏa thuận là khẩn trương đàm phán
để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm
2000 và hoàn thành việc phân định để ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm 1998 và
1999 hai bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề
biên giới trên đất liền. Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định
Vịnh Bắc Bộ đuợc đẩy mạnh và đi vào giải quyết thực
chất (1 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp
giữa 2 trưởng đoàn cấp chính phủ và 8 vòng đàm phán cấp chuyên
viên).
Trong quá trình đàm phán, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc như
sau để giải quyết : một là, căn cứ vào các quy định của Công
ước luật Biển 1982 của Liên hợp quốc cũng như các nguyên tắc
luật pháp quốc tế và tập quán đuợc công nhận rộng rãi; hai là,
hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện
diện của các đảo, chiều dài bờ biển v.v... ; ba là, việc
giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng
cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước; bốn là,
bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau.
Về diện tích, phía Trung Quốc kiên trì chủ trương đại thể
chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng
kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các
hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các đảo
của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v... Do đó, kết
quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu ta đặt ra.
Về diện tích tổng thể ta đuợc 53,23% diện tích Vịnh, Trung
Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2),
đuờng phân định cách đảo Bạch Long Vi 15 hải lý, đảo Cồn
Cỏ đuợc hưởng 50% hiệu lực. Về khía cạnh tài nguyên, giải
pháp phân định đạt đuợc cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích
một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục
địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài
nguyên trong phạm vi thềm lục địa của mình mà không bị bên kia
can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong truờng hợp có cấu tạo mỏ
vắt qua đuờng phân định thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau
về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.
Cuộc đàm phán về nghề cá đuợc khởi động muộn hơn. Cho mãi
đến tháng 4-2000 ta mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm
phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh
cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vi độ 20o xuống đuờng đóng
cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đuờng
phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức
là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ
của mỗi nước là 30 hải lý : đại bộ phận cách bờ của ta 35
- 59 hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý. Thời hạn của
vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn).
Hai bên cũng đã thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo
vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong
Vịnh.
Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là : vùng đặc quyền
kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát
các tàu cá đuợc phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số
tàu thuyền đuợc phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên
tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng đuợc phép đánh bắt, xác
định thông qua điều tra liên hợp định kỳ; mỗi bên đều có
quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc
quyền kinh tế của mình. Hai bên thỏa thuận lập Uủy ban liên
hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá
chung.
- Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá
độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vi tuyến 20o cho tàu thuyền
của hai bên tiếp tục đuợc đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng
này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu
thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế
của mình, trừ khi đuợc bên kia cho phép.
Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở
ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho
việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh
cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này
dài 10 hải lý và tính từ đuờng phân định rộng 3 hải lý về
mỗi bên.
Về tổng thể, các giải pháp đạt đuợc trong quá trình đàm phán
và đuợc thể hiện trong hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp
ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó
là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực,
thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía.
Đối với ta, việc ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc ký Hiệp ước về biên giới trên
đất liền năm 1999, có ý nghia rất quan trọng vì qua đó ta đã đạt
đuợc mục tiêu là giải quyết đuợc hai trong ba vấn đề biên
giới - lãnh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp ước biên
giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 1999 và Hiệp định
phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lý vững
chắc để quản lý biên giới, lãnh thổ, thực hiện mục tiêu là
xây dựng biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành biên giới hòa bình,
hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo động lực thúc đẩy, tăng
cuờng quan hệ hai nước.
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác định trọn vẹn đuờng
biên giới lãnh hải giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông
Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và
phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã
ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng
biển của mình. Hiệp định cũng đã đề ra cách giải quyết khi
xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng
sản nằm trong Vịnh.
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa mới ký với Trung
Quốc này là Hiệp định phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp
định phân định biển đầu tiên là Hiệp định phân định các
vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan ký năm 1997) và là Hiệp định
phân định biển gần đây nhất ở trong khu vực). Do đó ý nghia
của Hiệp định này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ
Việt - Trung mà thực sự góp phần vào việc ổn định hòa bình
trong khu vực.
Hiệp định hợp tác nghề cá đã góp phần quan trọng đưa đến
việc ký kết Hiệp định phân định; thể hiện rõ sự nhân nhượng,
thông cảm lợi ích của nhau, phù hợp với phương châm “Láng
giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng
tới tương lai”; trong quan hệ hai nước.
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6_lecongphung.htm)
(Tạp chí Cộng Sản