Lãnh thổ Việt Nam đã được hình
thành như thế nào ? Ít ai biết đến. Nhìn trên bản đồ, nước Việt Nam có
hình chữ S, giống hình con rồng đang phun châu. Tại sao có hình chữ S ?
Tại sao giống hình con rồng ? Cho đến nay, chưa có câu trả lời nào thỏa
đáng.
Chính vì ít ai biết đến và chưa có câu trả lời thỏa đáng về hình dáng
nước mình nên người Việt ít gắn bó với chính đất nước của mình. Điều
này cũng không có gì là khó hiểu vì từ thời lập quốc tới nay người Việt
sống quen với tâm lý bị trị : chuyện nước là việc của quan, biên giới
là việc của chính quyền. Đất nước còn hay mất không phải là ưu tư của
người dân.
Thực tế đã không hẳn như vậy, sau khi hai hiệp ước về biên giới trên
đất liền (1999) và trên biển (2000) vừa được ký với Trung Quốc, một số
trí thức dân chủ trong và ngoài nước đã có những phản ứng tự phát, gây
khó chịu cho ban lãnh đạo cộng sản. Qua các bài viết, người ta được
biết Việt Nam mất hơn 700 km2 đất và hơn 10.000 km2 trong Vịnh Bắc Bộ.
Tại nước ngoài, nhiều tài liêïu có giá trị biên khảo về khu vực biên
giới phía Bắc cũng được phổ biến trên các phương tiện truyền thông và
truyền hình.
Bây giờ bình tĩnh đọc kỹ lại những bài viết đó, người ta thấy có
rất nhiều thiếu sót, mặc dù tất cả đều biểu lộ lòng yêu nước nhiệt
tình. Người đọc hiểu được sự bất mãn của người viết nhưng không học hỏi
được gì thêm về sự hình thành khu vực biên giới miền Bắc. Những yếu tố
về địa lý, lịch sử, con người sinh sống trong khu vục đó rất ít được
nhắc tới, do đó rất khó có một cái nhìn chính xác.
Nếu mọi người Việt Nam hiểu rõ và quan tâm đến sự thành hình các
vùng biên giới của nước mình thì bất cứ chính quyền nào, dù có độc tài
đến đâu cũng không dám muốn làm gì thì làm, muốn nhượng đất nhượng biển
cho ai thì nhượng, và chắc chắn cũng sẽ không có người Việt Nam nào thờ
ở với đất nước như hôm nay.
Để hạn chế những hoạt động sai trái của những người lãnh đạo thiếu
sáng suốt và sự thờ ở của dân chúng, tìm hiểu và truyền bá những hiểu
biết về sự hình thành các vùng biên giới Việt Nam là rất cần thiết. Đó
là di sản mà những người đi trước để lại cho các thế hệ mai sau mà
chúng ta có bổn phận gìn giữ và tìm hiểu thêm.
Khái niệm về lãnh thổ và ranh giới
Theo quan niệm xưa, lãnh thổ là một không gian nội vi thuần chủng
với những khu vực ngoại vi đa chủng. Không gian thuần chủng (người
Kinh) là một không gian cụ thể, tập trung quanh khu vực trung tâm (cấm
thành) được cai quản bởi một dòng vương hay một triều đại. Sự hùng
cường của trung tâm này thể hiện qua số lượng dân cư, đất đai canh tác
và nguồn thuế thu nhập. Khu vực ngoại vi là một không gian trừu tượng,
rộng hẹp tùy theo ân đức của vị quân vương đối với các chủng tộc sinh
sống trong đó. Chính vì định nghĩa không rõ ràng giữa không gian cụ thể
và không gian trừu tượng này mà ranh giới nước Việt xưa, từ thời tự chủ
đến cuối thế kỷ 19, rất khó xác định.
Về cách phân chia, lãnh thổ nước Việt xưa chia làm hai loại : nội
biên và ngoại biên. Nội biên là lằn ranh hành chánh phân chia lãnh thổ
giữa các khu vực thuần chủng với nhau ; ngoại biên là lằn ranh phân
chia khu vực nội biên với nơi sinh trú của những sắc dân dị chủng ở
phương xa. Trong không gian thuần chủng, hay lãnh thổ nội biên, sự phân
chia các khu vực hành chánh giữa các địa phương với nhau tương đối rõ
ràng. Người ta thường lấy con sông, ao hồ, chân núi, gốc cây cổ thụ,
viên đá tảng, bìa rừng, cây cầu cạnh thưa ruộng canh tác cuối
cùng của một địa phương hay dòng họ làm định mức. Những
lằn ranh này trong thực tế đã được tôn trọng một cách tự
nhiên giữa các địa phương và các nhóm dân cư với nhau, những
người đại diện triều đình chỉ đến để hợp thức hóa khu
đất đó và tổ chức thành đơn vị hành chánh như "thôn, làng,
xã, huyện, phủ" sau khi một ngôi đình vừa được khánh thành.
Trong những lãnh thổ ngoại biên, tổ chức chính trị lúc đầu do
quân đội nắm giữ, sau đó giao lại cho những người lãnh đạo
địa phương khi trật tự và an ninh được vãn hồi. Tên các đơn
vị hành chánh cũng khác với khu vực nội biên : "sách,
nguồn, tổng, châu, trấn" dành cho những khu vực nằm ở
phần đầu khu vực ngoại biên, do những nhân sĩ địa phương
quản trị ; "nguyên, đạo, cơ" là những địa danh ở
phần sau khu vực ngoại biên do quân đội quản lýa
Về quốc phòng, các vùng đất ngoại biên thường được dùng làm khu
trái độn, lá chắn ngăn chặn các cuộc tấn công hay xâm lăng đến từ bên
ngoài vào khu vực trung tâm. Do không đủ khả năng chi phối các sắc dân
sinh sống trên các lãnh thổ ngoại biên, các triều đình Việt Nam thường
cảm hóa những người lãnh đạo các sắc dân không cùng văn hóa sống trên
những lãnh thổ ngoại biên để nhận sự thần phục, đổi lại họ được bảo vệ,
ban phong tước vị, giúp đỡ vật chất và có nhiệm vụ thu thuế và báo động
triều đình khi có những cuộc điều binh khả nghi.
Về tên gọi các vùng ranh giới, cha ông chúng ta đã đặt ra khá
nhiều danh xưng với những nội dung rất mơ hồ. Khu vực giáp ranh với một
lân bang được gọi là biên cương, cương dịch, biên thùy hay biên viễn ;
khu vực ngoại biên gọi là biên cảnh, biên viên ; các vùng nội biên gọi
là biên bỉ, biên địa, biên duệ, biên ngung, biên tuyến v.v. "Biên" ở
đây có nghĩa là lằn ranh phân chia hai khu vực.
Ngày nay, với định nghĩa mới, biên giới là lằn ranh ấn định giới
hạn địa lý của một hay nhiều khu vực hành chánh, chính trị, kinh tế,
văn hóa và ngôn ngữ khác nhau trong cùng một quốc gia hay với các quốc
gia lân bang khác ; mỗi biên giới có những vị trí cố định, có thể nhận
diện qua những cột mốc và đo đạc được. Định nghĩa này tuy tầm thường
nhưng đã có một quá trình hình thành rất gay go trên bàn họp cũng như
trên những tuyến địa.
Lãnh thổ Việt Nam phát triển không đồng đều
Trái với suy tưởng của nhiều người, lãnh thổ Việt Nam từ thời lập
quốc cho đến khi bị Pháp thuộc đã không lớn rộng như nhìn thấy trên bản
đồ hiện có. Cái nôi của nền văn minh Việt Nam lúc khởi đầu chỉ tập
trung quanh châu thổ sông Hồng, các đồng bằng dọc bờ biển Bắc Trung
Phần và trên các thung lũng sâu hẹp từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. Sau đó,
với thời gian, lãnh thổ này nới rộng dần xuống phía Nam tùy theo nhịp
độ của các cuộc giao thương, chiến tranh hay di dân. Dưới thời Pháp
thuộc lãnh thổ này được nới rộng thêm về phía Tây. Do đó có thể nói
Việt Nam có một lịch sử khá lâu đời (ở miền Bắc) nhưng cũng rất mới (ở
miền Nam và trên Tây Nguyên).
Trong suốt thời lập quốc, lãnh thổ nước Văn Lang đã được hình
thành như thế nào và lớn rộng tới đâu, không có tài liệu nào nói rõ.
Dưới thời Bắc thuộc, lãnh thổ Giao Châu bắt đầu từ đâu và dừng lại ở
nơi nào còn là một dấu hoi ; trụ đồng Mã Viện không biết được
dựng ở đâu, trên vùng biên giới nào. Sang thời tự chủ, ranh
giới giữa Đại Việt và các lân bang lại càng không rõ vì chinh
chiến liên miên, lãnh thổ lúc co lúc giản tùy theo sự lớn mạnh
của mỗi triều đại. Lãnh thổ Việt Nam chỉ thực sự lớn
rộng từ cuối thế kỷ 10 sau khi giành được độc lập, và chỉ
thật sự ổn định khi bị Pháp chiếm đóng và một dấu hoi ;
trụ đ một
Nhưng dưới thời Pháp thuộc, nước Việt Nam bị chia ra làm ba miền,
mỗi miền có hai biên giới khác nhau : biên giới nội địa giữa các vùng
hành chánh với nhau và biên giới với các lân bang, trong đó có ba miền
(Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) và các quốc gia lân bang (Trung Hoa, Lào
và Campuchia). Tuy vậy, trong sự phân chia đó, ba miền của Việt Nam đã
có một lãnh thổ địa lý-chính trị ổn định và một đường biên giới theo
đúng nghĩa công pháp quốc tế hiện nay. Những biên giới này có một căn
bản pháp lý vững chắc dựa trên những văn kiện chính thức do quốc hội
hay chính quyền địa phương ban hành ; trên phương diện quốc tế đó là
những hiệp ước song phương hay đa quốc.
Về cuộc Nam tiến, lúc ban đầu nó là chỉ là cuộc phiêu lưu của
những nông dân nghèo khó đi về phía Nam tìm đất mới để canh tác, kế đến
là những gia đình quân nhân trấn đóng ở các vùng biên giới đến khai
thác các vùng đất mới. Tiếp theo sau là những trao đổi về quyền lợi
giữa hai vương quyền suôi gia Việt-Chăm, trong đó đất đai là của cải
hồi môn. Sau cùng là chiến tranh, phe bị thua nhượng của cải (người và
đất). Rồi cái vòng lẩn quẩn lại ấy tiếp tục, những gia đình nông dân
nghèo khó tình nguyện vào khai phá những vùng đất mới để dựng làng lập
xã và cứ như thế lãnh thổ của người Việt tiến dần xuống phía Nam, v.v.
Trong cuộc Nam tiến này, cho đến nay ít có tài liệu nào nói rõ về
đề tài này một cách khách quan và khoa học như nó đã diễn ra đối với
đất đai, con người và văn hóa. Chính những thiếu sót này mà nhiều thành
phần dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa hiểu rõ nhau để có thể tin
tưởng và cùng bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung.
Kết lại quan hệ giữa người Việt Nam với nhau
Trong số 54 sắc tộc tạo thành dân tộc Việt Nam, 50 sinh sống dọc
các vùng biên giới. Sự hiện diện của những thành phần dân tộc này đã có
từ lâu đời và đã giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình bảo vệ
sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam.
Dưới thời Bắc thuộc, di dân Hán tộc vào Giao Chỉ lập nghiệp rất
đông. Sự tích "một mẹ trăm con" có lẽ đã bắt đầu từ giai đoạn này. Một
số dân cư Âu Lạc có tinh thần độc lập cao, không chấp nhận sự thống trị
của người Hán, rút lên miền núi trở về cuộc sống cổ truyền : duy trì
chế độ mẫu hệ, làm rẫy, săn bắn và hái lượm, để rồi trở thành những
nhóm Mường và Tày. Do sống cách biệt lâu ngày với đồng bằng, đời sống
người miền núi trở nên lạc hậu và thua kém người đồng bằng. Trong khi
đó trên châu thổ sông Hồng, cuộc sống hòa trộn giữa các nhóm Lạc Việt
đồng bằng còn lại và người Hán di cư tạo thành một cộng đồng chủng tộc
mới, cộng đồng người Kinh, theo chế độ phụ hệ. "Kinh" không phải là tên
của một chủng tộc riêng biệt, thường được hiểu là người Việt, mà là tên
gọi chung những người sinh sống ở vùng đồng bằng và chốn thị thành để
phân biệt với người miền núi hay vùng cao (Man). Với thời gian, yếu tố
Indonésien và Mông Cổ trong cộng đồng người Kinh biến thể dần và trở
thành yếu tố Việt-Mường. Kết quả chọn lựa hai khu vực định cư thay đổi
hẳn quan hệ giữa người đồng bằng và người miền núi. Nhờ sinh sống trên
một địa bàn thích hợp với nghề trồng lúa nước và biết áp dụng phương
thức tổ chức xã hội theo khuôn mẫu Nho giáo mà đặc điểm là củng cố
không gian sinh tồn thuần chủng quanh khu vực trung tâm, hố cách biệt
giữa hai khu vực địa dư ngày càng sâu rộng : dân số người Kinh đồng
bằng gia tăng nhanh và phát triển hơn cộng đồng miền núi.
Trên miền núi, do những biến động chính trị và xã hội tại Trung
Quốc nhiều cộng đồng thiểu số khác chạy vào Việt Nam nương náu và lập
nghiệp, trong đó có người Nùng, người Thái cùng những phụ hệ khác.
Tại miền Trung, khi bị quân Nguyên tấn công lần đầu tiên vào đầu
thế kỷ 13, quan quân nhà Trần đã chạy lên khu sinh trú của người Thái
lẩn tránh ; tại đây họ được giúp đỡ để gây dựng lại lực lượng và đuổi
quân Minh ra khỏi nước, từ đó quan hệ giữa người Thái và người Kinh trở
nên thắm thiết, nhất là dưới thời nhà Lê và kéo dài cho đến hết thời tự
chủ. Ngược lại quan hệ giữa người Việt với người Thượng trên Tây Nguyên
đã rất khó khăn vì không cùng văn hóa và nhất là bị ngăn chia bởi người
Pháp. Khi Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ đầu thế kỷ 17, người Thượng bị
liệt vào hạng Man hoang (chưa được cải hóa) nên không được đối xử như
những sắc tộc khác tại miền Bắc. Trong suốt dòng Nam tiến, cộng đồng
người Thượng trên cao nguyên bị ngăn cấm tiếp xúc với người đồng bằng
nên không ai nắm rõ phong tục tập quán, ngôn ngữ của những nhóm người
này. Khi bị người Pháp cai trị, cộng đồng người Thượng lại càng sống
tách biệt hơn với người Kinh. Chỉ đến năm 1954 hai cộng đồng này mới có
dịp cộng cư với nhau, nhưng những ngăn cản về lịch sử và tâm lý của quá
khứ vẫn còn ám ảnh nên chưa sinh sống hài hòa với nhau được. Với thời
gian cộng đồng này trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ,
tương lai của con cháu họ trong những ngày sắp tới rất là bấp bênh nếu
không có một chính sách nâng đỡ xứng đáng.
Tiến về miền Nam, người Kinh có dịp tiếp xúc với hai cộng đồng sắc
tộc mới : người Khmer và người Hoa. Cuộc chung sống giữa ba cộng đồng
Kinh, Hoa và Khmer đã rất hài hòa trước khi bị người Pháp cai trị. Khi
vừa được độc lập năm 1954, cộng đồng người Hoa và người Khmer liền bị
phân biệt đối xử. Các chính quyền kế tiếp theo đã phải mất rất nhiều
năm mới tái lập lại những quan hệ tốt đẹp ngày xưa, nhưng chỉ được vài
năm thì người Hoa lại bị phân biệt đối xử (1979), người Khmer thì bị
nghi ngờ.
Tìm hiểu sự hình thành các vùng biên giới chính vì thế cũng là tìm
hiểu sự hiện diện của những sắc dân sinh sống trên các vùng biên giới
đó. Nắm vững yếu tố này, chúng ta có đủ lý do để tự hào dân tộc Việt
Nam là một dân tộc lớn, trong đó mọi công dân đều được bình đẳng trong
việc xây dựng hạnh phúc cho mình và cho gia đình mình.
Nguyễn Văn Huy