Tầm quan trọng của những hiểu biết về sự hình thành các vùng biên giới

Thông Luan - Nguyễn Văn Huy - 07-12-2005

Image hosted by Photobucket.com Lãnh thổ Việt Nam đã được hình thành như thế nào ? Ít ai biết đến. Nhìn trên bản đồ, nước Việt Nam có hình chữ S, giống hình con rồng đang phun châu. Tại sao có hình chữ S ? Tại sao giống hình con rồng ? Cho đến nay, chưa có câu trả lời nào thỏa đáng.

Chính vì ít ai biết đến và chưa có câu trả lời thỏa đáng về hình dáng nước mình nên người Việt ít gắn bó với chính đất nước của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu vì từ thời lập quốc tới nay người Việt sống quen với tâm lý bị trị : chuyện nước là việc của quan, biên giới là việc của chính quyền. Đất nước còn hay mất không phải là ưu tư của người dân. Thực tế đã không hẳn như vậy, sau khi hai hiệp ước về biên giới trên đất liền (1999) và trên biển (2000) vừa được ký với Trung Quốc, một số trí thức dân chủ trong và ngoài nước đã có những phản ứng tự phát, gây khó chịu cho ban lãnh đạo cộng sản. Qua các bài viết, người ta được biết Việt Nam mất hơn 700 km2 đất và hơn 10.000 km2 trong Vịnh Bắc Bộ. Tại nước ngoài, nhiều tài liêïu có giá trị biên khảo về khu vực biên giới phía Bắc cũng được phổ biến trên các phương tiện truyền thông và truyền hình.

Bây giờ bình tĩnh đọc kỹ lại những bài viết đó, người ta thấy có rất nhiều thiếu sót, mặc dù tất cả đều biểu lộ lòng yêu nước nhiệt tình. Người đọc hiểu được sự bất mãn của người viết nhưng không học hỏi được gì thêm về sự hình thành khu vực biên giới miền Bắc. Những yếu tố về địa lý, lịch sử, con người sinh sống trong khu vục đó rất ít được nhắc tới, do đó rất khó có một cái nhìn chính xác.

Nếu mọi người Việt Nam hiểu rõ và quan tâm đến sự thành hình các vùng biên giới của nước mình thì bất cứ chính quyền nào, dù có độc tài đến đâu cũng không dám muốn làm gì thì làm, muốn nhượng đất nhượng biển cho ai thì nhượng, và chắc chắn cũng sẽ không có người Việt Nam nào thờ ở với đất nước như hôm nay.

Để hạn chế những hoạt động sai trái của những người lãnh đạo thiếu sáng suốt và sự thờ ở của dân chúng, tìm hiểu và truyền bá những hiểu biết về sự hình thành các vùng biên giới Việt Nam là rất cần thiết. Đó là di sản mà những người đi trước để lại cho các thế hệ mai sau mà chúng ta có bổn phận gìn giữ và tìm hiểu thêm.

Khái niệm về lãnh thổ và ranh giới

Theo quan niệm xưa, lãnh thổ là một không gian nội vi thuần chủng với những khu vực ngoại vi đa chủng. Không gian thuần chủng (người Kinh) là một không gian cụ thể, tập trung quanh khu vực trung tâm (cấm thành) được cai quản bởi một dòng vương hay một triều đại. Sự hùng cường của trung tâm này thể hiện qua số lượng dân cư, đất đai canh tác và nguồn thuế thu nhập. Khu vực ngoại vi là một không gian trừu tượng, rộng hẹp tùy theo ân đức của vị quân vương đối với các chủng tộc sinh sống trong đó. Chính vì định nghĩa không rõ ràng giữa không gian cụ thể và không gian trừu tượng này mà ranh giới nước Việt xưa, từ thời tự chủ đến cuối thế kỷ 19, rất khó xác định.

Về cách phân chia, lãnh thổ nước Việt xưa chia làm hai loại : nội biên và ngoại biên. Nội biên là lằn ranh hành chánh phân chia lãnh thổ giữa các khu vực thuần chủng với nhau ; ngoại biên là lằn ranh phân chia khu vực nội biên với nơi sinh trú của những sắc dân dị chủng ở phương xa. Trong không gian thuần chủng, hay lãnh thổ nội biên, sự phân chia các khu vực hành chánh giữa các địa phương với nhau tương đối rõ ràng. Người ta thường lấy con sông, ao hồ, chân núi, gốc cây cổ thụ, viên đá tảng, bìa rừng, cây cầu cạnh thưa ruộng canh tác cuối cùng của một địa phương hay dòng họ làm định mức. Những lằn ranh này trong thực tế đã được tôn trọng một cách tự nhiên giữa các địa phương và các nhóm dân cư với nhau, những người đại diện triều đình chỉ đến để hợp thức hóa khu đất đó và tổ chức thành đơn vị hành chánh như "thôn, làng, xã, huyện, phủ" sau khi một ngôi đình vừa được khánh thành. Trong những lãnh thổ ngoại biên, tổ chức chính trị lúc đầu do quân đội nắm giữ, sau đó giao lại cho những người lãnh đạo địa phương khi trật tự và an ninh được vãn hồi. Tên các đơn vị hành chánh cũng khác với khu vực nội biên : "sách, nguồn, tổng, châu, trấn" dành cho những khu vực nằm ở phần đầu khu vực ngoại biên, do những nhân sĩ địa phương quản trị ; "nguyên, đạo, cơ" là những địa danh ở phần sau khu vực ngoại biên do quân đội quản lýœa

Về quốc phòng, các vùng đất ngoại biên thường được dùng làm khu trái độn, lá chắn ngăn chặn các cuộc tấn công hay xâm lăng đến từ bên ngoài vào khu vực trung tâm. Do không đủ khả năng chi phối các sắc dân sinh sống trên các lãnh thổ ngoại biên, các triều đình Việt Nam thường cảm hóa những người lãnh đạo các sắc dân không cùng văn hóa sống trên những lãnh thổ ngoại biên để nhận sự thần phục, đổi lại họ được bảo vệ, ban phong tước vị, giúp đỡ vật chất và có nhiệm vụ thu thuế và báo động triều đình khi có những cuộc điều binh khả nghi.

Về tên gọi các vùng ranh giới, cha ông chúng ta đã đặt ra khá nhiều danh xưng với những nội dung rất mơ hồ. Khu vực giáp ranh với một lân bang được gọi là biên cương, cương dịch, biên thùy hay biên viễn ; khu vực ngoại biên gọi là biên cảnh, biên viên ; các vùng nội biên gọi là biên bỉ, biên địa, biên duệ, biên ngung, biên tuyến v.v. "Biên" ở đây có nghĩa là lằn ranh phân chia hai khu vực.

Ngày nay, với định nghĩa mới, biên giới là lằn ranh ấn định giới hạn địa lý của một hay nhiều khu vực hành chánh, chính trị, kinh tế, văn hóa và ngôn ngữ khác nhau trong cùng một quốc gia hay với các quốc gia lân bang khác ; mỗi biên giới có những vị trí cố định, có thể nhận diện qua những cột mốc và đo đạc được. Định nghĩa này tuy tầm thường nhưng đã có một quá trình hình thành rất gay go trên bàn họp cũng như trên những tuyến địa.

Lãnh thổ Việt Nam phát triển không đồng đều

Trái với suy tưởng của nhiều người, lãnh thổ Việt Nam từ thời lập quốc cho đến khi bị Pháp thuộc đã không lớn rộng như nhìn thấy trên bản đồ hiện có. Cái nôi của nền văn minh Việt Nam lúc khởi đầu chỉ tập trung quanh châu thổ sông Hồng, các đồng bằng dọc bờ biển Bắc Trung Phần và trên các thung lũng sâu hẹp từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. Sau đó, với thời gian, lãnh thổ này nới rộng dần xuống phía Nam tùy theo nhịp độ của các cuộc giao thương, chiến tranh hay di dân. Dưới thời Pháp thuộc lãnh thổ này được nới rộng thêm về phía Tây. Do đó có thể nói Việt Nam có một lịch sử khá lâu đời (ở miền Bắc) nhưng cũng rất mới (ở miền Nam và trên Tây Nguyên).

Trong suốt thời lập quốc, lãnh thổ nước Văn Lang đã được hình thành như thế nào và lớn rộng tới đâu, không có tài liệu nào nói rõ. Dưới thời Bắc thuộc, lãnh thổ Giao Châu bắt đầu từ đâu và dừng lại ở nơi nào còn là một dấu hoi ; trụ đồng Mã Viện không biết được dựng ở đâu, trên vùng biên giới nào. Sang thời tự chủ, ranh giới giữa Đại Việt và các lân bang lại càng không rõ vì chinh chiến liên miên, lãnh thổ lúc co lúc giản tùy theo sự lớn mạnh của mỗi triều đại. Lãnh thổ Việt Nam chỉ thực sự lớn rộng từ cuối thế kỷ 10 sau khi giành được độc lập, và chỉ thật sự ổn định khi bị Pháp chiếm đóng và một dấu hoi ; trụ đ một

Nhưng dưới thời Pháp thuộc, nước Việt Nam bị chia ra làm ba miền, mỗi miền có hai biên giới khác nhau : biên giới nội địa giữa các vùng hành chánh với nhau và biên giới với các lân bang, trong đó có ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) và các quốc gia lân bang (Trung Hoa, Lào và Campuchia). Tuy vậy, trong sự phân chia đó, ba miền của Việt Nam đã có một lãnh thổ địa lý-chính trị ổn định và một đường biên giới theo đúng nghĩa công pháp quốc tế hiện nay. Những biên giới này có một căn bản pháp lý vững chắc dựa trên những văn kiện chính thức do quốc hội hay chính quyền địa phương ban hành ; trên phương diện quốc tế đó là những hiệp ước song phương hay đa quốc.

Về cuộc Nam tiến, lúc ban đầu nó là chỉ là cuộc phiêu lưu của những nông dân nghèo khó đi về phía Nam tìm đất mới để canh tác, kế đến là những gia đình quân nhân trấn đóng ở các vùng biên giới đến khai thác các vùng đất mới. Tiếp theo sau là những trao đổi về quyền lợi giữa hai vương quyền suôi gia Việt-Chăm, trong đó đất đai là của cải hồi môn. Sau cùng là chiến tranh, phe bị thua nhượng của cải (người và đất). Rồi cái vòng lẩn quẩn lại ấy tiếp tục, những gia đình nông dân nghèo khó tình nguyện vào khai phá những vùng đất mới để dựng làng lập xã và cứ như thế lãnh thổ của người Việt tiến dần xuống phía Nam, v.v.

Trong cuộc Nam tiến này, cho đến nay ít có tài liệu nào nói rõ về đề tài này một cách khách quan và khoa học như nó đã diễn ra đối với đất đai, con người và văn hóa. Chính những thiếu sót này mà nhiều thành phần dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa hiểu rõ nhau để có thể tin tưởng và cùng bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung.

Kết lại quan hệ giữa người Việt Nam với nhau

Trong số 54 sắc tộc tạo thành dân tộc Việt Nam, 50 sinh sống dọc các vùng biên giới. Sự hiện diện của những thành phần dân tộc này đã có từ lâu đời và đã giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam.

Dưới thời Bắc thuộc, di dân Hán tộc vào Giao Chỉ lập nghiệp rất đông. Sự tích "một mẹ trăm con" có lẽ đã bắt đầu từ giai đoạn này. Một số dân cư Âu Lạc có tinh thần độc lập cao, không chấp nhận sự thống trị của người Hán, rút lên miền núi trở về cuộc sống cổ truyền : duy trì chế độ mẫu hệ, làm rẫy, săn bắn và hái lượm, để rồi trở thành những nhóm Mường và Tày. Do sống cách biệt lâu ngày với đồng bằng, đời sống người miền núi trở nên lạc hậu và thua kém người đồng bằng. Trong khi đó trên châu thổ sông Hồng, cuộc sống hòa trộn giữa các nhóm Lạc Việt đồng bằng còn lại và người Hán di cư tạo thành một cộng đồng chủng tộc mới, cộng đồng người Kinh, theo chế độ phụ hệ. "Kinh" không phải là tên của một chủng tộc riêng biệt, thường được hiểu là người Việt, mà là tên gọi chung những người sinh sống ở vùng đồng bằng và chốn thị thành để phân biệt với người miền núi hay vùng cao (Man). Với thời gian, yếu tố Indonésien và Mông Cổ trong cộng đồng người Kinh biến thể dần và trở thành yếu tố Việt-Mường. Kết quả chọn lựa hai khu vực định cư thay đổi hẳn quan hệ giữa người đồng bằng và người miền núi. Nhờ sinh sống trên một địa bàn thích hợp với nghề trồng lúa nước và biết áp dụng phương thức tổ chức xã hội theo khuôn mẫu Nho giáo mà đặc điểm là củng cố không gian sinh tồn thuần chủng quanh khu vực trung tâm, hố cách biệt giữa hai khu vực địa dư ngày càng sâu rộng : dân số người Kinh đồng bằng gia tăng nhanh và phát triển hơn cộng đồng miền núi.

Trên miền núi, do những biến động chính trị và xã hội tại Trung Quốc nhiều cộng đồng thiểu số khác chạy vào Việt Nam nương náu và lập nghiệp, trong đó có người Nùng, người Thái cùng những phụ hệ khác.

Tại miền Trung, khi bị quân Nguyên tấn công lần đầu tiên vào đầu thế kỷ 13, quan quân nhà Trần đã chạy lên khu sinh trú của người Thái lẩn tránh ; tại đây họ được giúp đỡ để gây dựng lại lực lượng và đuổi quân Minh ra khỏi nước, từ đó quan hệ giữa người Thái và người Kinh trở nên thắm thiết, nhất là dưới thời nhà Lê và kéo dài cho đến hết thời tự chủ. Ngược lại quan hệ giữa người Việt với người Thượng trên Tây Nguyên đã rất khó khăn vì không cùng văn hóa và nhất là bị ngăn chia bởi người Pháp. Khi Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ đầu thế kỷ 17, người Thượng bị liệt vào hạng Man hoang (chưa được cải hóa) nên không được đối xử như những sắc tộc khác tại miền Bắc. Trong suốt dòng Nam tiến, cộng đồng người Thượng trên cao nguyên bị ngăn cấm tiếp xúc với người đồng bằng nên không ai nắm rõ phong tục tập quán, ngôn ngữ của những nhóm người này. Khi bị người Pháp cai trị, cộng đồng người Thượng lại càng sống tách biệt hơn với người Kinh. Chỉ đến năm 1954 hai cộng đồng này mới có dịp cộng cư với nhau, nhưng những ngăn cản về lịch sử và tâm lý của quá khứ vẫn còn ám ảnh nên chưa sinh sống hài hòa với nhau được. Với thời gian cộng đồng này trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ, tương lai của con cháu họ trong những ngày sắp tới rất là bấp bênh nếu không có một chính sách nâng đỡ xứng đáng.

Tiến về miền Nam, người Kinh có dịp tiếp xúc với hai cộng đồng sắc tộc mới : người Khmer và người Hoa. Cuộc chung sống giữa ba cộng đồng Kinh, Hoa và Khmer đã rất hài hòa trước khi bị người Pháp cai trị. Khi vừa được độc lập năm 1954, cộng đồng người Hoa và người Khmer liền bị phân biệt đối xử. Các chính quyền kế tiếp theo đã phải mất rất nhiều năm mới tái lập lại những quan hệ tốt đẹp ngày xưa, nhưng chỉ được vài năm thì người Hoa lại bị phân biệt đối xử (1979), người Khmer thì bị nghi ngờ.

Tìm hiểu sự hình thành các vùng biên giới chính vì thế cũng là tìm hiểu sự hiện diện của những sắc dân sinh sống trên các vùng biên giới đó. Nắm vững yếu tố này, chúng ta có đủ lý do để tự hào dân tộc Việt Nam là một dân tộc lớn, trong đó mọi công dân đều được bình đẳng trong việc xây dựng hạnh phúc cho mình và cho gia đình mình.

Nguyễn Văn Huy

In bài này