Một bộ máy chuyên phí phạm

Theo Người Việt - Ngô Nhân Dụng - 09-05-2006

 Khi đổ xăng vào chiếc xe hơi quý vị biết bộ máy xe sẽ biến xăng thành năng lượng để xe chạy. Người ta thường đo lường hiệu quả của động cơ xe bằng quãng đường chạy với mỗi lít xăng. Thí dụ, xe chạy được 10 cây số với một lít xăng thì có hiệu quả hơn cái xe chỉ chạy được 8 cây số với một lít. Tất nhiên, nếu hai chiếc xe đẹp đẽ, bảnh bao, lịch sự như nhau thì chúng ta sẽ chọn cái xe chạy không tốn xăng.

Người ta cũng có thể đo lường hiệu quả của một guồng máy kinh tế giống như vậy. Hệ thống kinh tế các nước cộng sản nổi tiếng là phí phạm. Dưới thời các ông Stalin, Mao Trạch Ðông, cả guồng máy kinh tế đã đặt dưới sự chỉ huy của đảng. Họ dùng tài nguyên, nhân lực của cả quốc gia để thực hiện các “kế hoạch kinh tế” từ trung ương soạn ra. Ngay từ thập niên 1940 các nhà kinh tế như Friedrich von Hayek đã chứng minh rằng một guồng máy kinh tế chỉ huy như vậy không chạy được, vì không bộ máy trung ương nào có đủ tin tức để điều hành cuộc sống phức tạp của một quốc gia. Cho nên nó chỉ phí phạm tài nguyên và sức lao động mà thôi, chưa kể là nó sẽ biến nhân dân thành nô lệ cho nhà nước. Ngay cả sau khi họ đã “đổi mới” rồi, kinh tế các nước cộng sản vẫn là bộ máy phí phạm khổng lồ. Lý do chính là vì chế độ chính trị không thay đổi, vẫn theo lối độc quyền đảng trị. Thử nêu một con số làm thí dụ: Ðể sản xuất ra một đồng bạc trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, hiện nay bên Trung Quốc phải dùng một số nhiên liệu cao gấp 4 lần bên Mỹ. Việc dùng nhiên liệu là chuyện nhỏ. Sự phí phạm trong cả hệ thống mới đáng nói. Không phải người Trung Hoa làm việc kém người Mỹ. Mà hệ thống chính trị độc đảng sinh ra tinh thần vô trách nhiệm trong các xí nghiệp cũng như các ngân hàng, chính khuyết điểm đó gây ra phí phạm.

Bên trong đảng Cộng Sản Việt Nam người ta hay nói đến nạn “lãng phí,” lãng phí thường đi đôi với nạn “tham ô.” Khi một cán bộ ngồi ghế chỉ huy lạm dụng tiền bạc của cơ quan cho lợi ích riêng của mình, như vậy họ gọi là lãng phí. Nhưng những thứ mất mát do “lãng phí” cũng chỉ là những món tiền nhỏ. Phải nhìn thấy những “phí phạm do hệ thống,” là guồng máy cai trị, phương pháp điều hành kinh tế của đảng Cộng Sản, ở đó mới là những phí phạm lớn nhất.

Trong một bài trước, chúng tôi đã giải thích tình trạng hệ thống ngân hàng ở các nước cộng sản đem tiền của người dân đưa cho các ngân hàng và xí nghiệp quốc doanh nuôi các cán bộ ăn hại như thế nào (bài Thời Sự Kinh Tế: Ăn Cướp Bằng Hệ Thống Ngân Hàng, Người Việt ngày 5 Tháng Năm, 2006). Tiền do nhân dân tiết kiệm gửi vào ngân hàng, được cán bộ đưa cho các xí nghiệp quốc doanh vay. Các xí nghiệp đó không trả được nợ, ngân hàng nhà nước phải xóa những món “nợ xấu.” Khi ngân hàng nhà nước mang quá nhiều nợ xấu, nhà nước sẽ đem công quỹ ra trợ cấp dưới nhiều hình thức để nuôi các ngân hàng này. Ðó là ăn cướp của người dân để nuôi các cán bộ ăn hại.

Nhưng thực ra số tiền để nuôi các cán bộ đảng ăn hại như vậy cũng vẫn là những món nhỏ. Thứ phí phạm lớn nhất, tai hại nhất cho quốc gia, là các món tiền mà những cán bộ đó đem sử dụng không mang lại hiệu quả kinh tế. Ăn hại không ghê bằng làm hại!

Nếu quý vị đưa tiền cho một người nào bảo để kinh doanh, sản xuất, mà người đó cuối cùng chế tạo ra toàn những món hàng xấu, không ai dùng được, không ai mua thì quý vị tính sao? Chắc phải cắt ngay nguồn tài trợ. Nếu nhà kinh doanh này dùng $100 triệu đầu tư mà làm ăn thua lỗ, mỗi năm mất tiêu $10 triệu, thì chắc quý vị chịu đựng vài ba năm rồi cũng phải ngưng, không ai dại gì nuôi báo cô mãi. Những xí nghiệp quốc doanh phần lớn thuộc loại như vậy; nhưng nhà nước cộng sản, do đảng Cộng Sản cầm đầu, cứ tiếp tục nuôi dưỡng những bộ máy phí phạm đó, năm này qua năm khác. Ðó là một hệ thống phí phạm tài nguyên của nhân dân.

Trong bài thời sự kinh tế kể trên, chúng tôi đã nêu lên con số những món nợ xấu đang nằm trong hệ thống các ngân hàng Trung Quốc, do các cuộc nghiên cứu quốc tế ước tính. Kinh tế Việt Nam còn thấp quá không cống hiến nhiều cơ hội bằng Trung Quốc cho nên không được các công ty tài chính quốc tế chú ý; vì vậy không có những ước tính thành con số như ở Trung Quốc. Hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc có những món nợ khó đòi, tổng cộng khoảng 911 tỷ Mỹ kim. Số tiền này cao hơn số dự trữ ngoại tệ 875 tỷ Mỹ kim, và lớn bằng một nửa Tổng Sản Lượng Nội Ðịa một năm. Ðiều này nghĩa là gì? Nghĩa là toàn thể hơn một tỷ người Trung Hoa một năm cứ kiếm ra được hai đồng thì các ngân hàng đã cho các xí nghiệp quốc doanh vay, nợ tích lũy nhiều năm đến nay lên tới một đồng không thể đòi lại được. Thứ hai, các công nhân Trung Hoa làm lụng, sản xuất, bán hàng ra nước ngoài, tiền thu về dư ra được $875 tỷ được chính phủ cất đó. Số tiền “dự trữ” này một số lớn đang đem cho Mỹ vay, nhờ thế quý vị sống ở Mỹ được hưởng lãi suất thấp cả chục năm qua. Trong mấy năm trước số tiền dự trữ đó đã từng được chính phủ Bắc Kinh lấy ra trợ cấp các ngân hàng lỗ lã, tổng cộng đem cho hơn 400 tỷ Mỹ kim. Nhưng ngay bây giờ nếu đem tất cả số tiền $875 tỷ đó ra trợ cấp thì vẫn không đủ để bù cho số tiền mất mát về các khoản nợ xấu do các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc đem cho các cán bộ ở doanh nghiệp nhà nước vay. Phải nhìn thấy số ngoại tệ dư trữ đó là do công lao mồ hôi nước mắt của các công nhân Trung Quốc chế ra hàng để xuất cảng thì mới thấy rõ một sự thật, là chế độ cộng sản ở nước này đã bóc lột các công nhân để nuôi các cán bộ kinh tế của họ - và cho người Mỹ vay lãi thấp.

Chúng ta đã nghe nói là đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng như Việt Nam đang “cải tổ, đổi mới” kinh tế. Một trong các biện pháp đổi mới là giải tán bớt các xí nghiệp quốc doanh thua lỗ. Trong mươi năm qua, Cộng Sản Trung Quốc đã đóng cửa nhiều doanh nghiệp nhà nước, có 30 triệu công nhân làm ở các doanh nghiệp đó bị sa thải. Nhưng không thấy các cán bộ cộng sản lớn nào mất việc, vì họ sẽ được điều động sang các công việc khác, tiếp tục hưởng lương cao bổng hậu! Còn việc cải tổ hệ thống ngân hàng thì đến nay vẫn giậm chân tại chỗ, vì quyền lợi dính líu lớn quá.

Khi các cán bộ điều hành xí nghiệp được điều động sang các chức vụ mới, họ có cải thiện lề lối làm việc hay không? Nếu họ làm việc cho các xí nghiệp tư thì chắc họ sẽ phải cải tiến, không thay đổi không được. Nhưng nếu vẫn làm trong hệ thống quốc doanh thì rất khó. Vì tiêu chuẩn thành công của các viên chức, cán bộ không phải là tạo ra lợi nhuận. Trong đầu óc các quan chức cộng sản, hai chữ “lợi nhuận” không những chẳng có gì hay mà còn bị coi là xấu xa nhơ bẩn nữa. Gần đây, ông Nguyễn Ðức Bình ở Việt Nam viết một bài chỉ trích việc cho các đảng viên làm kinh doanh tư, ông đã chỉ trích mục tiêu “gia tăng lợi nhuận,” ông còn mỉa mai những chữ “tối đa hóa doanh lợi,” coi như là một điều nhơ bẩn ghê lắm, nói ra ai cũng cho là xấu. Nhưng nếu cho người ta làm ăn mà không cho sinh lợi thì làm ăn làm gì? Mà đã kinh doanh thì phải kiếm càng nhiều càng tốt, làm sao bảo phải ngưng? Ở các nước tư bản người ta vẫn có những luật lệ buộc các xí nghiệp phải tôn trọng quyền lợi công nhân, phải tôn trọng lợi ích công, phải đóng thuế, nhưng bên trong vòng luật pháp thì cứ tha hồ kiếm lời. Nếu như các cán bộ quản lý cộng sản mà biết theo đúng pháp luật rồi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh lợi ở trong các doanh nghiệp nhà nước, để thêm tiền đóng vào công quỹ, thì người dân may ra cũng được nhờ!

Ở các nước cộng sản, họ dùng mục tiêu nào thay thế cho “tối đa hóa doanh lợi?” Ở Trung Quốc, thông thường một ông bí thư tỉnh hay thành phố ngồi ở chức vụ khoảng ba năm. Và sau ba năm, con số thường được đem ra đo lường làm thành tích của ngài là tổng số các tích sản đã tạo ra trong địa phương các ngài trọng nhậm: Bao nhiêu nhà máy, bao nhiêu cao ốc, bao nhiêu đường, cầu, vân vân. Vì vậy, các quan chức chỉ chú ý đầu tư vào việc xây dựng để ghi vào thành tích, chưa kể là những khoản tiền rút ra được nhờ thâm thủng ngân sách xây dựng. Những món đầu tư đó có thể không ích lợi gì về lâu dài, những nhà máy lập lên không hoạt động được vì thiếu thiết bị, thiếu nguyên liệu, vân vân; hoặc đưa tới cảnh một vùng có nhiều nhà máy thép, nhiều nhà máy nhôm, nhiều nhà máy ráp xe hơi quá, làm ra bán không được.

Ngân Hàng Thế Giới cho biết một phần ba số đầu tư về tích sản cố định (fixed assets) trong thập niên 1990 ở Trung Quốc là phí phạm vô ích. Những dự án vô ích đó lấy tiền ở đâu ra mà đầu tư? Họ vay nợ từ các ngân hàng thương mại của nhà nước! Chính phủ Bắc Kinh đã ra nhiều chỉ thị hạn chế số tiền cho vay. Nhưng quan xa, nha gần, các chi nhánh ngân hàng ở địa phương vẫn phải cho vay theo lệnh các cấp ủy địa phương. Và họ có đủ cách tô vẽ các khoản nợ đó cho có vẻ vẫn theo đúng chỉ thị, không khó gì! Cho nên mới sinh ra nợ xấu. Theo báo cáo của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc thì trong hai năm 2000-2001 có tới 60 phần trăm các món nợ xấu là do các cấp ủy buộc các ngân hàng phải cho vay. Phần còn lại chắc là theo “sáng kiến” của các cán bộ ngân hàng!

Ðó là một guồng máy phí phạm khổng lồ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có biết hay không? Tất nhiên họ biết, và họ cũng muốn thay đổi cho guồng máy kinh tế bớt phí phạm đi. Như vậy thì tại sao sau gần 30 năm cải tổ họ vẫn để nó sinh phí phạm như vậy? Vì họ không muốn thay đổi hệ thống chính trị! Chính trị quyết định tất cả!

Trung Quốc cải tổ kinh tế trước Việt Nam, đến bây giờ vẫn giữ khoảng cách độ 10 năm, 15 năm. Thường bên Trung Quốc làm gì thì 10 năm sau, 20 năm sau Cộng Sản Việt Nam cũng bắt chước. Chúng ta thiếu tài liệu về Việt Nam vì không có những số thống kê đáng tin, và các công ty nghiên cứu kinh tế ngoại quốc chưa chú ý đến Việt Nam. Nhưng tình trạng phí phạm ở Việt Nam chắc không kém mà còn có thể phí phạm hơn bên Trung Quốc.

NGÔ NHÂN DỤNG


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_1_bo_may_chuyen_phi_pham__1.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.