Khi
đổ xăng vào chiếc xe hơi quý vị biết bộ máy xe sẽ biến xăng thành năng
lượng để xe chạy. Người ta thường đo lường hiệu quả của động cơ xe bằng
quãng đường chạy với mỗi lít xăng. Thí dụ, xe chạy được 10 cây số với
một lít xăng thì có hiệu quả hơn cái xe chỉ chạy được 8 cây số với một
lít. Tất nhiên, nếu hai chiếc xe đẹp đẽ, bảnh bao, lịch sự như nhau thì
chúng ta sẽ chọn cái xe chạy không tốn xăng.
Người
ta cũng có thể đo lường hiệu quả của một guồng máy kinh tế giống như
vậy. Hệ thống kinh tế các nước cộng sản nổi tiếng là phí phạm. Dưới
thời các ông Stalin, Mao Trạch Ðông, cả guồng máy kinh tế đã đặt dưới
sự chỉ huy của đảng. Họ dùng tài nguyên, nhân lực của cả quốc gia để
thực hiện các “kế hoạch kinh tế” từ trung ương soạn ra. Ngay từ thập
niên 1940 các nhà kinh tế như Friedrich von Hayek đã chứng minh rằng
một guồng máy kinh tế chỉ huy như vậy không chạy được, vì không bộ máy
trung ương nào có đủ tin tức để điều hành cuộc sống phức tạp của một
quốc gia. Cho nên nó chỉ phí phạm tài nguyên và sức lao động mà thôi,
chưa kể là nó sẽ biến nhân dân thành nô lệ cho nhà nước. Ngay cả sau
khi họ đã “đổi mới” rồi, kinh tế các nước cộng sản vẫn là bộ máy phí
phạm khổng lồ. Lý do chính là vì chế độ chính trị không thay đổi, vẫn
theo lối độc quyền đảng trị. Thử nêu một con số làm thí dụ: Ðể sản xuất
ra một đồng bạc trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, hiện nay bên Trung Quốc
phải dùng một số nhiên liệu cao gấp 4 lần bên Mỹ. Việc dùng nhiên liệu
là chuyện nhỏ. Sự phí phạm trong cả hệ thống mới đáng nói. Không phải
người Trung Hoa làm việc kém người Mỹ. Mà hệ thống chính trị độc đảng
sinh ra tinh thần vô trách nhiệm trong các xí nghiệp cũng như các ngân
hàng, chính khuyết điểm đó gây ra phí phạm.
Bên
trong đảng Cộng Sản Việt Nam người ta hay nói đến nạn “lãng phí,” lãng
phí thường đi đôi với nạn “tham ô.” Khi một cán bộ ngồi ghế chỉ huy lạm
dụng tiền bạc của cơ quan cho lợi ích riêng của mình, như vậy họ gọi là
lãng phí. Nhưng những thứ mất mát do “lãng phí” cũng chỉ là những món
tiền nhỏ. Phải nhìn thấy những “phí phạm do hệ thống,” là guồng máy cai
trị, phương pháp điều hành kinh tế của đảng Cộng Sản, ở đó mới là những
phí phạm lớn nhất.
Trong
một bài trước, chúng tôi đã giải thích tình trạng hệ thống ngân hàng ở
các nước cộng sản đem tiền của người dân đưa cho các ngân hàng và xí
nghiệp quốc doanh nuôi các cán bộ ăn hại như thế nào (bài Thời Sự Kinh
Tế: Ăn Cướp Bằng Hệ Thống Ngân Hàng, Người Việt ngày 5 Tháng Năm,
2006). Tiền do nhân dân tiết kiệm gửi vào ngân hàng, được cán bộ đưa
cho các xí nghiệp quốc doanh vay. Các xí nghiệp đó không trả được nợ,
ngân hàng nhà nước phải xóa những món “nợ xấu.” Khi ngân hàng nhà nước
mang quá nhiều nợ xấu, nhà nước sẽ đem công quỹ ra trợ cấp dưới nhiều
hình thức để nuôi các ngân hàng này. Ðó là ăn cướp của người dân để
nuôi các cán bộ ăn hại.
Nhưng
thực ra số tiền để nuôi các cán bộ đảng ăn hại như vậy cũng vẫn là
những món nhỏ. Thứ phí phạm lớn nhất, tai hại nhất cho quốc gia, là các
món tiền mà những cán bộ đó đem sử dụng không mang lại hiệu quả kinh
tế. Ăn hại không ghê bằng làm hại!
Nếu
quý vị đưa tiền cho một người nào bảo để kinh doanh, sản xuất, mà người
đó cuối cùng chế tạo ra toàn những món hàng xấu, không ai dùng được,
không ai mua thì quý vị tính sao? Chắc phải cắt ngay nguồn tài trợ. Nếu
nhà kinh doanh này dùng $100 triệu đầu tư mà làm ăn thua lỗ, mỗi năm
mất tiêu $10 triệu, thì chắc quý vị chịu đựng vài ba năm rồi cũng phải
ngưng, không ai dại gì nuôi báo cô mãi. Những xí nghiệp quốc doanh phần
lớn thuộc loại như vậy; nhưng nhà nước cộng sản, do đảng Cộng Sản cầm
đầu, cứ tiếp tục nuôi dưỡng những bộ máy phí phạm đó, năm này qua năm
khác. Ðó là một hệ thống phí phạm tài nguyên của nhân dân.
Trong
bài thời sự kinh tế kể trên, chúng tôi đã nêu lên con số những món nợ
xấu đang nằm trong hệ thống các ngân hàng Trung Quốc, do các cuộc
nghiên cứu quốc tế ước tính. Kinh tế Việt Nam còn thấp quá không cống
hiến nhiều cơ hội bằng Trung Quốc cho nên không được các công ty tài
chính quốc tế chú ý; vì vậy không có những ước tính thành con số như ở
Trung Quốc. Hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại ở Trung
Quốc có những món nợ khó đòi, tổng cộng khoảng 911 tỷ Mỹ kim. Số tiền
này cao hơn số dự trữ ngoại tệ 875 tỷ Mỹ kim, và lớn bằng một nửa Tổng
Sản Lượng Nội Ðịa một năm. Ðiều này nghĩa là gì? Nghĩa là toàn thể hơn
một tỷ người Trung Hoa một năm cứ kiếm ra được hai đồng thì các ngân
hàng đã cho các xí nghiệp quốc doanh vay, nợ tích lũy nhiều năm đến nay
lên tới một đồng không thể đòi lại được. Thứ hai, các công nhân Trung
Hoa làm lụng, sản xuất, bán hàng ra nước ngoài, tiền thu về dư ra được
$875 tỷ được chính phủ cất đó. Số tiền “dự trữ” này một số lớn đang đem
cho Mỹ vay, nhờ thế quý vị sống ở Mỹ được hưởng lãi suất thấp cả chục
năm qua. Trong mấy năm trước số tiền dự trữ đó đã từng được chính phủ
Bắc Kinh lấy ra trợ cấp các ngân hàng lỗ lã, tổng cộng đem cho hơn 400
tỷ Mỹ kim. Nhưng ngay bây giờ nếu đem tất cả số tiền $875 tỷ đó ra trợ
cấp thì vẫn không đủ để bù cho số tiền mất mát về các khoản nợ xấu do
các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc đem cho các cán bộ ở doanh nghiệp
nhà nước vay. Phải nhìn thấy số ngoại tệ dư trữ đó là do công lao mồ
hôi nước mắt của các công nhân Trung Quốc chế ra hàng để xuất cảng thì
mới thấy rõ một sự thật, là chế độ cộng sản ở nước này đã bóc lột các
công nhân để nuôi các cán bộ kinh tế của họ - và cho người Mỹ vay lãi
thấp.
Chúng
ta đã nghe nói là đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng như Việt Nam đang “cải
tổ, đổi mới” kinh tế. Một trong các biện pháp đổi mới là giải tán bớt
các xí nghiệp quốc doanh thua lỗ. Trong mươi năm qua, Cộng Sản Trung
Quốc đã đóng cửa nhiều doanh nghiệp nhà nước, có 30 triệu công nhân làm
ở các doanh nghiệp đó bị sa thải. Nhưng không thấy các cán bộ cộng sản
lớn nào mất việc, vì họ sẽ được điều động sang các công việc khác, tiếp
tục hưởng lương cao bổng hậu! Còn việc cải tổ hệ thống ngân hàng thì
đến nay vẫn giậm chân tại chỗ, vì quyền lợi dính líu lớn quá.
Khi
các cán bộ điều hành xí nghiệp được điều động sang các chức vụ mới, họ
có cải thiện lề lối làm việc hay không? Nếu họ làm việc cho các xí
nghiệp tư thì chắc họ sẽ phải cải tiến, không thay đổi không được.
Nhưng nếu vẫn làm trong hệ thống quốc doanh thì rất khó. Vì tiêu chuẩn
thành công của các viên chức, cán bộ không phải là tạo ra lợi nhuận.
Trong đầu óc các quan chức cộng sản, hai chữ “lợi nhuận” không những
chẳng có gì hay mà còn bị coi là xấu xa nhơ bẩn nữa. Gần đây, ông
Nguyễn Ðức Bình ở Việt Nam viết một bài chỉ trích việc cho các đảng
viên làm kinh doanh tư, ông đã chỉ trích mục tiêu “gia tăng lợi nhuận,”
ông còn mỉa mai những chữ “tối đa hóa doanh lợi,” coi như là một điều
nhơ bẩn ghê lắm, nói ra ai cũng cho là xấu. Nhưng nếu cho người ta làm
ăn mà không cho sinh lợi thì làm ăn làm gì? Mà đã kinh doanh thì phải
kiếm càng nhiều càng tốt, làm sao bảo phải ngưng? Ở các nước tư bản
người ta vẫn có những luật lệ buộc các xí nghiệp phải tôn trọng quyền
lợi công nhân, phải tôn trọng lợi ích công, phải đóng thuế, nhưng bên
trong vòng luật pháp thì cứ tha hồ kiếm lời. Nếu như các cán bộ quản lý
cộng sản mà biết theo đúng pháp luật rồi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa
doanh lợi ở trong các doanh nghiệp nhà nước, để thêm tiền đóng vào công
quỹ, thì người dân may ra cũng được nhờ!
Ở
các nước cộng sản, họ dùng mục tiêu nào thay thế cho “tối đa hóa doanh
lợi?” Ở Trung Quốc, thông thường một ông bí thư tỉnh hay thành phố ngồi
ở chức vụ khoảng ba năm. Và sau ba năm, con số thường được đem ra đo
lường làm thành tích của ngài là tổng số các tích sản đã tạo ra trong
địa phương các ngài trọng nhậm: Bao nhiêu nhà máy, bao nhiêu cao ốc,
bao nhiêu đường, cầu, vân vân. Vì vậy, các quan chức chỉ chú ý đầu tư
vào việc xây dựng để ghi vào thành tích, chưa kể là những khoản tiền
rút ra được nhờ thâm thủng ngân sách xây dựng. Những món đầu tư đó có
thể không ích lợi gì về lâu dài, những nhà máy lập lên không hoạt động
được vì thiếu thiết bị, thiếu nguyên liệu, vân vân; hoặc đưa tới cảnh
một vùng có nhiều nhà máy thép, nhiều nhà máy nhôm, nhiều nhà máy ráp
xe hơi quá, làm ra bán không được.
Ngân
Hàng Thế Giới cho biết một phần ba số đầu tư về tích sản cố định (fixed
assets) trong thập niên 1990 ở Trung Quốc là phí phạm vô ích. Những dự
án vô ích đó lấy tiền ở đâu ra mà đầu tư? Họ vay nợ từ các ngân hàng
thương mại của nhà nước! Chính phủ Bắc Kinh đã ra nhiều chỉ thị hạn chế
số tiền cho vay. Nhưng quan xa, nha gần, các chi nhánh ngân hàng ở địa
phương vẫn phải cho vay theo lệnh các cấp ủy địa phương. Và họ có đủ
cách tô vẽ các khoản nợ đó cho có vẻ vẫn theo đúng chỉ thị, không khó
gì! Cho nên mới sinh ra nợ xấu. Theo báo cáo của Ngân Hàng Trung Ương
Trung Quốc thì trong hai năm 2000-2001 có tới 60 phần trăm các món nợ
xấu là do các cấp ủy buộc các ngân hàng phải cho vay. Phần còn lại chắc
là theo “sáng kiến” của các cán bộ ngân hàng!
Ðó
là một guồng máy phí phạm khổng lồ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có biết
hay không? Tất nhiên họ biết, và họ cũng muốn thay đổi cho guồng máy
kinh tế bớt phí phạm đi. Như vậy thì tại sao sau gần 30 năm cải tổ họ
vẫn để nó sinh phí phạm như vậy? Vì họ không muốn thay đổi hệ thống
chính trị! Chính trị quyết định tất cả!
Trung
Quốc cải tổ kinh tế trước Việt Nam, đến bây giờ vẫn giữ khoảng cách độ
10 năm, 15 năm. Thường bên Trung Quốc làm gì thì 10 năm sau, 20 năm sau
Cộng Sản Việt Nam cũng bắt chước. Chúng ta thiếu tài liệu về Việt Nam
vì không có những số thống kê đáng tin, và các công ty nghiên cứu kinh
tế ngoại quốc chưa chú ý đến Việt Nam. Nhưng tình trạng phí phạm ở Việt
Nam chắc không kém mà còn có thể phí phạm hơn bên Trung Quốc.
NGÔ NHÂN DỤNG