Melvin
R. Laird, cựu bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Mỹ dưới thời Nixon, sau mấy chục
năm im lặng mới lên tiếng gần đây. Ông nói rằng chiến tranh Việt
Cựu
bộ trưởng nói rằng Tổng Thống Ford, Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissingger, Bộ
Trưởng Quốc Phòng Schlesinger phải chia sẻ nỗi nhục này, cũng theo ông
Quốc Hội là thủ phạm chính trong sự bỏ rơi đồng minh qua một số quyết
định như:
1- Cấm dứt can thiệp quân sự (Tháng Tám năm 1973).
2- Cấm can thiệp trở lại Việt
3- Cấm trả đũa nếu Hiệp Ðịnh Paris bị vi phạm.
4- Giảm quân viện từ 1 tỉ 4 xuống còn 700 triệu vào năm 1974.
5- Từ chối yêu cầu của Tổng Thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt
Cũng
theo Laird, Tổng Thống Ford đã bác bỏ thuyết Domino đã có từ ngày 7
Tháng Tư năm 1954 dưới thời Tổng Thống Eisenhower cho rằng hễ mất một
nước sẽ mất luôn nhiều quốc gia khác mà người mình thường nói nôm na
môi hở thì răng lạnh.
Vào
ngày 10 Tháng Ba năm 2006 vừa qua hằng trăm chuyên viên, chính trị gia
nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia
cuộc hội thảo tại thư viện Kennedy thành phố Boston, họ thảo luận đề
tài “Chiến Tranh Việt Nam và các tổng thống Hoa Kỳ”. Các chuyên viên
cho rằng đó là một cuộc chiến đầy những tai họa. Bà giám đốc thư viện
nói các vị tổng thống Hoa Kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc
chiến tranh Việt Nam, họ tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng đó
chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà một sử gia nói nó chỉ là một sự tính
toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một diễn
giả sử gia trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính
đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.
Trên
đây là hai ý kiến trái ngược nhau, một bên đại diện là cựu Bộ Trưởng
Laird cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể coi là một sự sai
lầm và ngược lại những người tham dự buổi hội thảo tại Boston cho rằng
cuộc chiến tranh Việt Nam là sai lầm.Cuộc chiến tranh ấy đã khiến Hoa
Kỳ phải chi tới mấy trăm tỉ đô la, 58,000 quân nhân thiệt mạng, đất
nước bị xáo trộn về chính trị cũng như kinh tế... chưa kể đất nước phải
mang tiếng nhục bại trận. Theo chúng tôi biết thì tâm lý chung con
người thường ích kỷ, họ chỉ nghĩ đến những cái “mất” và không để ý tới
những cái “được”. Tất cả những sự mất mát đó chỉ là cái giá mà họ phải
trả để được bắt tay Mao xếnh xáng ngày 21 Tháng Hai năm 1972, muốn bắt
tay xếnh xáng đâu có phải chuyện dễ. Ðiều mà chính phủ Hoa Kỳ mong ước
bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung Quốc, đảng
cướp hung tợn này không còn là mối đe dọa tài sản tính mạng của Hoa Kỳ
nữa, nhưng sự chiêu hồi ấy phải trả một giá hơi cao.
Theo
chúng tôi nghĩ các ngài chuyên viên, chính trị gia ấy chắc cũng phải
thừa biết như vậy và sự giả vờ ngây thơ của họ cho thấy họ không thẳng
thắn nhìn nhận sự thật. Chúng tôi nghĩ các vị tổng thống Hoa Kỳ chắc
hẳn không sai lầm chút nào khi dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam
vì các ngài là những nhà chính trị gia lỗi lạc, những bậc thầy chính
trị của thế giới chẳng lẽ lại sai lầm như vậy sao? Người ta kêu ca
những sự thiệt hại cuộc chiến tranh ấy đã gây ra cho đất nước họ, thế
còn đất nước nạn nhân đã là bãi chiến trường của bom đạn, binh đao khói
lửa thì sao? Người Mỹ nói rằng số bom ném tại Việt Nam gấp 3 lần số bom
ném tại Âu Châu trong suốt thời Ðệ Nhị Thế Chiến, họ chỉ chú ý tới số
tiền chi phí khổng lồ về số lượng bom đã ném xuống nhưng lại không để ý
tới những nhân mạng, tài sản do những trái bom ấy gây nên.
Từ
Thế Chiến Thứ Hai đến nay ai cũng biết chỉ có thân phận mấy anh nhược
tiểu là chịu thiệt thòi, làm món hàng cho các cường quốc mua qua bán
lại, còn các siêu cường thì mấy khi chịu thiệt. Nay nhiều người cho
rằng cuộc chiến Iraq là một sự sai lầm, nhưng nếu nhìn vào con số thống
kê thì thấy Iraq là nước cung cấp dầu cho Hoa Kỳ nhiều nhất (29%), thứ
nhì là Ecuator (19%)... các nước khác ít lắm chỉ năm, bảy phần trăm
thôi. Nhìn vào cái “sự thật phũ phàng” ấy thì không thể kết luận là
chiến tranh Iraq sai lầm!
Sự
thật không phải Mỹ can thiệp vào Ðông Dương từ những năm 1964, 1965 mà
thật ra từ Tháng Mười năm 1950 khi Trung Cộng chuyển vũ khí ồ ạt giúp
Việt Minh, người Mỹ đã vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la,
hàng không mẫu hạm Mỹ đã chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp.
Chính phủ và Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ đó và đã được
người Mỹ trả lương. Năm 1950 viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp mới chỉ
là 17% nhưng mấy năm sau tăng lên tới 74%. Năm 1949 Mỹ đã tàn nhẫn bỏ
rơi Quốc Dân Ðảng Trung Hoa, Mao thừa cơ nuốt trọn nước Tàu và thành
lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc khiến cho cán cân lực lượng trên
thế giới lệch hẳn đi.
Ngay
khi vừa chiếm xong toàn cõi lục địa, Mao vội giúp đỡ và xúi giục Bắc
Triều Tiên xâm lăng miền Nam năm 1950 khiến cho Mỹ phải hốt hoảng lấy
danh nghĩa Liên Hiệp Quốc để nhảy vào ngăn chặn và đã phải dùng biển
lửa để chống lại chiến thuật biển người của Lâm Bưu. Mỹ bắt đầu ghê sợ
Trung Cộng từ đấy, một khối 500 triệu người hung hãn, đói khát, hiếu
chiến... lại căm thù Hoa Kỳ và Tây Phương ra mặt. Chiếm được toàn cõi
Trung Hoa, Mao thừa nhận Hồ, rồi Hồ thừa nhận Mao và được viện trợ vũ
khí đạn dược ồ ạt từ đất Tàu chuyển sang, ấy cũng là lúc Hoa Kỳ thấy
nguy cơ Cộng Sản đang lan tràn xuống Ðông Nam Á theo kiểu tằm ăn dâu và
cương quyết ngăn chận đến cùng.
Năm
1954 Pháp thất trận tại Ðiện Biên Phủ phải ký Hiệp Ðịnh Genève chia đôi
đất nước Việt Nam. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam để biến
nơi đây thành tiến đồn chống Cộng của thế giới tự do. Mỹ viện trợ quân
sự cho miền Nam, huấn luyện cho binh lính miền Nam kỹ thuật tác chiến
để ngăn ngừa hiểm họa Cộng Sản từ phương Bắc có thể tràn xuống bất cứ
lúc nào. Ðầu thập niên 1960 Trung Cộng cho nổ trái bom nguyên tử đầu
tiên, lật đổ được Kruschev khiến cho vai trò của Trung Cộng ngày càng
quan trọng, nó đã làm thành cái thế chân vạc trên thế giới hồi ấy. Một
thời gian ngắn sau, với đà tiến bộ khá nhanh, Trung Cộng chế tạo được
bom kinh khí, rồi chế được hỏa tiễn khi ấy Hoa Kỳ lại càng hoảng sợ hơn
bao giờ hết, đối với họ, Trung Cộng còn nguy hiểm và đáng sợ hơn Nga Xô
rất nhiều vì nó là một khối người đông như kiến, đói rách, tàn ác, hiếu
chiến... chỉ tính chuyện xua quân đi ăn cướp mà tâm lý anh nhà giàu lại
hay sợ kẻ cướp.
Mặc
dù Trung Cộng ngày càng chống đối Nga Xô nhưng vẫn coi Mỹ là kẻ thù số
một và thề quyết tâm đánh Mỹ. Năm 1965 Trung Cộng giật dây đảo chánh
bất thành tại Nam Dương khiến cho Hoa Kỳ lại càng lo sợ hơn. Tàu đỏ nay
đã trở thành cơn ác mộng đối với Hoa Kỳ. Sau khi hất cẳng Pháp tại miền
Nam Việt Nam 1955, người Mỹ dựng lên chính phủ Ngô Ðình Diệm và yểm trợ
hết mình, tình hữu nghị hai bên vô cùng khít nhưng chỉ được chừng bốn
năm. Khoảng 1960 trở đi hai bên bắt đầu chia rẽ trầm trọng, Cộng Sản
ngày càng gia tăng áp lực tại miền Nam, chúng đã đánh tới cấp trung
đoàn, Mỹ sợ miền Nam sắp mất tới nơi bèn đề nghị đưa quân vào bình định
nhưng ông Diệm một mực bác bỏ vì muốn giữ chủ quyền. Mỹ thấy chính phủ
miền Nam ngày càng ương bướng khó bảo nên đã tính chuyện lật đổ để thay
thế bằng một chính phủ khác dễ bảo hơn. Sau mấy lần cho đảo chính, ám
sát hụt mãi đến đầu Tháng Mười Một năm 1963 mới thành công.
Mỹ
tăng viện trợ quân sự cho miền Nam từ 1964 trở đi, năm 1965 chính thức
đổ quân vào Miền Nam khoảng 180,000 người, năm 1966 lên 380,000 người,
năm 1967 lên 480,000 người, năm 1968 lên tới 536,000 người đó là đỉnh
cao nhất. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc ấy đã lan rộng trên
đất Mỹ khi số lính Mỹ ủm củ tỏi tại Việt Nam lên tới 31,000 người.
Tháng Ba năm 1968 Tổng Thống Johnson hăm dọa Bắc Việt để họ phải vào
bàn hội nghị, Bắc Việt chấp nhận ngồi họp.
Từ
1965 đến 1968 cuộc chiến tranh cù cưa không dứt khoát, người ta đồn tư
bản Mỹ buộc chính phủ của họ kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, nhưng
cũng có thể họ trì hoãn để mặc cả đi đêm với khối Cộng nhất là Trung
Quốc. Tháng Tư năm 1969 Tướng Wesmoreland công bố bản phúc trình về
Việt Nam cho biết nếu Mỹ không vào Việt Nam 1965 thì đã mất trong 6
tháng, ông chỉ trích chính sách hạn chế chiến tranh của Johnson không
cho đánh qua Mên, Lào nên đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng.
Phong
trào phản chiến ngày càng lên cao, Nixon nhậm chức tổng thống đầu năm
1969 tuyên bố sẽ rút quân trong vòng mấy năm, thực hiện “Việt Nam hóa
chiến tranh”, hòa bình trong danh dự. Từ Tháng Tư đến Tháng Sáu năm
1970 Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa được Mỹ giúp đỡ và khuyến khích hành
quân sang Mên đánh Cộng Sản đã thành công vẻ vang, nhưng đầu năm sau
hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào không thành công, ta bị thiệt hại về
nhân mạng và vũ khí. Phong trào phản chiến tại Mỹ càng lên cao dữ dội
vì chính phủ mới vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh. Tháng Năm năm 1970
trong một cuộc biểu tình tại trường Ðại Học Kent, Ohio, quân đội đã bắn
chết 4 sinh viên, làm bị thương 10 người khác khiến cho phong trào
chống chiến tranh lên cao gấp bội lần những năm trước.
Nixon
bắt đầu cho rút quân từ giữa 1969 cho tới hết năm 1970 rút khoảng
300,000 quân... đến 1972 chỉ còn trên 70,000 người. Chính phủ Mỹ đồng
thời thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, nâng tổng số quân đội miền
Nam từ 600,000 và 700,000 trong những năm 1965, 1966 lên tới 940,000
giữa năm 1969. Hoa Kỳ rút quân thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh là đã
nghĩ tới chuyện bỏ Việt Nam, họ chỉ chờ cơ hội bắt tay được với Trung
Quốc là thực hiện kế hoạch “vắt chanh bỏ vỏ” nhưng người dân miền Nam
ngây thơ thật thà không ai ngờ tới. Trong khi giúp miền Nam đánh Cộng
Sản họ đã ngấm ngầm tìm cách thương lượng với Trung Hoa đỏ.
Năm
1969 chúng tôi có được nghe một anh bộ đội người cùng làng ra hồi
chánh, anh ta nói “Mỹ nó muốn chiêu hồi Trung Quốc đấy chứ cái anh Bắc
Việt thì nghĩa lý gì”. Lời anh ta nói thật là linh ứng, Tháng Hai năm
1972 tại Bắc Kinh, tổng thống đế quốc bắt tay được Mao chủ tịch. Họ mua
bán với nhau trên xương máu của nhân dân và binh lính cả hai miền Nam
Bắc, Nixon tươi cười mãn nguyện, cơn ác mộng con hổ đói Trung Quốc
không còn ám ảnh Hoa Kỳ nữa. Hồi ấy người dân miền Nam ai nấy vui mừng
hớn hở tưởng như “hòa bình sắp tới nơi rồi” nhưng thực ra “sắp chết tới
nơi” mà không ai hay biết ngay cả Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn
Văn Thiệu, Tháng Mười năm 1973 ông đã cho sửa hiến pháp để ra ứng cử
thêm một lần nữa! Thật là một truyện diễu.
Cuối
Tháng Ba năm 1972 Bắc Việt đưa 5 sư đoàn với 200 xe tăng, 3 trung đoàn
pháo ồ ạt tấn công vùng giới tuyến chia làm hai mũi: 3 sư đoàn vượt
sông Bến Hải đánh vào Quảng Trị, 2 sư đoàn từ phía Tây tiến về Huế. Mấy
ngày sau ba sư đoàn Cộng Sản 5, 7, 9 cùng 200 chiến xa tiến đánh Bình
Long, ngoài ra sư đoàn 320 tiến đánh Kontum và sư đoàn 3 đánh Bình
Ðịnh. Tổng cộng 10 sư đoàn Bắc Việt đánh lớn trong Mùa Hè đỏ lửa 1972
để thêm sức mạnh tại bàn hội nghị. Tại quân khu 3 các cuộc tấn công vào
thị xã An lộc của Bắc Việt từ ngày 10 Tháng Năm cho tới cuối Tháng Năm
bị đẩy lui, hằng trăm xe tăng bị bắn cháy, đến ngày 12 Tháng Sáu An Lộc
coi như hoàn toàn được giải tỏa. Tại vùng giới tuyến Tháng Năm, Tướng
Ngô Quang Trưởng thay thế Hoàng Xuân Lãm và bắt phản công tái chiếm
Quảng Trị từ ngày 28 Tháng Sáu. Khoảng một tháng sau đại quân ta cắm cờ
trên cổ thành Quảng Trị, giữa Tháng Tám dứt điểm cổ thành, ngày 16
Tháng Chín cuộc chiến đẫm máu coi như chấm dứt, 3 sư đoàn Việt Nam Cộng
Hòa đã đẩy lui được 6 sư đoàn Bắc Việt. Trong chiến dịch này Cộng quân
thiệt hại khoảng 100,000 người (cũng có tài liệu nói 70,000 người), gấp
đôi tổn thất của quân đội miền Nam. Cho đến cuối 1972 có vào khoảng một
triệu cán binh Cộng Sản bị tử thương trong khi Bắc Việt vẫn ngoan cố
theo đuổi chính sách “cố đấm ăn xôi” đẩy thanh niên vào chỗ chết, chúng
hy vọng nhiều vào phong trào phản chiến, chúng cũng chỉ mong có thế.
Người
Mỹ cho rằng chiến thắng trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa một phần do sự yểm trợ
hùng hậu của Không Lực Mỹ, chính ông Cao Văn Viên, tổng tham mưu
trưởng, cũng đã xác nhận “Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho
thấy nhược điểm của tiến trình “Việt Nam hóa chiến tranh.” Nếu không
được yểm trợ của Mỹ về không lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa khó có thể giữ được An Lộc, bảo vệ được Kontum và chiếm lại
được Quảng Trị. Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi
không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không Lực Mỹ thì
cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn một
cơ hội tốt để sống còn”.
Như
thế năm 1972 lực lượng Việt Nam Cộng Hòa không được cân bằng so với Bắc
Việt, nó chỉ cân bằng khi có sự yểm trợ của Không Quân Mỹ, tại miền Nam
Tháng Năm, Tháng Sáu năm 1972 có 18,000 phi vụ do 700 phi cơ và 2,700
phi vụ do 170 B-52 thực hiện. Năm 1968 và 1972 chính phủ Việt Nam đã đề
nghị chính phủ Mỹ cho thành lập thêm 2 sư đoàn tổng trừ bị để đối phó
với lực lượng địch đã có ưu thế về xe tăng pháo binh, nhưng người Mỹ từ
chối lấy lý do tốn kém. Kỳ thực họ không muốn cho quân đội miền Nam
mạnh quá vì sợ có thể liều lĩnh đánh ra Bắc hoặc ương bướng khó bảo, họ
luôn luôn nắm đằng chuôi. Như thế ta có thể kết luận về chủ lực quân,
miền Nam không bằng miền Bắc cũng như năm 1953 chủ lực quân Việt Minh
vẫn mạnh hơn Pháp.
Sau
ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, năm 1973 tình hình tiếp vận của miền Nam vô
cùng thiếu hụt, một số lớn xăng dầu đạn dược đã được dốc vào Mùa Hè Ðỏ
Lửa năm 1972, quân viện bị cắt giảm dần dần từ 2 tỉ 1 năm 1973 còn 1 tỉ
4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975. Theo tiết lộ sau này của Bộ Tổng Tham
Mưu hậu quả của giảm quân viện là không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ
ngưng bay, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, phi vụ trực thăng
giảm 70%. Các hoạt động hải quân cũng cắt giảm 50%, 600 tàu chiến các
loại nằm ụ. Ðạn dược chỉ đủ dùng cho đến Tháng Sáu năm 1975.
So
sánh với tình hình năm 1972 chúng ta sẽ thấy: Trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa,
Bắc Việt đã đưa vào trận đánh tổng cộng 10 sư đoàn, ta có đủ đạn dược
xăng dầu để chiến đấu, lại được Không Quân Mỹ giúp đỡ về vận chuyển và
oanh tạc. Sang năm 1975, xăng dầu đạn dược thiếu thốn, không được B52
yểm trợ. Lực lượng địch lúc bắt đầu trận đánh khoảng 17 sư đoàn, chưa
kể 3 sư đoàn tổng trừ bị thuộc quân đoàn 1 ở phía trên Bến Hải, khi ta
mất vùng 1 và 2, Bắc việt đưa nốt 3 sư đoàn vào Nam nâng tổng số lên 20
sư đoàn. Vũ khí đạn dược của địch năm 1975 gấp 3 lần 1972 theo tiết lộ
của báo Nhân Dân năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30 Tháng Tư.
Chúng ta hãy lập bảng so sánh như sau:
–––-
Năm 1972:
Bắc Việt 10 sư đoàn
Miền Nam đầy đủ tiếp liệu đạn được
Có yểm trợ tích cực của không quân
–––-
Năm 1975:
Bắc Việt 20 sư đoàn (gấp 2 năm 72), đạn dược vũ khí địch gấp 3 lần 72
Miền Nam thiếu đạn dược, xăng dầu
Không có yểm trợ oanh tạc cơ B52
–––-
Nhìn sơ ta cũng đủ thấy tình hình miền Nam lúc ấy bi đát như thế nào rồi.
Trong
khi địch có khá đầy đủ tin tức tình báo về miền Nam, chúng ta lại không
có tin tức chính xác về lực lượng địch. Theo Văn Tiến Dũng (trong Ðại
Thắng Mùa Xuân) vào ngày 9 và 10 Tháng Mười Hai năm 1974 vài ngày trước
khi Bắc Việt đánh Phước Long, trong một phiên họp các tư lệnh quân khu
tại Dinh Ðộc Lập, tướng Thiệu cho rằng năm 1975 Bắc Việt có thể đánh
lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng 1972, chưa có
khả năng đánh vào các thị xã lớn mà chỉ đủ đánh các tỉnh nhỏ như Phước
Long, Gia Nghĩa, rằng Bắc Việt sẽ đánh quân khu 3 chủ yếu là Tây Ninh.
Theo Văn Tiến Dũng do nhận định sai nên Tướng Thiệu đã bố trí chiến
lược mạnh ở hai đầu (quân khu 1 và 3), chưa tăng cường lực lượng cho
quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên.
Sự bố trí lực lượng của miền Nam theo Văn Tiến Dũng như sau.
Quân
khu 1 để 5 sư đoàn (sư đoàn 1, 2, 3, Dù và Thủy Quân Lục Chiến), 4 liên
đoàn Biệt Ðộng Quân, 418 khẩu pháo, 449 xe tăng, 96 máy bay chiến đấu.
Quân
khu 2 để 2 sư đoàn (sư đoàn 22 và 23), 7 liên đoàn Biệt Ðộng Quân, 382
khẩu pháo, 477 xe tăng thiết giáp, 138 máy bay chiến đấu.
Quân
khu 3 để 3 sư đoàn (sư đoàn 5, 18, 25), 7 liên đoàn Biệt Ðộng Quân, 376
khẩu pháo, 655 xe tăng thiết giáp, 250 máy bay chiến đấu.
Quân khu 4 để 3 sư đoàn (sư đoàn 7, 9, 21), 380 khẩu pháo, 490 xe tăng, 72 máy bay chiến đấu, 580 tàu xuồng các loại.
Ðã
suy yếu vì thiếu tiếp liệu, ta lại đánh giá sai lực lượng địch nên đã
bố trí các quân khu sai như trên. Cho tới 1975 ta vẫn không thay đổi sự
bố trí lực lượng đã có từ trước cho phù hợp với tình hình mới. Lực
lượng địch như đã nói ở trên tổng cộng là 20 sư đoàn, với số xe tăng
thiết giáp ước lượng không chính xác khoảng 700 chiếc và 700 khẩu pháo.
Một nhà báo Tây Phương nói hai bên xem như ngang nhau vào lúc đầu của
tấn thảm kịch. Năm 1975 Việt Nam Cộng Hòa có trên một triệu quân, 40%
là chủ lực chính quy, 50% là địa phương quân, còn lại Hải Quân, Không
Quân, Cảnh Sát. Lính nhà nghề chỉ có 13 sư đoàn và 15 liên đoàn Biệt
Ðộng Quân, mỗi liên đoàn khoảng trên 2,000 người. Về mặt số lượng xe
tăng và pháo của địch không bằng ta nhưng về mặt phẩm thì có phần hơn,
thiết giáp miền Nam gồm M-48, M-41, M-113, trong đó chỉ có M-48 là
tương đương với T-54 của Bắc Việt, pháo binh địch loại 130 ly có tầm
viễn xạ tối đa là 30 cây số trong khi đại bác 105 ly, 155 ly của ta chỉ
được 11 và 15 cây số, sau này được viện trợ thêm 175 ly có tầm bắn xa
25 cây số. Sự thực lực lượng hai bên không cân bằng vì miền Nam lâm vào
tình trạng hết đạn.
Quân
khu 2 gồm 13 tỉnh mà chỉ có 2 sư đoàn trấn giữ, lực lượng bị phân tán
mỏng lại là nơi địch chủ trương tấn công toàn diện, Bắc Việt tung vào
trận địa này 5 sư đoàn tổng cộng gần 80,000 người. Bắc Việt bất ngờ đưa
ba sư đoàn tấn công Ban Mê Thuột ngày 11 Tháng Ba, năm ngày sau 16
Tháng Ba năm 1975, Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ 300 triệu đô la quân viện
bổ túc cho Việt Nam như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài
tháng, hôm sau, 17 Tháng Ba, Ban Mê Thuột hoàn toàn mất. Từ ngày 11
Tháng Ba tại Dinh Ðộc Lập, Tướng Thiệu triệu tập phiên họp gồm các
tướng Viên, Khiêm, Quang cho biết phải rút quân bỏ vùng 1 vùng 2 về bảo
vệ vùng 3 và vùng 4. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, Tướng Phú tư lệnh
quân khu 2 bay về Cam Ranh họp với các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang
để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 về Tuy Hòa.
Cuộc
triệt thoái bắt đầu từ ngày 16 Tháng Ba đến ngày 19 Tháng Ba, ngày đầu
nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa
theo, Bắc Việt chớp thời cơ chận đánh, pháo kích tơi bời, khoảng 5,000
quân vượt đường máu tới Tuy Hòa, cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy
đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu
lợi dụng bắn phá giết chóc... Cuộc triệt thoái trên đường số 7 đã đi
vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng năm 1950 khi quân Pháp triệt thoái
khỏi vùng biên giới Việt Hoa đã bị Việt Minh chận đánh tan tành, được
coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước
Việt từ trước đến nay.
Tướng
Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của quân đoàn
2 đã bị tiêu diệt, 60,000 chủ lực quân khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại
khoảng 20,000, năm liên đoàn Biệt Ðộng Quân 7,000 người chỉ còn 900
người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 400,000 dân
cao nguyên chạy loạn chỉ có 100,000 người tới được Tuy Hòa. Tổng số vũ
khí đạn dược trị giá 250 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng
có tới 50,000 người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết
sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ miền Nam.
Miền
Nam đã đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, xăng dầu...
Tướng Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến
cho đất nước trong chớp nhoáng đã kề bên bờ vực thẳm, ngày 13 Tháng Ba
ông cho lệnh rút sư đoàn dù từ Quảng Trị về vùng 3, Tướng Trưởng điều
động liên đoàn Biệt Ðộng Quân 14 thay thế vào, Biệt Ðộng Quân nghe
tiếng xe tăng địch vội rút về phía Nam sông Mỹ Chánh, Quảng Trị coi như
bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt hôm 19 Tháng Ba. Ngày hôm sau Tướng
Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Ðà Nẵng, ngày 25 Tháng Ba Quảng Tín
và Quảng Ngãi lọt vào tay Cộng quân, ngày 25 Tháng Ba Trưởng nhận lệnh
đưa sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến về Sài Gòn. Cuộc tháo lui của Thủy Quân
Lục Chiến tại cửa Thuận An vô cùng thê thảm, biết bao người bỏ mạng khi
lội ra tàu dưới hỏa lực địch. Các cuộc di tản tại vùng 1 đã diễn ra một
cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại vùng 2, cấp trên nhiều người
bỏ quân sĩ lại để chạy tháo thân, ngày 27 Tháng Ba Ðà Nẵng bắt đầu
nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội, dân quân chết như
rạ, Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Ðà Nẵng.
Vùng
1 và 2 bị mất trong chớp mắt khiến cho tinh thần binh sĩ suy sụp nhanh
chóng, điều đáng nói là trong khi tinh thần chiến đấu của binh sĩ còn
khá cao, thay vì tăng viện thêm Tướng Thiệu lại cho lệnh rút bỏ cả hai
quân khu khiến cho dân quân vô cùng hoang mang, cuộc di tản diễn ra
trong cảnh hỗn loạn, đạp lên đầu nhau mà chạy, bắn giết nhau tìm đường
chạy coi như đã dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Tất cả vũ khí đạn dược,
quân trang, xe tăng đại bác... tại hai vùng hầu như mất hết, một phần
lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng
Sản tiết lộ trên báo chí chúng đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại
vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp... để trang bị thêm, đạo
quân của địch bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Như đã nói ở trên riêng cuộc
lui binh tại quân khu 2 cũng đã có khoảng 50,000 người thiệt mạng, cuộc
rút lui hỗn loạn tại quân khu 1 dưới những trận mưa pháo của địch nhất
là tại Ðà Nẵng còn thiệt hại nhiều hơn nữa, trong toàn bộ cuộc di tản
vùng 1 và 2 có tới hằng trăm nghìn người bị chết oan.
Thực
hiện xong kế hoạch rút quân tại vùng 1 và 2 coi như Tướng Thiệu đã dọn
cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Sau khi vùng 1 và 2 lọt vào tay Cộng quân,
phần còn lại của miền Nam coi như sẽ mất trong giây lát, đạn dược đã
thiếu nay lại càng thiếu hơn vì các kho đạn miền Trung mất hết. Tại Sài
Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch “tẩu vi thượng sách” y như
năm 1949 tại Nam Kinh, Trung Hoa các ông bộ trưởng, tướng tá đã lên máy
bay ra đảo Ðài Loan.
Sài
Gòn sắp chết tới nơi mà chính phủ Thiệu còn khẩn khoản xin Mỹ viện trợ
khẩn cấp 300 triệu, theo ông Nguyễn Tiến Hưng, vào giờ thứ hai mươi lăm
Tướng Thiệu còn tính việc lấy ngoại tệ trong ngân hàng để đi mua đạn,
thật là diễu hết chỗ nói. Ngày 21 Tháng Tư ông Thiệu từ chức tổng
thống, tuyên bố Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh, từ đó đến nay nhiều người Việt
đổ lỗi cho Mỹ đã bỏ rơi đồng minh năm 1975. Người Mỹ, điển hình là
đương kim tổng thống và bộ trưởng quốc phòng lại chỉ trích quân đội
Việt Nam Cộng Hòa trước đây đã không chịu đánh. Nhiều chính khách Hoa
Kỳ lại đổ lỗi cho miền Nam Việt Nam. Theo ông Nguyễn Ðức Phương, nhà
nghiên cứu quân sự thì nguyên nhân thất bại đã đến từ cả hai phía Việt
Nam và Mỹ.
Như
chúng tôi đã trình bày ở trên, Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự
khiến cho quân đội miền Nam lâm vào tình trạng ngặt nghèo kiệt quệ, một
ông tướng Pháp nói đó là bức tử Việt Nam. Chính người dân Mỹ, nhóm biểu
tình phản chiến đã lên kế hoạch “vắt chanh bỏ vỏ”, mặc dù không nói ra
nhưng họ cho rằng đã “huề” với Trung Hoa đỏ rồi thì không còn lý do gì
để giữ miền Nam. Người dân đã vận động với Quốc Hội để bức tử miền Nam
như trên, Quốc Hội phải theo ý dân vì sống nhờ vào lá phiếu của họ.
Công bằng mà nói hành pháp Hoa Kỳ đã cố gắng cứu giúp sự sống còn của
miền Nam nhưng họ đã bị Quốc Hội trói tay đành phải chịu. Sau ngày 30
Tháng Tư năm 1975, một nhóm đông đảo sinh viên thanh niên phản chiến
hớn hở tham dự buổi mít tinh để mừng chiến tranh chấm dứt “The war is
over”.
Cho tới nay ít ra đã có người biết xấu hổ vì cái trò vắt chanh bỏ vỏ.
Bộ
Trưởng Tư Pháp Mỹ R. Kennedy nói Việt Nam phạm vào rất nhiều sai lầm,
trước mắt như chúng ta đã thấy ở trên, trong khi đạn dược thiếu hụt,
Tướng Thiệu lại sai lầm rút bỏ quân khu 1 và 2 đưa miền Trung vào chỗ
thảm bại mất hết vũ khí đạn dược, chết bao nhiêu dân, quân, binh lính
khiến cho tinh thần suy sụp ghê gớm đưa miền Nam xuống vực thẳm. Những
người chạy loạn từ miền Trung vào Nam, một số sĩ quan viết lại hồi ký,
họ nói rằng cấp lớn nhiều người thiếu tư cách, bỏ lính tráng lại chạy
tháo thân.
Thật
vậy, nhiều ông tỉnh trưởng vét tiền trong ngân khố chạy trước, điều
đáng tiếc là trong khi tinh thần binh sĩ còn cao, cấp lớn hèn nhát ích
kỷ đã giúp cho sự sụp đổ của miền Nam nhanh hơn dự kiến. Trong khi ba
quân tướng sĩ còn đang chiến đấu anh dũng bảo vệ vùng 3, nhiều ông to
bà lớn đã thu xếp quý kim chuồn ra ngoại quốc. Gần đây có một ông trước
là quân nhân công chức mới định cư tại hải ngoại, ông ta nói “nhiều anh
trước làm quan lớn bỏ chạy bây giờ còn lên tiếng huênh hoang, mấy anh
hèn nên im lặng là hơn”.
Ông
Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân thờ ơ không chịu giúp đỡ chính
phủ, nhưng theo chúng tôi nghĩ vì chế độ Thiệu đã thối nát quá xá rồi,
hẳn là ai cũng đều biết cả, nên người dân quá chán ngán không còn thiết
tha gì đến, họ cũng chỉ lo chạy tháo thân mặc cho nó sụp đổ tan tành.
Những người có cảm tình với ông Thiệu cho rằng nguyên do tấn thảm kịch
tại tình thế ngặt nghèo như thiếu đạn dược, săng dầu, nhưng một ông
Tổng thống phải là người thao lược, mưu trí cao để có thể chuyển bại
thành thắng, còn nếu không thì ai cũng có thể làm tổng thống được.
Sau
30 Tháng Tư năm 1975 người ta ước lượng Cộng quân đã chiếm được 1,100
phi cơ các loại, hằng trăm tàu các loại của Hải Quân, 300 xe tăng M-41,
250 xe M-48; 1,000 đại bác 105mm, 300 đại bác 155mm và 175mm; 800,000
súng cá nhân M-16, 15,000 đại liên; 500 trực thăng; 130,000 tấn đạn
dược... tất cả trị giá hằng tỉ Mỹ kim.
Hậu
quả của tấn thảm kịch như ta thấy đã khiến cho hằng trăm nghìn người
chết oan, hằng trăm nghìn người bị tù đày giam giữ lâu dài, vài năm sau
có tới mấy trăm nghìn người bỏ xác giữa biển khơi trên đường tị nạn.
Cuộc chiến tranh 1975 đã chấm dứt từ mấy chục năm qua nhưng nó vẫn in
sâu trong tâm khảm người Việt nhất là đám tị nạn lưu vong. Bây giờ
không phải lúc chúng ta ngồi oán trách đồng minh bỏ rơi miền Nam, ta
phải tự trách mình đã không bảo được nhau, đã biến thành những quân tốt
cho người ta sử dụng, đã để cho họ mua bán với nhau trên xương máu của
hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc, đã biến đất nước thành bãi
chiến trường và nơi thử vũ khí của khoa học quốc phòng.
Cuối cùng, những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn sẽ đời đời đắc tội trước non sông và lịch sử.
Trọng Ðạt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Ðức Phương: Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975.
Nguyễn Ðức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975.
Ðoàn Thêm: 1965, Việc Từng Ngày.
Ðoàn Thêm: 1966, Việc Từng Ngày.
Ðoàn Thêm: 1969, Việc Từng Ngày.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới.
Văn Tiến Dũng: Ðại Thắng Mùa Xuân.
Ðinh Văn Thiên: Một Số Trận Ðánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn.
Dương Ðình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975.
The World Almanac Of The Viet Nam War, John S.Bowman, General Editor.
| Những Bài Liên Quan: |
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |