| 30 Năm Trong Vũng Lầy Xã Hội Chủ Nghĩa |
|
Lê Vĩnh I/ Dẫn nhập Nói theo thuật ngữ của Cộng Sản Việt Nam thì sau "đỉnh cao chiến thắng quân sự" chiếm trọn miền Nam vào ngày 30-4-75, ngọn cờ "Độc Lập Dân Tộc" được hạ xuống và ngọn cờ "Xã Hội Chủ Nghĩa" được dương lên. Trong giai đoạn gọi là "giành độc lập dân tộc", cộng sản Việt Nam đã có được nhiều sự thuận lợi. Trong bối cảnh thế giới sau thế chiến thứ hai cũng như trong thời chiến tranh lạnh, chiêu bài "giành độc lập" không những đã hầu như đã lừa bịp được thế giới, mà còn gạt gẫm được một số thành phần quần chúng Việt Nam nhẹ dạ. Ngoài ra, với vai trò xung kích, làm "mũi tên nhọn" của khối xã hội chủ nghĩa trong nhiệm vụ bành trướng đế quốc đỏ về phưõng đông, cộng sản Việt Nam đã được sự giúp đỡ tận tình của khối các nước xã hội chủ nghĩa. Sau ngày 30-4-75, chiêu bài giành độc lập kết thúc, mặt nạ dân tộc bị rơi xuống; cộng sản Việt Nam cai trị và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, thì đã bộc lộ tất cả những yếu kém của một chế độ cực quyền cùng sự tác hại của chế độ đó đối với đất nước. Những tác hại đáo phần lớn đến từ sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và công cuộc "xây dựng" xã hội chủ nghĩa mà đảng này theo đuổi... Bài này sẽ lược qua một số sự kiện quan trọng, đặc biệt là về mặt kinh tế trong tiến trình "xây dựng xã hội chủ nghĩa" tại Việt Nam sau năm 1975, sau đó sẽ bàn về một vài điểm cốt lõi trong cái gọi là "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", điều đang được đảng khua chiêng gióng trống rùm beng quảng cáo. II/ Giai đoạn "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" Ngay sau khi cưỡng chiếm miền Nam, với hạ tầng cõ sở sẵn có (dù đã bị chiến tranh huỷ hoại khá nhiều), và với nền kinh tế phồn thịnh của miền nam (được gọi là 'phồn vinh giả tạo), ông Lê Duẩn, người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam (lúc đó còn gọi là đảng Lao Động) đã hồ hỡi nói rằng kể từ đây "đường lên chủ nghĩa xã hội thênh thênh rộng mở." Và chỉ cần 10, 15 năm Việt nam sẽ đuổi kịp Nhật.... Cùng lúc đó, do sự khác biệt về nếp sống xã hội cũng như trình độ kinh tế, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam đã tuyên bố Việt Nam chưa thể thống nhất, miền bắc sẽ tiếp tục cuộc cách mạng xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN), miền nam tiến hành cuộc cách mạng "dân chủ nhân dân." Giai đoạn chuyển tiếp để thống nhất hai miền nam, bắc là 5 năm.... Tuy nhiên, một sự kiện nằm ngoài dự kiến của đảng cộng sản Việt Nam, và cũng không mấy ai để ư, nhưng đây có thể là yếu tố khiến đảng cấp tốc tiến hành một số hình thức trò hề (1) để vội vã thống nhất hai miền nam bắc, xây dựng xã hội chủ nghĩa trên cả nước. Đưa cả nước đến bờ vực thẳm của sự khánh kiệt mau hõn.... Ngay trong tuần lễ đầu cộng sản chiếm được miền Nam, "chính phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam", tức bộ mặt lừa bịp của đảng cộng sản Việt Nam ở miền Nam, đã được một số quốc gia công nhận. Khởi đầu là Cộng Hoà Liên Bang Đức, rồi Anh Quốc, dần dần con số các quốc gia như vừa kể lên đến 76 nước, nhiều hơn số quốc gia công nhận chính phủ Việt Nam Cộng Hoà và dĩ nhiên là lại càng nhiều hõn số các quốc gia công nhận chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền bắc. Sự kiện ngoại giao này khiến Hà Nội bối rối, e rằng sự công nhận sẽ đưa đến bang giao, thiết lập toà đại sứ,... rồi miền Nam sẽ trở thành một thực thể chính trị vuột khỏi sự kiểm soát. Do đó, dù rằng cả hai miền nam bắc đều do cộng sản cai trị dưới bộ mặt này hay bộ mắt khác, nhưng thay vì phải chờ 5 năm như ông Phạm văn Đồng đã tuyên bố, cộng sản Việt nam đã phải gấp rút thống nhất hai miền về mọi mặt. Trong bài tham luận đọc tại hội nghị trung ương đảng, tháng 8/1975, ông Trường Trinh nhấn mạnh nhu cầu phải thống nhất hai miền để xây dựng chủ nghĩa xã hội như sau: "Việc thống nhất hai miền sẽ tạo nhiều cơ hội cho việc tái phối trí các lực lượng sản xuất và lao động, đồng thời giúp gia tăng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch hoá trên toàn quốc." Ngay sau đó, một loat những chính sách kinh tế đã từng được thực hiện "thành công" ở miền bắc trong việc bần cùng hoá nhân dân được ban hành và thực hiện trong nhiều chiến dịch liên tục, để cả nước "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội." Chiến dịch X1 do Nguyễn Hữu Thọ khởi xướng vào tháng 9/1975 bằng một vụ đổi tiền. Các nhân chứng cho biết, nhà nước vừa ban hành lệnh giới nghiêm dân chúng đã biết là đồi tiền. Mọi người chạy đôn chạy đáo để cố đổi được số tiền ngoài quy định (số quy định là mỗi gia đình được đổi 200 đồng tiền Hồ mới bằng 100.000 đồng tiền Việt Nam Cộng Hoà, tức khoảng 200 mỹ kim) để không bị ký gửi số tiền thặng dư trong ngân hàng nhà nước. Ký gửi chỉ là mỹ từ che đậy sự cưỡng đoạt của nhà nước, không chỉ vì những thủ tục vô cùng rắc rối không ai làm nổi, mà còn vì người dân không dám giữ nhiều tiền của, sợ bị ghép vào tôi "tư sản." Thế là cán bộ nhà nước, với "đạo dức xã hội chủ nghĩa", bắt đầu vố giúp bà con thân nhân ruột thịt miền nam bằng cách đổi dùm số tiền thặng dư, lấy công theo tỷ lệ từ 75 đến 95 phần trăm tuỳ theo trường hợp. Trong vụ đổi tiền này nhiều người đã phải tự vẫn vì tiền của bị đảng cướp trắng. Hai tháng sau khi đồi tiền là chiến dịch lùng sục tịch thu tài sản nhằm triệt tiêu thành phần nhà nước coi là "tư sản mại bản, đầu cõ, buôn lậu và phản động." Thực chất của chiến dịch này là một cuộc tổng ăn cướp, dằn mặt, tạo áp lực để các thành phần tư sản khác tự động hiến tài sản cho đảng. Đến tháng 7/1977 "Ủy Ban Cải Tạo Công Thưõng Nghiệp" được Lê Duẩn thành lập và do nguyễn Văn Linh Cầm đầu. Sau đó, chiến dịch X2 được khởi động vào tháng 5/1978 bằng vụ đổi tiền lần thứ hai do Đỗ Mười chỉ đạo, và thi hành triệt để hơn, theo chỉ tiêu quy định trước cho từng phường khóm. Kết quả là hõn 400 ngàn hộ tư sản bị tịch biên... Nạn nhân của cả hai chiến dịch này nếu còn sống sót đều bị đưa các lên vùng kinh tế mới.(2). Cũng trong thời gian này, phó thủ tướng Đỗ Mười chỉ đạo chiến dịch thu mua, tung tiền giấy không bảo chứng của nhà nước (tức chỉ có giá trị hõn giấy lộn), vơ vét hàng hoá, máy móc, vật dụng đủ loại ở miền chở ra ra ngoài bắc. Trên thực tế chỉ một phần nhỏ khối lượng thu mua được dùng cho việc công, còn hầu hết đi vào túi tham của lãnh đạo đảng. Tại nông thôn bên cạnh việc kiểm kê nhân hộ khẩu như ở các thành phố, nhà nước đếm từng con chó, con gà, từng gốc cây ăn quả để thu thuế. Mức thuế nông nghiệp 70% tính trên lúa thu hoạch, người dân chỉ còn được giữ lại 15 kg/1 tháng cho mỗi đầu người. Còn bao nhiêu phải bán cho nhà nước với giá thu mua. Kết quả là, ngay từ vụ lúa cuối năm 1975, khắp các cánh đồng miền nam, nông dân chỉ gặt vừa đủ dùng trong gia đình theo mức quy định, còn bao nhiêu để hư thối ngoài đồng. Sau đó đến chính sách hợp tác hoá nông nghiệp để cướp đạt ruộng vườn, nông cụ, sức kéo... Nông dân phản ứng bằng cách bất hợp tác, bỏ ruộng vườn, phá hoại sản xuất. Dạo đó trên trang nhất báo Nhân Dân ngày nào cũng đăng tin các nơi đều sản xuất vượt mức chỉ tiêu. Nhưng điều khôi hài là, song song với các tin sản xuất vượt chỉ tiểu", đảng lại hô hào "gia tăng sản suất lưõng thực thực phẩm" để khắc phục thiếu đói qua khẩu hiệu "phá dâu gai, gài dậu sắn." Các cơ quan đơn vị thi nhau cạy gỡ sân bãi xi măng để lấy đất trồng sắn. Rút cục, dưới sự lãnh đạo của đảng, việc kinh tế lớn lao của đất nước biến thành việc bếp núc vụn vặt, và trở thành sự phá hoại tài sản quốc gia được nhà nước khuyến khích. Kết quả của các chiến dịch vừa kể là hệ thống thương mại và sản xuất của của miền nam hoàn toàn sụp đổ khiến nền kinh tế cả nước lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện. Cả tiến trình làm tê liệt nền kinh tế cả nước này được đảng đề cao là "thành quả cách mạng vô sản" (3). Cùng lúc đó, trí thức xã hội chủ nghĩa nặn óc viết những bài ca ngợi thành quả sản xuất xã hội chủ nghĩa, cũng như "đạo đức, tác phong, tinh thần xã hội chủ nghĩa." Mở những cuộc nghiên cứu tưởng tượng cho rằng rau muống bổ ngang thịt bò, sắn (khoai mì) là "thức ăn quý", đồng thời hướng dẫn cách ăn sắn từ lá cho đến củ (mới đúng cách), để khuyến khích người dân ăn sắn. Những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, các số báo Nhân Dân cuối năm đều đăng tải nghị quyết kế hoạch kinh tế năm sau của đảng. Qua đó "phấn đấu" để năm tới mỗi người dân có hai ba cái chén, vài ba đôi đũa, mấy quả trứng, dăm ba lạng thịt,.. v.v... và khôi hài nhất là ngân sách chi, thu giống y nhau đến từng xu. Hậu quả khủng hoảng kinh tế vừa kể làm đảo lộn mọi dự kiến hồ hởi của lãnh đạo đảng trong nghị quyết đại hội IV. Kế hoạch ngũ niên 1976-1981 bị gãy. Số viện trợ của Liên Xô lên đến gần 4 tỷ mỹ kim mỗi năm cho kế hoạch ngũ niên này bị "bốc hơi." Ước vọng biến Việt nam thành nước công nghiệp phát triển theo kinh điển cộng sản trở thành ảo vọng. Đồng thời chôn vùi mọi tiềm năng phát triển của cả hai miền nam bắc. Đó cũng là "thành công của tiến trình "thống nhất đất nước" để "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa." (4) Vụ khủng hoảng vừa kể đã khiến chiến dịch đánh tư sản bị đình hoãn một thời gian. Nhà nước khuyến khích tư sản thành lập xí nghiệp hợp doanh với nhà nước. Ở nông thôn, chính sách khoán hộ dù đã từng bị phê phán là "hữu khuynh", nhưng cũng được lôi ra dùng lại để thay thế chính sách hợp tác hoá nông nghiệp. Các hợp tác xã nông nghiệp ở miền nam tự động giải thể. Hậu quả của việc "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" thê thảm như vừa kể, nhưng giới lãnh đạo đảng không vì thế mà thức tỉnh, vẫn nuôi ảo vọng xã hội chủ nghĩa. Báo cáo chinh trị đại hội đảng kỳ V, tháng 3/1982 nhấn mạnh: "...Đại hội khẳng định tiếp tục đường lối cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của đại hội IV...." Lê Duẩn lại đặt lại nhu cầu "cải tạo xã hội", tái lập hệ thống hợp tác xã ở miền Nam để tiến lên vô sản. Lập tức, ở nông thôn sản lượng lúa sụt giá thê thảm. Cùng lúc đó, tại thành thị, một chiến dịch "cải tạo công thưõng nghiệp" khác tại miền nam tái thành hình do Đỗ Mười và Tố Hữu chỉ đạo. Mục đích là để trịêt tiêu mọi hình thức thương mại hay sinh hoạt kinh tế thị trường và công hữu hoá mọi xí nghiệp tư doanh hay hợp doanh mà đảng vừa khuyến khích thành lập mấy năm trước đó. Tất cả chỉ mang đến một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện mới vào năm 1985 với mức độ trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng cuối thập niên 70. Cuối cùng, ông Trường Trinh lại đọc diễn văn thú nhận sai lầm như đã nhận sai lầm sau cuộc cải cách ruộng đất trước đây. Lê Duẩn chết, Nguyễn văn Linh trở thành tổng bí thư trong đại hội đảng kỳ VI họp cuối tháng 12 năm 1986. Cộng Sản Việt Nam theo gương Gorbachev ở Liên Xô, dương khẩu hiệu "đổi mới." Khi nhìn lại những tác hại ghê gới do CSVN gây ra trong giai đoạn "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" từ năm 1975 đến năm 1985, người ta thường nhấn mạnh đến những đường lối, chính sách kinh tế, tài chánh,... sai lầm của Hà Nội. Tuy nhiên, một sự sai lầm lớn lao khác, và là một tội ác của cộng sản Việt Nam, đã góp phần trong các thất bại đó, lại thường được xếp ngoài các danh mục liên quan đến kinh tế. Đó là, với chính sách trả thù nghiệt ngã đối với thành phần cán bộ, sĩ quan VNCH. Đây là thành phần ưu tú nhất của miền Nam, nhưng tất cả thành phần công dân ưu tú vừa kể đều bị CSVN đày đọa trong các trại tù cải tạo. Dù rằng CSVN vẫn luôn miệng nói "con người là vốn quý." Về giai đoạn thực hiện khẩu khẩu hiệu "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" của đại hội đảng lần thứ tư, trong bài diễn văn đọc trong ngày kỷ niệm 75 năm thành lập đảng cộng sản Việt Nam vừa qua, ông Nông Đức Mạnh đã ca ngợi "công lao" đó của đảng như sau: "Đại hội lần thứ IV của Đảng đã quyết định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. Đại hội đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, cổ vũ nhân dân ta hăng hái tiến quân vào sự nghiệp xây dựng lại đất nước, cải tạo và phát triển kinh tế, nhằm đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội." Dù lãnh đạo đảng có dùng ngôn từ nào đi nữa thì người ta cũng biết, quá trình "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" trên cả nước sau năm 1975 chỉ là sự nối tiếp của việc thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc sau đại hội đảng lần thứ ba năm 1959, mà Tố Hữu đã hồ hởi viết như sau trong bài thơ "Bài Ca Mùa Xuân" (năm 1961): "..Dọn tí phân rõi,
nhặt từng ngọn lá Nếu trước năm 1975, người dân miền bắc bị đảng lùa đi "dọn phân, nhặt lá.".. suốt 15 năm nhưng chẳng dựng được cơ đồ nào, thì sau năm 1975 cả nước chịu cùng cảnh ngộ đó. Sau 25 năm cả nước cùng "dọn phân nhặt lá" thì cơ đồ sẵn có ở miền Nam bị tiêu tan luôn theo ảo ảnh xã hội chủ nghĩa. Người dân bình thường, đầu óc thực tế đã "ngộ" ngay xã hội chủ nghĩa là cái gì kể từ khi đảng đến. Họ mô tả cụ thể Xã Hội Chủ Nghĩa qua những chữ viết tắt của cụm từ này (XHCN) như: "Xếp hàng cả ngày," "xuống hố cả nước," "xuống hàng chó ngựa" v.v... Tất cả đều phản ảnh đúng thực trạng của "XHCN." II- Giai đoạn đổi mới - Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 1/ Những thực tế ở hậu trường xã hội chủ nghĩa Sau đại hội đảng lần thứ VI bước vào thời kỳ đổi mới, trong bối cảnh lùng bùng, mất định hướng của đảng, ông Nguyễn văn Linh đã liên tục than thở "đổi mới cũng chết mà không đổi mới cũng chết." Tuy nhiên, đối với quần chúng thì, khi không còn bị đảng "chỉ đạo sâu sát", thoát khỏi sự ngăn sông cấm chợ mà đảng đã dùng như là một trong nhiều phưõng cách để "đưa cả nước lên xã hội chủ nghĩa", tự nhiên là người dân được dễ thở hơn đôi chút so với trước kia. Đồng thời, sự tự hủy thể hay sự thoái lui, dần dần chỉ còn thoi thóp của những khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể mà đảng đã ra sức xây dựng chỉ là điều đương nhiên, (dù rằng cho đến nay đảng vẫn lớn tiếng gọi đó thành thành phần kinh tế chủ đạo). Để cứu nguy cho đảng và cũng để làm xì hơi sự bất mãn chồng chất trong dân chúng đối với những sai lầm của đảng, Nguyễn Văn Linh mở phong trào nói thẳng nói thật với dụng tâm cho nêu lên những sai lầm được gọi là hiện tượng ở cấp thấp của đảng; như kiểu "Câu chuyện ở Huyện" của Liên Xô hay "Cù Lao Tràm" của Nguyễn Mạnh Tuấn. Còn đảng thì vẫn luôn luôn "không bao giờ sai lầm" (như những tù nhân chính trị thường được nghe khi bị chấp pháp hỏi cung: "Đã bị bắt là có tội, đảng không bao giờ sai lầm."...). Thế nhưng, trước khi bị xiết lại, nhờ phong trào nói thẳng nói thật của Nguyễn Văn Linh nên người ta mới biết được những sự thực khủng khiếp ở hậu trường xã hội chủ nghĩa. Trong thiên hồi ký "Trại Kiên Giam" nhà văn Nguyễn Chí Thiệp đã ghi lại nhiều sự kiện trong các lãnh vực, mà nếu không tận mắt xem trên truyền hình nhà nước, hay đọc trên báo Nhân Dân (tức cơ quan ngôn luận của đảng) thì dù biết rằng xã hội chủ nghĩa chẳng hay ho gì, nhưng khó ai có thể tin được xã hội chủ nghĩa lại xấu xa, tồi tệ đến thế. Dưới đây xin tóm lược một vài, trong rất nhiều dữ kiện, được nhà văn Nguyễn Chí Thiệp ghi lại. - Trên truyền hình Sài Gòn, chủ nhiệm hợp tác xã may mặc thành phố nói về tình trạng bất công và vô tư trong chế độ giá cả ngành ngoại thưõng. Công may một chiếc áo sơ mi từ 500 đến 700 đồng ngân hàng nhà nước theo thời giá lúc đó, nhưng Liên Xô chỉ trả cho bộ ngoại thương 50 đồng/1 chiếc. Bộ ngoại thưõng trả hợp tác xã may mặc xuất khẩu 40 đồng/1chiếc. Hợp tác xã trả cho công nhân 30 đồng. Điều này không chỉ cho thấy sự bế tắc của ngành ngoại thương xã hội chủ nghĩa, mà một mặt còn tố cáo sự bóc lột của đế quốc Liên Xô với các nước chư hầu trong chính sách mà hiến pháp Liên Xô năm 1977 gọi là phân công lao động quốc tế trong khối xã hội chủ nghĩa anh em. Mặt khác cho thấy dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam bóc lột thậm tệ sức lao động của nhân dân để trả nợ súng đạn cho Liên Xô... Hàng hóa của Việt Nam bán cho Liên Xô bằng giá rẻ mạt, và người Liên Xô đều được sự ưu đãi của đảng. Người Liên Xô ở Việt Nam chỉ trả 10 đồng để mua một lon bia xuất khẩu hiệu Sài Gòn. Trong khi giá ngoài thị trường người Việt Nam phải trả là 800 đồng. - Báo Nhân Dân tố cáo những trường hợp gian lận thi cử tại tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Văn bằng được cấp bừa bãi cho con của đảng viên và cán bộ cộng sản chỉ có ghi tên mà không đến trường học. Bộ giáo dục của Hà Nội đã làm một cuộc kiểm tra và cho thi lại thì 83 phần trăm số người được chấm đậu trong năm 1986 không đủ tiêu chuẩn. Rất nhiều học sinh xuất sắc, thậm chí luôn luôn đỗ đầu các kỳ thi vào đại học với số điểm tối đa nhưng đều không được vào đại học chỉ vì họ là con em sĩ quan, công chức VNCH đang bị tù cải tạo. Chính ông Nguyễn Văn Linh đã đề cập đến sự bất công này trong một bài viết nhân kỷ niệm 10 năm cộng sản chiếm miền nam. - Báo Nhân Dân đưa ra con số công nhân và người ăn theo có lãnh lương mà không làm việc ở tỉnh Hải Hưng là 38 ngàn người. Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng xấp xỉ 40 ngàn người. Ngoài ra, tầm nhìn tối tăm và sự mù quáng vào xã hội chủ nghĩa của những người vẫn tự xưng là "đỉnh cao của trí tuệ loài người", còn được thể hiện trong hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá 6 họp vào tháng 8 năm 1889, tức là chỉ 3 tháng trước khi bức tường Bá Linh xụp đổ và cuộc cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc giành được thắng lợi (tháng 11/1989). Hôi nghị vừa kể đã ra một nghị quyết tên là "Một Số Vấn Đề Cấp Bách về Công Tác Tư Tưởng Trước Tình Hình Trong Nước và Quốc Tế." Ngay ở điều 1 nghị quyết này ghi rõ: "Khẳng định tính tất yếu lịch sử của Chủ Nghĩa Xã Hội và những thành tựu vĩ đại của hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa thế giới....."(5) 2/ Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cuối thập niên 80, các nước khối xã hội chủ nghĩa ở trong tình trạng bát nháo, mỗi nước đều phải tìm những đường lối mới để thay thế con đường xã hội chủ nghĩa đã và đang chứng tỏ sự thất bại ở khắp nơi. Cộng sản Việt Nam lâm vào cảnh "mồ côi giữa chợ", "học thuyết lớn" soi đường đang trên đà tàn lụi, nên sau đại hội lần thứ VII, năm 1991, đảng gắn thêm cái đuôi: "theo định hướng xã hội" vào sau cụm từ "kinh tế thị trường"; được coi như là sự tiếp nối của đường lối đổi mới kể từ đại hội lần thứ VI (1986). Tên đầy đủ của nó là: "Xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiếu thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý và điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo." Trong bài diễn văn kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng, ông Nông Đức Mạnh đã thú nhận là (trước thời kỳ đổi mới) đảng "chưa hiểu thật đúng, thật phù hợp về chủ nghĩa xã hội,- mà đã - chủ quan, nóng vội trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội," thì đến nay, qua một số bài viết trên các tạp chí lý luận tư tưởng của đảng; người ta vẫn thường thấy những câu đại loại như: "xây dựng CNXH là một sự nghiệp mới mẻ, không thể theo mô hình có sẵn nào...." Như thế có nghĩa là trước đổi mới hay sau đồi mới và cho đến nay thì đảng cũng vẫn chưa biết hình thù cái gọi là xã hội chủ nghĩa ra sao và... ở đâu, để có thể vẽ được một "lộ đồ" (road map) tiến đến. Công bằng mà nói thì không chỉ có đảng cộng sản Việt Nam mơ hồ, mà ngay cả các đàn anh Liên Xô (trước đây) và Trung Quốc (hiện nay) thì mỗi đảng cũng tự hiểu theo một lối khác nhau. Dù hiểu theo lối nào đi nữa thì cũng hoặc là thất bại (như Liên Xô) hoặc là đang bắt đầu gặp bế tắc (như Trung Quốc - theo bài nói chuyện của GS Lê Đăng Doanh - 6- ); Nhưng điều khôi hài là đảng vẫn bắt cả nước tiến lên cái chưa biết đó. Nhà đấu tranh cho dân chủ Phương Nam đã hóm hỉnh mô tả sự khôi hài đó như sau: "Đến hôm nay, con đường đi của dân tộc vẫn lằng ngoàng quờ quạng như đường đi của một người bị khiếm thị nặng. Đã đi trên con đường lạ thì chớ, mà lại còn bị mất kính, mất gậy." Bởi vậy, khi dùng cái "xã hội chủ nghĩa" mơ hồ đó để định hướng, nền kinh tế thị trường của CSVN đã lộ ra những bất cập từ lý luận cho đến thực tiễn. Tuy nhiên, trước khi bàn thêm vào cái gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", thiết tưởng cũng cần nên làm rõ một số vấn đề liên quan đến tiếntrình thực hiện nền kinh tế thị trường theo định húng XHCN mà đảng vẫn tự nhận là công lao của mình. Ai là người đã thực sự đề xướng công cuộc đổi mới? Trong bài viết "Việt Nam và sự đổi mới" nhà đấu tranh cho dân chủ trẻ tuổi, anh Phương Nam, Đỗ Nam Hải, với những chứng liệu cụ thể đã cho rằng, chính nhân dân ở cả ba miền Bắc - Nam - Trung mới là những người thực sự khởi xướng công cuộc đổi mới. Anh viết: "Họ đã làm điều này khi âm thầm, lúc công khai nhưngrất bền bỉ và quyết liệt từ nhiều năm trước đó.Bởi vì họ đã không thể chịu đựng được mãi cái đói, cái nghèo mà lúc này cũng đồng nghĩa với cái nhục nữa. Và họ đã đứng lên quyết 'xé ràó để bung ra làm ăn sinh sống, bất chấp cái giá mà họ có thể phải trả.. Ai không tin điều này xin hãy tìm hiểu thêm câu chuyện của những người nông dân Vĩnh Phú mà ngay từ năm 1966, khi còn chiến tranh, đã đềxuấtvớiôngKim Ngọc - Bì Thư tỉnh uỷ lúc ấy, một cách làm ăn mới: cho phép khoán sản phẩm cuối cùng trong nông nghiệp tới từng hộ nông dân (gọi tắt là khoán hộ), nhằm thay thế cho lề lối đi làm theo tiếng kẻng của hợp tác xã hoàn toàn thiếu sức sống trước đó. Nghị quyết hội nghị thường vụ tỉnh uy? Vĩnh Phú được ra đời sau đó đã phân tích rõ 8 điều lợi của khoán hộ. Toàn bộ hệ thống đảng khi biết chuyện đã la hoảng kên, và cái 'cỗ máy nghiền kiá lập tức vận hành. Những quyết định kỷ luật được tung ra cho những người 'dám cả gan' ấy, với các 'tội danh' đại loại như 'phủ định đường lối hợp tác hoá nông nghiệp, mưu toan phục hồi lại con đường tư hữu của người nông dân...'. Thế nhưng, chân lư cuối cùng lại thuộc về những người bị kỷ luật, chứ không thuộc những người đã ra quyết định kỷ luật họ.." Được biết, cho đến năm 1981 đảng mới cho khoán như vừa kể, nhưng vẫn duy trì hệ thống hợp tác xã. Đến năm 1988 mới giải thể hợp tác xã. Bên cạnh đó, trong bài nghiên cứu lý luận "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và quản lư của nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam," được đưa lên trang web của dảng CSVN ngày 11/11/2003, giáo sư tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên trung ương đảng, phó chủ tịch thường trực Hội Đồng Lý Luận Trung ương, đã nhận xét về giai đoạn đảng hô hào "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa như sau: "Sự tiếp tục tồn tại quá mức của cõ chế tập trung bao cấp đã trở thành cõ chế kìm hãm, cản trở sự phát triển của sản xuất, đời sống, đưa đất nước rõi vào khủng hoảng kinh tế, xã hội sau đó." Và ông Lê Hữu Nghĩa cho rằng: "Mặc dù chịu sự tác động của cõ chế đó nhưng nhiều nhân tố mới không ngừng xuất hiện trong phong trào quần chúng trên các lãnh vực nông nghiệp, công nghiệp, phân phối lưu thông,v.v... để tìm cách thoát khỏi sự kìm hãm. Những hiện tượng 'xé ràó chính là thể hiện quá trình trăn trở tìm tòi đó thể hiện nhu cầu tất yếu của cuộc sống, được đảng ta đón nhận từng bước và thận trọng nghiên cứu...." Cả hai trường hợp trước và sau năm 1975 vừa nêu, dù có sự khác biệt về phương vị giữa hai tác giả, một người là nhà đấu tranh cho dân chủ; còn người kia là nhân vật số hai của hội đồng lý luận trung ương của đảng; nhưng cả hai đều cho thấy chính nhân dân mới là người đề xướng đổi mới. Đồng thời dù cách viết khác nhau, nhưng cả hai tác giả cũng cho thấy, khi còn nắm vững chuyên chính vô sản thì đảng nghiền nát đổi mới ngay tức khắc. Khi không còn khả năng ban phát ân huệ để mua chuộc được thành phần quần chúng theo đảng, để thực hiện được được chuyên chính vô sản, thì đảng phải xuôi theo chiều gió chạy theo sau quần chúng; để rồi tự vỗ ngực xưng tên là đảng khởi xướng... Nhà đấu tranh cho dân chủ Phương Nam còn làm vấn đề thêm sáng tỏ với nhận xét: "Tuy nhiên, trong thực tế lại nảy sinh ra một điều trớ trêu và rất phổ biến là, có nhiều người trong đảng hôm qua đã từng không từ một thủ đoạn nào để chống lại đổi mới, thì hôm nay đùng một cái lại nghiễm nhiên trở thành 'những chiến sĩ đi đầu trong công cuộc đổi mới.' " Những đổi thay trên bộ mặt của Việt Nam, vấn đề cần được nhìn lại cho đúng Sau 30 năm cai trị cả nước và hô hào tiến lên xã hội chủ nghĩa, điều không ai phủ nhận được là Việt Nam vẫn còn là nước nghèo nàn, lạc hậu nhất trong khu vục và trên thế giới, đồng thời được xếp vào hạng 5 nước có tệ nạn tham nhũng nhất thế giới. Trong diễn văn đọc ngày kỷ niệm 75 năm thành lập đảng, ông Nông Đức mạnh, tổng bí thư đảng CSVN cũng phải nhìn nhận là; "Nhìn tổng thể, đất nước vẫn còn trong tình trạng kém phát triển. Sự tụt hậu về kinh tế càng gay gắt khi hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam còn thấp. Những hiện tượng phân cực và phân hoá giàu nghèo, suy gảm về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu tham nhũng và sự thoái hoá của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn, đang là những nỗi bức xúc trong xã hội...." Thế nhưng đảng vẫn huyênh hoang về một số thay đổi diễn ra trên bề mặt của Việt Nam ngày nay. Một số người nông cạn cũng tấm tắc khen ngợi về những thay đổi đó. Vấn đề này cần phải nhìn lại một cách chính xác hơn. Điều hiển nhiên là, một đất nước sau hai ba chục năm tất nhiên phải có những thay đổi trên bề mặt. Đặc biệt là hai ba mươi năm đó lại là thời gian không có chiến tranh. Vấn đề cần xét đến là sự phát triển để tạo nên những thay đổi đó trên đất nước có song hành với thời đại hay không? Có thể dùng thí dụ sau đây để so sánh. Một đứa trẻ lên 6 tuổi, 12 năm sau được gặp lại đứa trẻ này, ít nhiều người ta đều thấy có sự thay đổi rõ rệt về thể xác cũng như kiến thức. Nếu đứa trẻ đó đã trở thành một thanh niên như những thanh niên đồng trang lứa, cùng với kiến thức bình thường của 5 năm tiểu học và 7 năm trung học, thì sự thay đổi người ta thấy được giữa một đứa trẻ lên 6 trước đây và thanh niên 18 tuổi hiện nay là kết quả của sự phát triển bình thường. Nhưng nếu sau 12 năm đó, đứa trẻ chỉ đèo đẹt như đứa bé hơn 10 tuổi về thể xác và có kiến thức của bậc tiểu học; thì dù người ta vẫn thấy sự thay đổi, nhưng chắc chắn đó là sự thay đổi không bình thường (theo nghĩa xấu). Nếu lấy những nước trong vùng làm bạn đồng trang lứa để so sánh, thì những thay đổi người ta thấy ở Việt Nam ngày nay là sự thay đổi của đứa trẻ sau 12 năm mà thể xác đèo đẹt và kiến thức chỉ ở bậc tiểu học trong thí dụ vừa kể. Đó không phải là sự thay đổi đáng tự hào như đảng vẫn thường huyên hoang, hoặc được một số người nông cạn tấm tắc khen ngợi. Mà đó chính là mối nhục của dân tộc Việt Nam.. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có phải là...phát kiến của đảng không? Từ đại hội đảng lần thứ VII đến đại hội IX, tức là 3 lần đại hội, CSVN đều coi cái gọi là "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" là sáng kiến của đảng, và sáng kiến này không theo một mô hình nào có sẵn cả. Đại hội đảng IX còn gọi đó là "bước đột phá có tính sáng tạo và cách mạng trong tư duy lư luận của đảng Cộng Sản Việt Nam",... Đây cũng là điều được lập đi lập lại trong có tài liệu của đảng. Thế nhưng, vào dạo năm 1999, khi trả lời một hãng thông tấn ngoại quốc, người đứng đầu đảng là Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu lại cho biết CSVN bắt chước mô hình của Trung Quốc. Ông Lê Khả Phiêu còn nói thêm là nếu Trung Quốc thành công thì VN sẽ thành công (như thế có nghĩa là nếu Trung Quốc thất bại thì VN cũng đi vào vết xe đó). Từ bản chất "bám gót đàn anh" vẫn có của CSVN đến sự kiện trồng đánh xuôi kèn thổi ngược vừa kể cho phép người ta khẳng định cái gọi là "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" của CSVN chỉ là sự rập khuôn theo kiểu của Trung Quốc. 3/ Cơ sở lý luận của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bài nghiên cứu lý luận nhan đề: "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và quản lý của nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam," GS Lê Hữu Nghĩa, phó chủ tịch hội đồng lý luận trung ương của đảng cho rằng: "Tư duy lý luận trước đây coi sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường là đối lập tuyệt đối với chủ nghĩa xã hội 'như nước và lửá chúng không thể nào dung hợp với nhau được. Theo tư duy đó, kinh tế thị trường đồng nhất với chủ nghĩa tư bản; còn kinh tế kế hoạch hóa tập trung được đồng nhất với chủ nghĩa xã hội và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội cũng được coi là bắt nguồn từ đó." "Sai lầm của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây là, trong một hời gian tương đối dài, đã phủ nhận kinh tế thị trường, thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Ở Việt Nam cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp đã tồn tại tương đối lâu dài, từ khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc (1954) cho đến những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Tình trạng đó do 3 nguyên nhân chủ yếu sau: 1/ Do theo nhận thức cũ. 2/ Do ảnh hưởng mô hình cũ về về chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa. 3/ Do yêu cầu của thực tiễn kháng chiến chống ngoại xâm." Cùng vấn đề này, nhà dân chủ Phương
Nam phân tích như sau: - Xét về bản chất chính trị ứng với chúng thì cũng lại hoàn toàn khác nhau (theo Lê Nin thì chúng hõn kém nhau tới hàng triệu lần). Nếu cũng đem "trộn" nền kinh tế này với nền chính trị kia, thì ngoài việc nó mâu thuẫn với những nguyên lý chung, nó còn mâu thuẫn với chính "vấn đề cơ bản của triết học Mác Xít" rằng: "Vật chất quyết định ý thức", "tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội", "cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng",v.v.... (anh Hà Sĩ Phu gọi sự kết hợp này là 'đứa con lai láu cá). Một lần nữa, dù một bên là nhân vật thứ hai trong hội đồng lý luận trung ương của đảng, và bên kia là một nhà đấu tranh cho dân chủ, nhưng cả hai đều thừa nhận bản chất của kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn, hoàn toàn đối nghịch và không thể dung hợp được với nhau. Trong suốt bài nghiên cứu lý luận, Giáo sư Lê Hữu Nghĩa còn nhấn mạnh nhiều lần sự đối lập này qua những thí dụ như "đất với trời", "nước với lửa", "người cộng sản với người buôn sỉ", v.v... Nhưng lại cho rằng sự thay đồi tư duy của đảng sẽ khiến kinh tế thị trường hoà hợp được với xã hội chủ nghĩa. Không hiểu là cứ thay đổi tư duy thì người ta có thể để trộn lẫn được nước và lửa mà cả hai thứ vẫn tồn tại như cây cổ thụ lý luận của đảng kết luận hay không; hãy chờ xem! Ở đây cần mở một dấu ngoặc để đồng ý với giáo Sư Lê Hữu Nghĩa là đảng đã u mê trong thời gian quá dài (từ năm 1954 đến đầu thập niên 90, tức là 40 năm ). Câu hỏi được đặt ra là, một đảng như vậy có xứng đáng lãnh đạo đất nước hay không? Nhất là cho đến nay chưa có dấu hiệu chứng tỏ đảng có khả năng và ý chí để khỏi sự tăm tối kéo dài đó. Trở lại vấn đề "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", GS Lê Hữu Nghĩa nhấn mạnh: "Điều cần nhấn mạnh là, sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản và vai trò quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu." Và ông phân tích về các mặt ưu và khuyết của kinh tế thị trường để cho rằng mọi thứ phải có đảng lãnh đạo như sau: "Kinh tế thị trường vốn có hai mặt: mặt thuận (tích cực) như thúc đầy kinh tế tăng trưởng nhanh, chú trọng lợi ích và hiệu quả kinh tế... về mặt nghịch (tiêu cực) như thúc đầy phân hoá giàu - nghèo, khuyến khích lối sống vị kỷ, chạy theo đồng tiền, hạ thấp giá trị đạo đức.. Mắt nghịch của kinh tế thị trường mâu thuẫn với bản chất của xã hội chủ nghĩa. Vì vậy sự lãnh đạo của đảng và quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường." Thực tế cho đến nay cho thấy, tất cả những điều mà phó chủ tịch hội đồng lý luận trung ương của đảng gọi là mặt nghịch (tiêu cực) của kinh tế thị trường đã không mâu thuẫn với bản chất của xã hội chủ nghĩa được đảng lãnh đạo và nhà nước quản lý, như lý luận vừa nêu. Ngược lại, những tiêu cực đó đã lan tràn mạnh mẽ và nhanh chóng. Mọi thứ đều chỉ có thể sinh sôi nảy nở nhanh chóng trong một một trường thuận lợi. Do đó, rõ ràng là xã hội chủ nghĩa cùng sự lãnh đạo của đảng và quản lý của nhà nước là môi trường tương hợp cho những tiêu cực xã hội, Trong khi đó, ở các quốc gia theo kinh tế thị trường, không cần sự định hướng của xã hội chủ nghĩa thì những tiêu cực đó đã không có môi trường để nảy nở. 4/ Kinh tế trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển ra sao Bản tin tháng 12/2004 của Hội đồng Lý Luận Trung Ương đã đưa ra bản đánh giá của cuộc Hội thảo cấp cao, tổ chức tại Hà Nội ngày 23 tháng 11 năm 2004, bàn về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2005-2010) của Việt Nam. Đánh giá về thực trạng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong 5 năm qua (2001-2004), các chuyên gia và nhiều đại biểu và chuyên gia cao cấp nước ngoài đến từ WB, UNDP, ADB, IMF, Viện FES (Đức), Nhật Bản tham dự hội nghị đã đúc kết 6 điểm thành tựu và 9 điểm yếu kém của Việt Nam trong các lãnh vực này. Điều đáng nói là những điểm gọi là thành tựu đó lại bị ngay những điểm yếu kém bác bỏ. Đặc biệt bảng đánh giá này còn vạch rõ sự tụt hậu của Việt Nam ngay cả khi so sánh với những quốc gia không có những điều kiện thuận lợi như Việt Nam (7). III/ Kết luận 30 năm, một thế hệ đã trôi qua. Những quốc gia có cùng mức độ, hay thua kém miền Nam trước năm 1975 nay đã bỏ xa Việt Nam tít tắp. Trong khi nhiều nước chỉ cần thời gian ngắn để tăng gấp đôi GDP như: Indonesia 2-3 năm, Hàn Quốc 28 tháng, Đài Loan 19 tháng.. thì sau 15 năm "đổi mới" (cho đến năm 2000), Việt Nam mới tăng GDP đơợc 1.5 lần. Và công cuộc đổi mới cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam suốt gần 20 năm qua được phó chủ tịch hội đồng lý luận trung ương, GS Lê Hữu Nghĩa mô tả chỉ mới là...bước đầu: ."..Tất cả mới chỉ là bước đầu. Sự quản lý của nhà nước về kinh tế còn nhiều yếu kém. Hiệu lực và hiệu quả quản lý còn thấp. Hệ thống pháp luật và chính sách chưa đồng bộ và chưa nhất quán, kỷ cương pháp luật chưa nghiêm. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai... còn nhiều yếu kém, sơ hở; Thủ tục hành chính vẫn rườm rà, cải cách hành chính còn chậm và chưa kiên quyết....." Trên thế giới ngày nay, chỉ cần chậm trễ một chút là đã bị bỏ rơi lại phía sau. Việt Nam đang ngày càng tụt hậu, lại ở dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, người ta không biết bao giờ Việt Nam mới đi được bước thứ hai theo sau... bước đầu vừa kể... Ông Lê Khả Phiêu đã nhiều lần tuyên bố đại khái "Sẽ bảo vệ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, sẽ duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa dù có phải tốn cả trăm năm nữa để xây dựng XHCN." Như thế có nghĩa là bất chấp sự nhục nhằn của dân tộc, sự tụt hậu ngày càng xa của đất nước, đảng vẫn kiên trì dìm dân tộc Việt Nam trong vũng lầy xã hội chủ nghĩa để thử nghiệm một học thuyết đã từng bị thất bại và đào thải trên khắp thế giới. Trước thực trạng này, mỗi người Việt Nam hẳn đầu biết mình phải làm gì để tự cứu mình, cứu đất nước ra khỏi vũng lầy đó. (1)Trò hề hiệp thương thống
nhất vào tháng 12/75 giữa hai phái đoàn: Miền Bắc do Trường
Trinh, nhân vật số 2 trong bộ chính trị CSVN cầm đầu;
miền nam do Phạm Hùng, nhân vật số 4 trong bộ chính trị
CSVN cầm đầu. Sau đó 4 tháng là những trò hề khác như
bầu cử quốc hội, thống nhất về mặt nhà nướcv.v... 2- Những mặt yếu kém |