Đọc lại những tài liệu cũ nói về phụ nữ Việt Nam, không ai không khỏi
hãnh diện. Năm 1960, trong bài "Phải đứng trên quan điểm giai cấp mà
nhận xét vấn đề phụ nữ", Lê Duẩn viết : "Phụ nữ là người có tinh thần
dân tộc hơn ai hết, và cái đẹp đẽ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, trước
hết là phụ nữ Việt Nam".
Khi
cuộc xâm chiếm miền Nam đang đến hồi quyết liệt, đảng cộng sản đã không
ngừng đề cao vai trò của người phụ nữ đến nỗi năm 1968, trong chuyến
ghé thăm Hà Nội, tổng thống Cộng Hòa Congo (Brazaville) đã không tiếc
lời ca ngợi : "Phụ nữ Việt Nam là tấm gưiơng sáng cho phụ nữ toàn thế
giới ngày nay" (báo Nhân Dân). Năm 1969, nhân chuyến viếng thăm
miền Bắc, chủ tịch Liên đoàn phụ nữ quốc tế phát biểu : "Chị em phụ nữ
Việt Nam đang viết, bằng mồ hôi và máu của họ, một trang sử chưa từng
có trong đời sống nhân loại và đang thúc đẩy sự nghiệp giải phóng phụ
nữ trên toàn thế giới". Ôi biết bao tự hào. Mặc dù chịu nhiều hy sinh,
người phụ nữ Việt Nam lúc đó rất được kính trọng.
Bốn mươi năm sau nhìn lại, thân phận của người phụ nữ Việt Nam
thật là bẽ bàng, và rất tủi nhục. Chỉ những phụ nữ còn sinh hoạt trong
các tổ chức do đảng, đoàn và nhà nước cộng sản chỉ đạo, hay là thân
nhân của những người có chức có quyền mới được nâng đỡ, số 98% còn lại
phó mặc cho số phận đưa đẩy, kể cả những bà mẹ chiến sĩ và nữ thanh
niên xung phong. Trong số những phụ nữ bị phó mặc này, may mắn là những
người nhờ biết xoay sở đã có một chỗ đứng ổn vững trong xã hội như buôn
bán, dạy học..., kém may mắn hơn là những phụ nữ ở thôn quê, kể cả con
cái những cựu du kích quân cộng sản, không có trình độ học vấn cao nên
sẵn sàng làm bất cứ nghề gì để sinh sống, kể cả bán thân và đi ở đợ.
Hơn 10 năm qua, báo chí trong nước thường xuyên đăng tải những tin
tức liên quan đến số phận của những phụ nữ kém may mắn này. Không biết
bao nhiêu hoàn cảnh khó khăn và nhục nhã của những phụ nữ này đã được
phơi bày trên báo chí, cho tới nay những trường hợp tương tự không hề
suy giảm. Phải nói là người Việt Nam nói chung và đảng cộng sản nói
riêng không còn quan tâm đến số phận của những thiếu nữ này. Mạnh ai
nấy sống, sống chết mặc bay. Phần lớn những thiếu nữ ngây ngô này đã
phải bán thân để sống, nhưng hành động tuyệt vọng này đã biến họ thành
nạn nhân của những tổ chức buôn người. Cái khốn nạn là chính người Việt
và những tổ chức người Việt, của đảng cộng sản cũng như tư nhân, đứng
ra làm việc đó.
Từ giữa thập niên 1990 đến nay, phụ nữ thôn quê Việt Nam đã trở
thành hàng hóa trao đổi giữa những tay buôn người trong nước và quốc
tế. Lúc đầu là những đường dây đưa thiếu nữ thôn quê và thượng du miền
Bắc sang bán làm vợ hay làm phục dịch cho người Trung Quốc. Giá bán một
phụ nữ từ 100 đến 200 USD. Dịch vụ này chỉ kéo dài một thời gian rồi
chấm dứt, vì thiếu nữ thôn quê miền Bắc không muốn rời bỏ quê hương đi
nơi khác. Những tay buôn người này liền vào miền Trung đưa thiếu phụ và
thôn nữ nghèo khó sang Trung Quốc lấy chồng. Sau khi bị đàn ông Trung
Quốc hành hạ, nhiều người đã trốn về lại quê nhà kể lại cho báo chí
những hoạn nạn mà họ đã trãi qua. Dịch vụ lấy chồng Trung Quốc do đó
giảm dần với thời gian và không còn được nhắc tới nữa, mặc dù vẫn còn.
Ngược lại dịch vụ lấy chồng Đài Loan trở nên phát đạt, vì người
Đài Loan nhiều tiền hơn người Trung Quốc. Lần này những tay buôn người
đi vào miền Nam, xuống tận những làng xóm xa xôi trên đồng bằng sông
Cửu Long truy lùng thiếu nữ trong các gia đình nghèo đưa lên Sài Gòn
gả, thật ra là "bán", cho đàn ông Đài Loan. Sau khi hoàn tất, gia đình
của thiếu nữ Việt Nam nhận được 1.000 USD, nhưng từ đầu năm 2000 trở
lại đây mỗi gia đình có con gái gả cho đàn ông Đài Loan chỉ còn nhận
được từ 200 đến 300 USD. Lý do là cung nhiều hơn cầu và người dẫn mối,
chủ chứa và cơ quan làm thủ tục hôn phối và xuất cảnh ăn hết. Mặc dù
vậy cũng có hơn 60.000 cô gái Việt Nam đã theo "chồng" về Đài Loan, và
sẽ còn gia tăng.
Tuy nhiên sau nhiều tai tiếng, dịch vụ gả cưới thôn nữ Việt Nam
chuyển sang đàn ông Nam Hàn, lần này thì nhục nhã hơn. Phụ nữ Việt Nam
không còn được nhìn nhận là người mà là hàng hóa, đàn ông Đại Hàn chỉ
muốn hưởng thú xác thịt hơn là cưới hỏi thật sự. Theo báo Công An Thành Phố,
"vào những ngày giáp Tết Bính Tuất, tại khách sạn Thái Bình 2 nằm sâu
trong hẻm 204 Nguyễn Trãi, phường 3, quận 5, Sài Gòn, có một cuộc môi
giới hôn nhân trái phép giữa 10 người đàn ông Hàn Quốc và 193 cô gái
Việt... Những người này khai nhận họ chỉ đi theo Park Min Tae và Park
Won Ho (hai tay dẫn mối) để xem "dung nhan" (thật ra là xem thân thể
lõa lồ) các cô gái Việt cho vui chứ không có ý định lấy vợ Việt Nam".
Tại Singapore và Đài Loan, phụ nữ Việt Nam còn được rao bán trên các
mạng internet như một món hàng.
Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam cũng không vắng mặt trong dịch
vụ mua bán này, nhưng dưới một tên gọi lịch sự hơn : xuất khẩu lao
động. Xuất khẩu lao động trên nguyên tắc là một dịch vụ thương mại
chính đáng, khi trong nước có dư thừa nhân công thì nhân công có thể
xin đi làm việc ở nước ngoài. Trong tiến trình này trình độ chuyên môn
là yếu tố chính để xác định giá trị của người lao động. Nhưng với chính
quyền cộng sản Việt Nam yếu tố này không quan trọng, ai chịu đút lót
tiền để làm thủ tục xuất cảnh thì được ưu tiên cho ra nước ngoài làm
việc, còn làm việc gì thì người lao động tự lo liệu lấy với giới chủ
nhân tại chỗ chứ không như đã ghi trên giấy tờ. Nhiều đường dây buôn
người đã lợi dụng dịch vụ xuất khẩu lao động này để đưa phụ nữ Việt Nam
sang các nước khác hành nghề mại dâm, dư luận trong nước chỉ biết khi
những phụ nữ bị ép hành nghề mại dâm này thoát về kể lại.
Phụ nữ Việt Nam còn gì để tự hào với chế độ này ?
Nguyễn Văn Huy