Còn quá sớm để bàn về cuộc tranh cử tổng thống 2008 tại Hoa Kỳ. Nhưng
kỳ bầu cử này là một biệt lệ. Nếu hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thay
nhau làm chủ tòa Bạch Ốc thì năm 2008 đảng Dân chủ có nhiều cơ hội nắm
lại tòa Bạch Ốc đã ở trong tay đảng Cộng hòa 8 năm, và đang gặp khó
khăn với cuộc chiến tại Iraq. Bên đảng Dân chủ Thượng nghị sĩ bang New
York, bà Hillary Clinton nổi bật như là ứng cử viên hàng đầu. Tháng 11
này bà tái tranh cử Thượng nghị sĩ New York, và cuộc vận động tranh cử
của bà sẽ được truyền thông và dư luận theo dõi kỹ lưỡng để tìm hiểu
lập trường và đường lối của bà.
Bà
Hillary, từng là đệ nhất phu nhân, luật sư, từng phụ tránh những kế
hoạch lớn như cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe quốc gia (1993), có một
số vốn dự trữ lớn (20 triệu mỹ kim), một bộ máy tranh cử toàn quốc của
ông Clinton để lại, một người có thành tích trong lĩnh vực giáo dục trẻ
em, nên bà có nhiều lợi thế hơn các ứng cử viên khác.
Trong số
các ứng cử viên ngắm nghé vận động sự đề cử của đảng Dân chủ có thể kể
cựu Phó tổng thống Al Gore, Thượng nghị sị bang Massachusetts John
Kerry, Thượng nghị sị bang Winsconsin Russ Feingold, cựu Thượng nghị sĩ
bang North Carolina John Edwards, cựu thống đốc bang Virginia Mark
Warner và thống đốc bang Iowa Tom Vilsack.
Cho đến lúc này người
ta chưa thấy bà Hillary xác định một triết lý chính trị nào làm căn bản
cho toàn bộ chương trình tranh cử của bà (như năm 1992 ông Clinton chủ
trương lập trường Người Dân Chủ Mới -New Domocrat-, và năm 2000 ông
George W. Bush chủ trương Bảo thủ Với Tình Thương - Compassionate
Conservative-, mặc dù ý kiến của bà trước những vấn đề quan trọng của
đất nước và xã hội như cuộc chiến tại Iraq, vấn đề phá thai rõ ràng
không ai thể hiểu lầm được.
Với cuộc chiến tại Iraq, năm 2002
bà Hillary bỏ phiếu thuận dùng vũ lực, và bà vẫn giữ lập trường đó,
không đòi hỏi rút quân như nhiều thành viên thuộc đảng Dân chủ. Trong
một cuộc phỏng vấn bởi phóng viên Dan Balz của tờ tuần báo Washington
Post ngày 26/5/2006 bà nói “Tôi từng nói rằng tôi rất tiếc tổng thống
đã xử dụng quyền hành của mình như vậy. Nhưng tôi phải nhìn vào toàn bộ
vấn đề một cách có tránh nhiệm. Tôi tin rằng chúng ta đang lâm vào một
hoàn cảnh khó khăn để chúng ta có quyền hốt hoảng và vì vậy tôi không
muốn a dua theo những người muốn ấn định một thời biểu rút quân cũng
như những người ủng hộ tổng thống Bush và thủ tướng Tony Blair 100 phần
trăm. Tôi biết cả hai phía sẽ chỉ trích tôi, nhưng tôi nghĩ chúng ta
phải hành động một cách có trách nhiệm ” (1)
Bà Hillary đã lặp
lại quan điểm này hôm 13/6/2006 khi nói chuyện trước cuộc hội thảo mang
chủ đề “Take Back America” do cánh tả thuộc đảng Dân chủ tổ chức mặc dù
bà biết cử tọa sẽ phản đối. Với vấn đề phá thai trong một phát biểu
Tháng Giêng năm 2005 bà Hillary giữ lập trường cho phép phá thai như
luật lệ hiện hành, tuy nhiên bà nói đối với phụ nữ đó là một quyết định
khó khăn và đáng buồn.
Về lập trường chung, trong cuộc phỏng
vấn của Dan Balz nói trên bà xác định: “Triết lý lãnh đạo quốc gia của
tôi không thu gọn trong một vài danh từ đơn giản. Mỗi vấn đề sẽ được
giải quyết tùy theo bối cảnh của nó và dựa vào những lý tưởng đẹp tôi
hằng ôm ấp để tìm ra một giải pháp thực tế. Nó có thể không được giải
quyết theo tiền lệ vì thật ra các vấn nạn của quốc gia chúng ta không
có cái nào giống cái nào” (2)
Bà Hillary khéo léo may cho mình
một chiếc áo rộng để dễ bề xoay xở và đó cũng là trọng điểm của sự ủng
hộ cũng như chỉ trích từ phía đối lập. Những người ủng hộ cho thái độ
của bà là một lập trường trung dung mới (a modern centrist - Roger
Altman, cựu viên chức Bộ Tài chánh Hoa Kỳ), hoặc là một lập trường tiến
bộ không vướng bởi ảo ảnh (a progressive without illusions - William
Galston, thuộc Viện nghiên cứu Brookings Institution). Những người đối
lập, trái lại, cho lời lẽ của bà Hillary phản ánh tính ba phải và là
một tính toán chính trị (triangulation, calculation and equivocation -
nhà bình luận Molly Ivens). Mục sư Jerry Falwell phản ánh cái nhìn của
đảng Cộng hòa cho bà Hillary là một người chủ trương thuyết phóng
khoáng tả khuynh (liberal ideologue) và là một người giáo điều hơn cả
cựu tổng thống Clinton.
Liên quan đến vấn đề nội bộ, theo nhận
định của Dan Balz thuộc ban biên tập tuần báo Washington Post bà
Hillary tin rằng chính quyền là phương tiện tốt để giải quyết một số
vấn đề xã hội nhưng qua kinh nghiệm thất bại trong vụ tái cấu trúc
chương trình bảo hiểm y tế toàn quốc năm 1993-94 bà biết sự giới hạn
của chính quyền trước các khối quyền lợi khác. Bà nhận ra rằng chính
quyền chỉ là một trong ba cạnh của một tam giác làm cái khung trong đó
trật tự quốc gia vận hành. Hai cạnh kia là kinh tế thị trường và xã hội
dân sự thuộc các khối tôn giáo và các tổ chức bất vụ lợi. Bà Hillary
cho rằng Hoa Kỳ thành công nhất trên thế giới vì Hoa Kỳ biết duy trì sự
cân bằng giữa ba yếu tố nói trên và tinh thần trách nhiệm cá nhân.
Bà
Hillary là người biết trân trọng giá trị của một gia đình bền vững hơn
là nói đến gia đình như một chiêu bài đễ giữ gìn sinh mệnh chính trị
của bà. Người ta có thể đồng ý với nhận định của Dan Balz nếu nhìn cung
cách bà Hillary giải quyết chuyện tình cảm lăng nhăng của tổng thống
Clinton với cô Monica Lewinsky.
Là một người vợ bà có thể đã
nặng lời với tổng thống Clinton trong phòng the nhưng bà đã làm những
gì cần thiết để cứu vãn gia đình sau khi tổng thống Clinton thoát khỏi
sự truất phế. Cũng trong cuộc phỏng vấn ngày 26/5/2006 khi được hỏi về
vấn đề nội bộ quốc gia và quan hệ giữa nguời và người bà Hillary trả
lời rằng: “Cái động lực chính hướng dẫn tôi khi tôi là một Thượng nghị
sị cũng như những năm trước đó (ở nhiệm vụ vợ một thống đốc, và đệ nhất
phu nhân) là sự tin tưởng rằng điều quan trọng nhất của mỗi chúng ta là
săn sóc con cái đàng hoàng và làm bất cứ gì để duy trì Hoa Kỳ như một
quốc gia tượng trưng cho tự do và hy vọng trên thế giới” (3)
Tuy
có kẻ thương người ghét nhưng không ai có thể chối cãi bà Hillary là
một nhân vật lịch sử đặc biệt. Trong cuốn hồi ký “Living History” của
bà (nhà xuất bản Simon & Schuter – New York) phát hành giữa năm
2003, ba năm sau khi bà đắc cử Thượng nghị sĩ bang New York, một cuốn
sách trình bày con người và lập trường xuyên qua tiểu sử của bà, bà đã
dùng một văn phong nhẹ nhàng nhưng chứa đựng một sức sống mãnh liệt.
Qua
đó người ta thấy một phụ nữ cương quyết nhưng không kém dịu dàng của
một người đàn bà khi giải quyết sự việc, bà tranh đấu cho nữ quyền và
nhân quyền nhưng không quá khích, biết thông cảm và tha thứ cho chồng,
và quan trọng hơn cả bà chứng tỏ nắm vững công việc quốc gia và các vấn
đề lớn của thế giới. Bà tin vào thuyết con người sinh ra vốn vô nhiễm
mọi thứ trên đời và “tính bổn thiện”.
Bà viết trong phần mở
đầu của cuốn sách như lời trần tình với cử tri toàn quốc: “Tôi sinh ra
không phải đã là một đệ nhất phu nhân, không phải là một người Dân chủ,
không phải là một Thượng nghị sị, cũng không phải là một luật sư, không
phải là một người tranh đấu cho nữ quyền và nhân quyền, tôi sinh ra
chưa phải là một bà mẹ, một người vợ. Tôi sinh ra như một người Mỹ giữa
thế kỷ 20, tại một địa điểm và vào một thời điểm đặc biệt. Tôi được tự
do lựa chọn cuộc sống không như những người phụ nữ Hoa Kỳ của những thế
hệ trước tôi, và đa số những người phụ nữ thuộc thế hệ này ở những nước
khác. Tôi sinh ra trong trào lưu thay đổi trên thế giới, và tôi đã được
dự phần vào những cuộc đấu tranh chính trị xác lập thế nào là nước Mỹ
và nhiệm vụ của Hoa kỳ trên thế giới (4)
Cuốn “Living History”
được xem như một bản văn bày tỏ lập trường của một Thượng nghị sị và
suy rộng ra hơn là lời trần tình với quốc dân chuẩn bị cho cuộc tranh
cử tổng thống của bà Hillary năm 2008.
Không ai chối cãi rằng
bà Hillary là một nhân vật chính trị đặc biệt: thông minh, không bày tỏ
quan điểm gì quá khích, biết dung hòa quan điểm với đối lập và có khả
năng giải quyết những vấn đề trước mắt.
Nhưng đảng Dân chủ
ngại với những năm đóng vai đệ nhất phu nhân dính líu một số chuyện
lằng nhằng trong tòa Bạch Ốc (filegate, travelgate, giftgate …) bà sẽ
là một gánh nặng cho đảng, và có thể làm cho đảng Dân chủ mất một cơ
hội lấy lại tòa Bạch Ốc. Trong khi đó đảng Cộng Hòa sợ rằng với cá tính
mạnh và bản chất tả khuynh bà Hillary nếu đắc cử không biết sẽ đưa Hoa
Kỳ về đâu. Đó là những khó khăn của bà Hillary và là những điểm những
người thuộc đảng Dân chủ có dự tính ra ứng cử tổng thống năm 2008 sẽ
dùng để tấn công bà Hillary trước ngày đại hội đảng.
Hiện nay
còn quá sớm để có một danh sách đầy đủ những người sẽ ra vận động để
được đảng Dân chủ bổ nhiệm. Nhưng ít nhất trong những người ngắm nghé
người ta thấy John Kerry lúng túng với lập trường ba hồi ủng hộ việc
đánh Iraq, ba hồi chống; John Edwards được xem quá tả; Mark Warner
không có gì đặc biệt; Russ Feingold cũng như Tom Vilsack quá mới mẻ tên
tuổi chưa được ai biết đến.
Chỉ có Al Gore, ứng cử viên của
đảng Dân chủ năm 2000 là đặc sắc với lập trường tranh đấu cho môi sinh
của ông đang được thiên nhiên đồng tình với bão lụt càng ngày càng đe
dọa đời sống con người do độ nóng của bầu khí quyển. Nhưng bất lợi của
Al Gore (cũng như của John Kerry) là đã ra tranh cử và thất cử.
Người
Mỹ thường không thích nhìn những bộ mặt thất bại xuất hiện. Trong khi
đó bà Hillary có tất cả cái mới mẻ của một ứng cử viên. Cái gánh nặng
của tòa Bạch ốc bà gánh trong tám năm làm đệ nhất phu nhân về một vài
mặt nào đó thật sự là một gánh nặng, nhưng cũng có thể là một tích sản
khi người dân nghĩ đến sự can đảm của bà trong nỗ lực cải tổ chế độ bảo
hiểm sức khỏe quốc gia dù thất bại, và nghĩ đến những năm tháng ổn định
và thăng tiến kinh tế trong thời bà cùng chồng gánh vác việc nước trong
tòa Bạch ốc.
Bà Hillary còn hơn hai năm trước mắt để xác lập
đường lối. Lập trường lúc ẩn lúc hiện của bà hiện nay tránh được sự
đánh phá của đối phương. Bước vào năm 2008 bà xác định lập trường cũng
không phải là chuyện quá khó khăn, và chưa phải là muộn.
Cái khó
(hay thuận lợi?) là nếu bà được đảng Dân chủ chọn thì đây là lần đầu
tiên trong lịch sử Hoa Kỳ có một ứng cử viên nữ và nếu đắc cử bà mở một
kỷ nguyên mới cho lịch sử Hoa Kỳ. Câu hỏi là quần chúng Hoa Kỳ đã sẵn
sàng đón nhận một phụ nữ làm tổng thống chưa? Và một câu hỏi khó khăn
hơn là bà Hillary có được cử tri phái nữ ủng hộ không? Câu hỏi thứ hai
có thể khó trả lời hơn câu hỏi thứ nhất vì có thể dân chúng Hoa Kỳ chấp
nhận một nữ tổng thống trong khi người phụ nữ Hoa Kỳ chưa sẵn sàng chấp
nhận. Người phụ nữ thường khó với người cùng phái hơn là đối với phái
nam.
Nhưng lịch sử của quốc gia nào cũng có lúc phải sang trang.
Trần Bình Nam
June 23, 2006
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
(1)
I have said many times I regret how the president has used his
authority. But I think I have a responsibility to look at this as
carefully as I can and say what I believe, and what I believe is we’re
in a very dangerous situation and it doesn’t lend itself to sound
bites, and therefore I have resisted going along with either my
colleagues who feel passionately they need to call for a date certain
or colleagues who are 100 percent behind the policy and with the
president and Prime Minister Blair … (“Does She Have a Platform To
Stand On?”, The Washington Post National Weekly Edition June 5 -11,
2006)
(2) I don’t think like that. I approach each issue and
problem from a perspective of combining my beliefs and ideals with a
search for practical solutions. It doesn’t perhaps fit a preexisting
box, but many of the problems we face as a nation don’t either. (“Does
She Have a Platform To Stand On?”, The Washington Post Natinonal Weekly
Edition June 5 -11, 2006)
(3) What’s framed all the work I have
done in the Senate and all the years before that is my belief that our
most important obligation is to take care of our children … and that as
a nation, America should remain as a symbol of freedom and hope around
the world. (“Does She Have a Platform To Stand On?”, The Washington
Post Natinonal Weekly Edition June 5 -11, 2006)
(4) I was’t born
a first lady or a senator, I wasn’t born a Democrat, I wasn’t born a
laywer or an advocate for women’s rights and human rights. I wasn’t
born a wife or mother. I was born an American in the middle of the
twentieth century, a fortunate time and place. I was free to make
choices unavailable to past generations of women in my own country and
inconceivable to many women in the world today. I came of age on the
crest of tumultuous social change and took part in the political
battles fought over the meaning of America and its role in the world
(Living History, trang 1).
Tài liệu tham khảo:
1. “Does She Have a Platform to Stand On?” (The Washington Post, National Weekly Edition June 5th-11th , 2006)
2. “Living History”, by Hillary Rodham Clinton, Simon & Schuster, New York
3. “Democrats get boos, cheers at 2008 audition”, Reuters June 14, 2006, The San Diego Union-Tribune June 15, 2006
4. “Doubting Hillary” by Lexington, The Economist June 17th-23rd, 2006