Bá nghệ hảo tùy thân!

Theo www.vietnet.no - Nguyễn Thanh Ty - 11-03-2006

Có câu rằng,
“Ruộng bề bề, không bằng một nghề trong tay!”

Xưa nay ai cũng bảo đó là tục ngữ.

Tôi thì không tin như thế. Tôi bảo đó là Sấm Trạng Trình.

Cụ Trạng này ngày xưa, ngoài chuyện phán cho Chúa Nguyễn câu: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, đã đúng chắc như đinh đóng cột rồi, Cụ còn tiên tri nhiều câu, nhiều điều, khi ấy chẳng ai hiểu mô tê gì cả. Mãi cả trăm năm sau người ta mới nghiệm ra được. Khi đã nghiệm ra thì thấy nó đúng “chắc cú” không cãi vào đâu được. Lúc ấy mọi người mới vỡ  ra và “à há!” cho cái chân lý Cụ Trình đã phán. Thí dụ như câu:

“Bao giờ lúa mọc trên chì. Voi đi trên giấy tây thì về tây!”

Đời thủa nào lúa lại mọc trên chì? Có mà nói “điên” chăng?

Lại voi đi trên giấy? Toàn là những lời nói “khùng” cả!

Còn tây là cái giống gì? Hướng tây thì phải là hướng tây rồi.

Tây thì về tây. Ai mà chả biết! Khéo mà nói!

Ấy vậy mà cho tới lúc Cụ Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp để chuộc ba tỉnh miền Tây thất bại trở về, làm bài thơ tạ tội với Nước, với Vua và uống thuốc độc tự vẫn:

“Những tưởng một lời yên bốn cõi, nào hay ba tỉnh lại chầu ba!”

Lúc ấy người ta mới sực hiểu ra, tây là loài “Bạch quỷ Hồng mao” ở phương  tây đem quân xâm lược nước ta.

Cho mãi đến thập niên bốn mươi, sau khi thôn tính luôn cả Lèo và Cao Mên, Pháp lập ra Ngân hàng Đông Dương, cho in tiền giấy và tiền chì xài chung ba nước, người ta lại “ớ” ra, khi thấy bạc cắc có in hình bụi lúa ở trên và tiền giấy một mặt có in hình con voi đang đi.

Vậy là cái câu : “Lúa mọc trên chì, voi đi trên giấy” đã ứng nghiệm rồi nhé! Còn “Tây thì về tây” thì chừng nào đây?

Chẳng bao lâu sau đó, năm 1945, Pháp thua trận Điên Biên phủ và rút hết về nước. Rõ ràng “Tây thì về tây”.

Ai nấy đều vỗ tay thở phào nhẹ nhõm. Nước nhà đã độc lập. Còn gì vui sướng hơn?

- Ừ! Thì cứ cho cái câu trên là sấm ký đi! Còn cái câu : “Ruộng bề bề, không bằng một nghề trong tay” cũng bảo là Sấm Cụ Trình thì nhập nhĩ gì đến cái chuyện nhì nhằng ở trên đây?

- Ấy! Đừng vội! Chuyện đâu còn có đấy! Hượm đã nào!

Sau cái ngày “Tây thì về Tây”, nước Việt Nam ta bỗng xuất hiện “Bác Hồ” (chữ xuất hiện  là “mượn đỡ” ý của câu trong bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng). Bác này ở trong hang Pác Pó (hang này ở gần biên giới của Bác Mao, để lỡ có chuyện gì thì Bác rút chạy cho lẹ theo binh pháp “tiến vi quan, thối vi dân”) nhảy ra quãng trường Ba Đình hô to ba lần lên rằng “Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc”.

Hô xong, Bác nghiêng tai, hỏi:

- Đồng bào nghe có rõ không?

Nghe nói lúc ấy có tới mấy vạn người “hồ hởi phấn khởi” đáp lại “Rõ”. Tiếng hô, tiếng đáp vang động cả bóng mặt trời. Giống như “trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt” vậy.

Ngay sau đó Bác theo “ý dân là ý Trời”cho thi hành chính sách “cải cách ruộng đất” và “diệt tuyệt” bốn thành phần “ác ôn côn đồ” là Trí-Phú-Địa-Hào với khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ”. (Nghe nói câu này Bác ôm nguyên con lời căn dặn của Bác Mao là “trảm thảo trừ căn”) Bao nhiêu ruộng đất ở miền Bắc, chỉ trong một lời nói xuống, đều lọt vô tay của Bác và Đảng. Những người làm chủ ruộng đất xưa nay, đều được Bác cho đeo vào cổ cái bảng “địa chủ” và đem… bắn hết.

Cái bà Năm nào đó, ngày xưa được phong tặng danh hiệu “mẹ chiến sĩ” đã che chở nuôi dấu Bác dưới hầm, được Bác đem ra bắn đầu tiên để nêu gương trăm họ.

Đã bảo là Bác “anh minh” mà. Pháp bất vị thân. Bao Thanh Thiên bên Tàu chỉ đáng là đệ tử xách dép râu cho Bác thôi.

Thế là sau “cải cáh ruộng đất”, mấy trăm ngàn “tên địa chủ” đều “được và bị” đi theo hầu ông Mác, ông Xít ở trên thiên đường Cộng Sản hết. Mặc dầu họ chỉ có vỏn vẹn một hai sào ruộng để bới đất quanh năm suốt tháng, kiếm  cái ăn và có cái “nuôi bộ đội cụ Hồ”.

Bấy giờ thì ai nấy đều trắng tay. Ai nấy đều trở thành “bần cố nông”. 

Miền Bắc chỉ còn có ba nghề ăn nên làm ra, phất lên như diều gặp gió.

Ba nghề đó là hốt phân, thiến heo và chăn trâu.

Ai làm nghề đó đều có thể trở thành Hoàng đế, Thái sư, Thượng thư các Bộ…lãnh đạo Nhà nước hết. Bác Duẫn, Bác Thọ, Bác Anh, Bác Mười…có người xuất thân từ các nghề này mà nên cơ nghiệp.

Bây giờ thì quí bạn độc giả đã chịu cái câu : “Ruộng bề bề không bằng  một nghề trong tay” là Sấm Trạng Trình đã tiên đoán chưa nào?

Cãi thế nào được cơ chứ?

Nhưng cái câu “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” sau cái gọi là “cách mạng văn hóa, trăm hoa đua nở” được phát động rập khuôn theo kiểu  “Bách hoa tề phóng - Bách gia tề minh” của Bác Mao kính… coong bên Tàu, thì không còn là chân lý nữa. Nói “trắng phớ” ra là nó trật lất. Tỷ như cái nghề cầm bút, thì ông Hữu Loan phải đi cày ruộng và làm mướn, kể cả đi đánh cá trộm nữa mới có cái đút vào mồm. Ông Đại tướng Võ nguyên Giáp ngoài nghề đánh giặc ra phải làm thêm nghề “canh đẻ” cho chị em mới có lương hưu đủ sống. Vân vân và vân. Còn nhiều nhiều nữa.

Rất nhiều kinh nghiệm “nằm lăn lóc ra giữa đường” đã chứng minh cho cái sự sai trật của câu “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” ấy, nên khi tôi “được cải tạo về” cha tôi bèn trịnh trọng khuyên tôi:

- “Thời buổi này (ý ông muốn nói “thời buổi cách mạng”) cái nghề dạy học của mày không ăn cái giải rút gì nữa đâu con ạ. Con phải “Này này học lấy nằm lòng. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” tức là mày phải thông suốt cái câu bình dân học vụ là “bá nghệ hảo tùy thân” mới mong có hột bo bo hay mì sợi vụn mà bỏ vào mồm đó con”!

Nhờ lời khuyên chí tình của cha tôi mà từ lúc ra khỏi trại “học tập” cho đến tận bây giờ tôi vẫn được sống hùng, sống mạnh, sống vững chắc, từng bước tiến đến thế giới đại đồng vô sản của các Bác MácLê, MaoXít và cả “Bác Hồ muôn vàn kính… yêu” nữa chứ.

Xuýt nữa lại quên.

Bài “tổng ghi” dưới đây là phần chứng minh cho cái sự phân bua ở trên.

1- Đạp xe ba gác đổ xà bần.

Tôi đang gò lưng rướn mình trên bàn đạp để cố đạp chiếc xe ba gác chở đầy xà bần, gạch vỡ vôi vụn, trên đường Duy Tân dọc biển Nha Trang  thì một chiếc xe Lambretta cổ lỗ sĩ chạy ngang qua, tiếng nổ phành phạch nghe như tiếng ho của lão già ho lao trong xóm, tiếng ho đến thời kỳ cuối chờ ra nghĩa địa. Chiếc xe chạy ngược chiều từ hướng Cầu Đá về Tòa Hành Chánh Tỉnh. Khói phụt đằng sau cái ống “bô” bể, đen ngòm và khét lẹt mùi xăng trộn dầu hôi, cái thứ xăng bày bán từng chai dọc đường, phả vào mặt tôi. Đang mệt gần đứt hơi với mồ hôi, mô kê chảy ròng ròng trên mặt dưới cái nóng hừng hực lúc hai giờ trưa, mùi xăng làm tôi muốn ngộp thở.

- Thiệt là cái đồ phải gió! Xe xiếc gì cái thời buổi này mà còn chạy!

Tôi đang lẩm bẩm càu nhàu tiếng được, tiếng mất trong hơi thở đứt quãng cho bớt cái bực bội, lùng bùng trong người, thì chiếc xe quái ác đó bỗng nhiên thắng két và quành lại chạy rà rà sát bên tôi.

- Chết mẹ! Mình lẩm bẩm trong miệng mà nó nghe được sao?

Từ ngày ra khỏi trại “cải tạo” sau gần sáu năm “lao động vinh quang” tôi được phê là “đã học tập tốt, cho ra trại”, tuy luôn lận cái “Giấy ra trại” trong lưng, nhưng cái án quản chế ba năm cứ ám ảnh tôi như lưỡi gươm treo trên đầu, không biết lúc nào nó rơi xuống và cắm phập trên mỏ ác tôi trở lại. Tâm thần tôi luôn hoảng hốt lo sợ. Ban đêm ngủ, tiếng con chuột chạy, tiếng lá rơi ngoài sân cũng làm tôi giật mình. Bởi thường xuyên, cứ vài hôm thì cậu công an khu vực, mặt còn non choẹt, cứ nửa đêm, gõ cửa, soi đèn pin trong mặt để xem tôi có nhà hay không! Mà rõ ràng, mới hồi chiều nó vừa “mời rủ” tôi ra quán “làm vài chai đi chú Hai” chớ có lâu lắc gì cho cam. Nó uống ừng ực bia Con Cọp chính hiệu với nem chua và chả cá. Còn tôi thì uống “bia lên men”, giá rẻ bằng một phần năm Con Cọp với đậu phụng rang. Dĩ nhiên, sau đó tôi ghi sổ nợ với bà quán và Má tôi phải vừa trả nợ, vừa xót xa. Xót xa cho thằng con khốn khổ và xót cho cái túi tiền vơi đi một cách vô lý khốn nạn. Mỗi lần như thế bà lại cằn nhằn:

- Tự nhiên bị móc túi!

Cha tôi thì vừa bập bập điếu thuốc rê trên môi vừa, vừa  thủng thẳng:

- Chuyện đời đâu có cái gì mà tự nhiên đâu bà! Người ta phải mất ba chục năm xương máu mới có cái ngày này hôm nay đó bà!

- Khi khổng khi không, nó tới bắt thằng con mình ra quán, nói là “mời”, rồi ăn uống ngập mặt, ngập mày, xong phủi đít đi, bắt thằng con mình trả tiền. Không phải là cái quân ăn cướp, móc túi ban ngày đó sao?

- Tui đã nói đó là “khổ công, khổ lao ba mươi năm xương máu mới có ngày nay” mà bà nghe không ra?

- Thiệt tình tui hổng có nghe ra chút nào hết. Trái cái lỗ tai quá đi!

- Trái tai hay trẹo họng cũng phải nín thở. Bà mà hó hé ra là “phản động”, là chống đối cán bộ. Chống cán bộ tức là chống Đảng! 

Tôi nghe hai ông bà nói qua, nói lại mỗi lần như thế, có miệng nhưng tôi không há ra được. Mặt tôi chai lì. Trơ khấc ra. Gần sáu năm được Đảng giáo dục, tôi không còn biết xấu hổ nữa. Tôi chỉ biết sợ.

Bởi cái thứ công dân không có hạng như tôi, như chúng tôi, những thằng tù cải tạo được tha, có thể bị bắt lại, bi nhốt lại bất cứ lúc nào “cách mạng” muốn. Với cái lý do “vì tình hình an ninh tổ quốc”, các ngày lễ lạc trong nước như 19/5, 2/9, và hàng chục lễ khác, chúng tôi đều được lệnh tập trung ở Phường hay đồn Công An vài ngày. Trong những ngày này, chúng tôi van Trời, vái Phật, cầu Chúa che chở đừng cho bên ngoài xảy ra chuyện gì. Giả dụ như có tiếng nổ, hay truyền đơn chống đối thì chắc chắn môt trăm phần trăm, chúng tôi sẽ được “trở về chốn cũ”. Cái chốn đến dễ,  khó về. Ở đó, chúng tôi sẽ vừa “đẵn tre, chém gỗ trên ngàn”, vừa gặm khoai mì, vừa ca bài ca “mút chỉ cà tha em ơi, đừng mong ngày trở lại”.

Bởi cái thần kinh quá yếu và cái sợ luôn đeo đẳng ám trong người nên khi chiếc xe Lambretta quành lại sát bên tôi, tôi đã hết hồn muốn són… trong quần đùi rồi.

- Thần khẩu lại hại xác phàm rồi! Linh ứng chi cái miệng để trúng ngay thằng cán bộ giữa đường! Tôi than thầm.

- Ông Thầy! Có phải Ông Thầy không?

Quái! Bây giờ là cuối năm 1981, tôi đã trở thành “mất dạy”, “bất lương”, “tháo giầy”, “dứt cháo” từ đời nảo, đời nao rồi mà ai còn nhớ  “vang bóng một thời” tôi đi dạy học để kêu tôi bằng hai tiếng “Ông Thầy”? Mà lại là thằng cán bộ CS nữa mới chết chớ. Thôi rồi con ơi! Tứ chi tôi bỗng rũn ra như cái bánh men gặp nước.

- Ông Thầy! Đúng là Ông Thầy rồi! Trời ơi sao mà thảm hại dữ dằn vậy Ông Thầy?

Tiếng người cỡi xe Lambretta lại vang lên.

Tôi nghiêng đầu, ngó xéo qua bên trái, nhận ra được khuôn mặt quen, nhớ lại giọng nói quen và cách gọi “Ông Thầy” rất riêng, rất lạ đời, và cả cái xe Lambretta cà khổ quen thuộc trước năm 1975.

Tôi mừng rỡ kêu lên, người bỗng dưng nhẹ nhõm, hân hoan: 

- Tô Phước Khanh! Anh Khanh!

Hóa ra là anh bạn Hải quân trong Hội Sao Biển, săn bắn cá dưới biển của chúng tôi ngày xưa, trước 75.

Hồi năm 70, tôi được biệt phái trở lại Bộ Giáo Dục, thuyên chuyển về Nha Trang, tôi làm Hiệu Trưởng một trường Tiểu Học do Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân xây tặng Ty Giáo Dục Khánh Hoà.

Thời gian dạy học ở đây, chúng tôi có cùng sở thích ham mê biển cả và săn bắn nên cùng nhau lập thành hội săn bắn. Cứ mỗi thứ bảy, chủ nhật là cùng nhau vui chơi trên sóng nước.

Hội viên toàn là dân Hải Quân, chỉ có tôi với anh Hưng, là thầy giáo. Anh Hưng dạy Pháp Văn trường Trung Học Võ Tánh.

Hồi ấy tôi mang lon Trung Úy Bộ Binh. Khi vào ra Trung Tâm Hải Quân để xin yểm trợ phương tiện xe cộ chở học sinh đi du ngoạn, hay xin quà phát thưởng cuối năm v.v… tôi phải mặc quân phục.

Mấy bạn học thời trung học năm 60- 62 của tôi bấy giờ đều mang cấp bậc Hải Quân Thiếu tá như anh Thân, anh Đơn, anh Thành, anh Dzinh… đang phục vụ trong Trung Tâm cả. Anh thì ở Khối Quân sự Vụ, anh thì ở Khối Huấn luyện. Tôi thường vào Khối Tâm Lý Chiến do anh Thân làm Trưởng khối mỗi khi trường có chuyện cần liên hệ. Sau anh ra ứng cử Nghị viên thành phố Nha Trang và đắc cử thì anh Đơn  thay thế phụ trách. 

Vì vậy mấy anh em trong “Hội Sao Biển” đều là Hạ Sĩ quan Huấn luyện, cũng có phần nể nang tôi đôi chút. Ai cũng kêu tôi bằng Thầy Hiệu Trưởng. Chỉ có anh Khanh kêu khác đời là “Ông Thầy”. Anh cũng có giọng cười đặc biệt. Anh cười khà khà cả tràng dài, làm mọi người phải cười theo.

Năm 75 tan hàng, anh đang mang lon Thượng sĩ.

Anh cứ trân trân nhìn vào mặt tôi, miệng thì há ra như cười mà lại không cười. Hồi lâu, anh lên tiếng:

- Mình xê vô trong lề rồi nói chuyện chút.

Tôi leo xuống khỏi yên xe, nằm rạp xuống đẩy chiếc ba gác vô lề. Chiếc xe chỉ nhúc nhích vì không có trớn lăn bánh. Anh Khanh lật đật dựng chiếc xe gắn máy, phụ tôi đẩy chiếc xe vô sát lề đường.

Sau khi lấy lại hơi thở tôi, tôi dè dặt hỏi:

- Anh vẫn còn làm việc trong Trung Tâm?

- Đâu có! Bọn nó chỉ lưu dung tôi ba năm dạy cơ khí sửa chửa tàu bè. Sau đó chúng cho tôi nghỉ. Giống như “Ông Thầy” cũng được lưu dung đi dạy vậy mà! Lâu nay tôi tưởng “Ông Thầy”  đi Mỹ rồi chớ!

- Cái đêm đó, Ông Trung Úy Toại Trưởng Phòng Tư có đến báo là dành cho gia đình tôi một chỗ trên tàu. Nhưng sáng hôm sau, nhìn cảnh hỗn loạn diễn ra trên bãi, trước Trung Tâm, giữa các binh chủng tan hàng từ khắp nơi đổ về chen lấn dành nhau lên tàu, đòi nổ súng bắn lẫn nhau và thấy xác chết từ chiếc xà lan ở Đà Nẵng trôi dạt vô Cầu Đá tôi sợ quá nên không đi. Sau đó chúng bắt tôi vô trại “cải tạo” và mới được thả về mấy tháng nay.

- Thấy Ông Thầy thê thảm quá! Không có công việc gì khá hơn sao mà phải đạp xe ba gác đổ xa bần?

- Nằm nhà ba bốn tháng nay. Xin việc đâu đâu cũng không ai cho. May mà có thằng bạn hồi xưa là Đại Úy, cũng ở tù về, Ba nó thầu sửa chửa mấy cái khách sạn dọc bờ biển nên nó xin dùm vô làm chung với nó. Hai thằng đâu biết gì về xây cất, nên Ba nó giao cho công việc dễ nhất là hốt và đổ xà bần.

- Lương khá không?

- Sáu đồng một ngày. Làm ngày nào trả tiền ngày đó!

- Trời! Sáu đồng? Anh làm sao sống với số tiền đó? Còn nuôi vợ nuôi con nữa chi?

- Thì bởi! Sáu đồng chỉ đủ ly cà phê buổi sáng và gói thuốc Hoa Mai thôi! Cơm nhà và con cái thì Má tôi nuôi. Vợ tôi thì có người khác nuôi. Khỏi lo.

- Trời! Thảm vậy sao? - Anh lại kêu trời. Nói chuyện có một lúc mà anh cứ kêu trời mấy lần. Lần này tôi không thấy anh cười.

Anh yên lặng ngẫm nghĩ hồi lâu rồi chậm rãi nói:

- Anh em gặp lại nhau trong hoàn cảnh này tôi không biết phải nói sao? Thôi! Hay là Ông Thầy xin nghỉ ở cái Công Ty Xây dựng này đi. Ra chỗ tụi tôi đang làm, tụi tôi cố giúp cho Ông Thầy có công việc khá hơn.

- Mấy anh đang làm công việc gì?

- Tụi tôi có cái Hợp Tác Xã đóng tàu ở Hòn Chồng tên là  Ngân Hà.

- Anh nói tụi tôi là gồm có ai vậy?

- Thì tôi, anh Duyệt, anh Xí!

- À! Bộ ba hồi xưa đó hả? Mà tôi đâu có tay nghề thợ mộc?

- Chớ còn ai vô đây nữa? Chuyện dài lắm. Bữa nào Ông Thầy ra tụi tôi chơi một bữa, nói chuyện nhiều, rồi tính sau. Thôi, tôi phải đi nghe. Nhớ nghen! Phải ra chơi với tụi tôi nghen.

Chiếc xe rồ máy toan phóng đi thì anh quay lại nói thêm:

- Hay là mai, anh cố ra với tụi này chơi đi! Được không?

- Ừ! Để tôi xin phép ông chủ đã!

Khi chiếc vù đi, tôi mới sực nhớ ra quên hỏi anh ta đang làm gì mà từ hướng Cầu Đá chạy lên. Nhà anh ta ở Xóm Bóng mà.

Trên đường từ khách sạn “Thống Nhất” (tên cũ là Nautique Club) nơi tôi đang hốt xà bần trong mấy căn phòng đang sửa chữa cho tới bãi hoang Bình Tân để đổ, xa hơn ba cây số, tôi vừa gò lưng đạp xe rất khó khăn với cái gió  ngược chiều  từ Cầu Đá thổi thốc về, vừa miên man nghĩ tới lời đề nghị của anh Khanh.

Lòng tôi có lúc vui rộn lên nhiều tin yêu hy vọng, lúc lại chùng xuống với nỗi âu lo vơ vẩn.

Sau mấy tháng nằm nhà cứ bị Công An khu vực quấy nhiễu, may có thằng bạn kiếm cho công việc để làm mới được chừng hai tháng, chưa ổn định. Nay thình lình bỏ đi, theo lời anh bạn, liệu mình có làm được công việc anh ta đang cần không. Không khéo lại thả mồi  bắt bóng.

Hiện tại, tuy công việc cực nhọc, nhưng cũng đỡ khổ. Đỡ khổ không phải vì sáu đồng lương một ngày. Đỡ khổ là nhờ thằng bạn biết mánh mung, cải thiện nơi đang làm. Ba nó giao cái kho chứa vật liệu cho nó cai quản. Chiều nào xong việc nó cũng rủ tôi vô kho sớt trộm vài ký sơn và vài ký xi măng đem ra chợ Đầm bán mắc, bán rẻ kiếm mươi đồng đủ cho hai thằng đi nhậu. Uống “bia lên cơn” và  thịt bò viên ở Hợp Tác Xã Ăn uống Vạn Thạnh. Đang sầu đời, buồn ngủ gặp chiếu manh, được thằng bạn tốt như thế, phải bỏ đi thì thiệt uổng. Nhưng không lẽ, suốt đời mình cứ theo thằng bạn làm cái chuyện mánh mung vặt vãnh ấy sao?

Nhưng sang cái chuyện “đóng tàu” thì mình lại bù trớt nghề thợ mộc. Không lẽ, mấy người bạn thương mình lại dành cho cái việc đi hốt rác, hốt dăm bào?

Tôi lại nhớ tới lời cha tôi hay phàn nàn chê trách tôi:

- Tao thiệt không hiểu nỗi! Cho mầy ăn học tới cái Tú Tài, đi dạy học thì làm tới chức Hiệu Trưởng, đi lính thì làm quan tới ông nọ, bà kia mà về tới nhà, đóng cho Má mầy cái đòn ngồi cũng không xong xịa!

Hồi đó tôi lý sự lại với ông:

- Cha cho con ăn học tới Tú Tài là để chỉ huy thiên hạ chớ đâu phải để đi đóng đòn ngồi cho Má?

Cha tôi cười khẩy:

- Đóng cái đòn không xong mà đòi đi chỉ huy thiên hạ! Chuyện lạ đời! Chỉ giỏi mỗi cái “chống nạnh quai nồi” nói bằng nước miếng! Chỉ tay năm ngón.

Hồi đó Má tôi chuyên bán cháo lòng và mì Quảng nuôi bầy con mười một đứa. Mỗi buổi chiều chừng hai giờ, mành sắp vô bến, thì bà đã nấu xong nồi cháo và thùng nước lèo cùng các thứ lỉnh kỉnh gia vị cho món mì. Bà gánh xuống tận đuôi Cồn, bán cho “nậu mành” và “rổi” đang chờ  mua cá. Cha tôi hì hục đóng cho bà bốn cái đòn cho khách ngồi ăn. Đa số khách hàng thường ngồi chồm hổm hay bệt luôn xuống cát biển. Đòn chỉ dành cho mấy bà bầu hay mấy ông ngồi gặm xương heo, xíu quách, nhậu với rượu đế tì tì từ giờ Tỵ tới giờ Dậu.

Mấy cái đòn ngồi do cha tôi đóng, nếu mắc vào gióng kèm bên cạnh hai nồi cháo và mì ở hai đầu đòn gánh thì Má tôi không tài nào gánh nỗi.

Những cái đòn ấy ông đóng bằng mấy miếng ván bìa lượm ở xưởng cưa ông Giáo. Một mặt thì phẳng, một mặt thì u nần theo vỏ ngoài cây súc. Cái nào cũng nặng hơn ba bốn ký lô. Một mình tôi chỉ ôm được hai nách hai cái. Con em tôi cũng nách hai cái đi theo, để giúp Má tôi. Chiều tới giờ về thì hai anh em cũng xuống đuôi Cồn để phụ nách về.

Có lần tôi cũng ráng thử đóng một cái để coi có tay nghề không. Cái cưa nó không chịu theo ý tôi, nó chỉ theo ý cha tôi. Dù tôi cố gắng mấy để giữ lưỡi cưa cho thẳng theo đường viết chì vạch sẵn, nó cũng cứ xéo qua một bên. Tôi trở qua phía bên kia, cưa ngược lại cho ăn khớp với nhau. Ai dè hai đường cưa cứ…đường anh anh đi, đường tôi tôi đi. Càng lại gần nhau, nó lại xa nhau ra, không chịu bắt tay hoà hợp, hòa giải dân tộc như hiện nay mấy anh trí thức, trí ngủ ở hải ngoại kêu gào. Cha tôi cứ chắp tay sau đít đứng nhìn và luôn miệng cười lạt.

- “Bá nghệ hảo tùy thân” con à! Cái gì cũng phải ráng học cho biết, sau này có lưu lạc đi đâu cũng kiếm được miếng cơm đút vô trong họng.

Đang bực mình, tôi gân cổ lên cãi:

- Cha nói sao khó nghe quá! Sách nói “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” cho nên mới có câu “bá nghệ bá tri vị chi là bá láp” chớ có ai nói như cha “bá nghệ hảo tùy thân” bao giờ đâu!

Giờ này thì tôi phải khẩu phục, tâm phục cha tôi. Quả nhiên trứng không khôn qua rận. Học tới Tú Tài, đóng không xong cái đòn ngồi mà đòi đi chỉ huy thiên hạ. Đó, bây gìờ thời buổi cách mạng rồi, cái bằng Tú Tài có làm ra bo bo hay mì khô, mì ướt gặm cho đỡ đói không? Mấy ông cách mạng ở trên núi, có cần gì học tới “ri me”, Tú Tài mà người ta cũng làm tới chức Tổng Bí thư, Thủ Tướng, Chủ Tịch nước đó.

Cha tôi vẫn còn có cái quan niệm “văn võ song toàn ” của mấy ông nho sĩ ngày xưa. Hễ có học chữ Thánh hiền thì việc gì cũng phải làm được. Ví như ông Nguyễn công Trứ. Kinh bang tế thế một tay lúc trên voi. Khi xuống chó thì làm tên lính gác cổng cũng xong.

Cha tôi lý giải chắc nịch y như cái hồi anh bạn Phát tôi bỏ học từ năm lớp Ba đi làm Sở Mỹ, có tiền xây nhà gạch to lớn trong xóm. Còn tôi, một miếng tole làm mái cho vợ con có chỗ che mưa, đụt nắng cũng không có. Tuy mang tiếng làm tới chức “Ông Hiệu Trưởng”.

Mấy tháng sau khi ở tù về, cậu Công An Khu vực làm nà quá, cứ lấy cớ tôi không có công ăn chuyện làm, hăm he đưa đi kinh tế mới, cha tôi khuyên tôi nên “rút” (mướn) một chiếc xích lô để đạp. Trước là tránh khỏi đi kinh tế mới. Sau là có thể kiếm gạo nuôi con. Nghe ông nói, tôi sợ thiếu điều muốn xỉu.

Đạp xích lô, ba gác thì bạn bè tôi hiện nay đang hành nghề nhiều lắm. Kể cả mấy anh bạn (không có nợ máu với nhân dân tức là hạ sĩ quan không “được” đi học tập như chúng tôi) còn đang được đi dạy. Ngoài giờ lên lớp ở trường ra, cũng phải đi đạp xích lô thêm nửa ngày mới đủ tiền nuôi gia đình. Cả mấy cô giáo của tôi ngày xưa cũng phải bán thêm xôi hay bánh kẹo trước cổng trường mới có thêm ít tiền nuôi con, trong lúc các ông chồng còn đang “học tập chưa tốt” tận ở ngoài Bắc hay trong Nam xa tít ngàn trùng.

Anh Tôn, Trung Úy, về một lượt với tôi, vợ và bốn con ở nhà xỏ xâu mành trúc đổi gạo Hợp tác Xã Mây tre lá Xuất khẩu. Anh đạp xích lô hàng ngày kiếm thêm tiền chợ mắm muối. Hôm tôi lang thang dưới biển, thấy anh nằm trên xích lô, dưới bóng mát lùm thông xén vuông vức, đang ngủ mê man, há họng ra ngáy khò khò.

Tôi chợt thấy chạnh lòng mà không khỏi tức cười khi nhìn anh ngủ. Anh vốn cao lòng khòng, cao cỡ thước bảy, mà cân nặng chưa đầy bốn mươi ký lô. Hồi trong tù thiếu ăn vậy mà đâu đến nỗi như bây giờ. Anh còn có thể chôm chỗ này trái cà, chỗ kia trái mướp hay đôi khi đánh bẫy được vài chú chuột núi, con nhen, con sóc để có thêm cái ăn. Bây giờ về thành phố đành chịu. Không lẽ đi ăn cắp vặt mà trong tù gọi là cải thiện.

Tôi đứng ngắm anh hồi lâu rồi lay anh dậy. Anh  hoảng hồn khi bị tôi đập lên vai anh mấy cái. Anh dụi mắt lia liạ, miệng há ra muốn kêu. Tôi biết anh đang ở trong trạng thái y như tôi khi thình lình có ai gọi to tiếng hay vỗ vai sau lưng. Chúng tôi như con chim trong lồng, con cá trên thớt, nên tâm trạng luôn luôn phập phồng không biết bị chém chặt, băm vằm lúc nào. Khi định thần nhìn ra là tôi chớ không phải Công An hay Cán bộ quản giáo anh toét miệng ra cười. Cái cười của anh móm xọm. Hai hàm răng thì nhe ra. Hai cái má thì tóp lại. Hai con mắt  trũng sâu làm cho hai lưỡng quyền nhô cao lên như hai quả núi khô. Thân hình anh  trơ ra bộ xương y như bộ xương khô. Tôi đùa:

- Chà! Coi bộ làm dân biểu cũng khoẻ quá hé! Giờ này mà vắt chân chữ ngũ, la siết một giấc dài với gió biển thì còn thua ông cọp có cái đuôi!

- Đâu có! Làm dân biểu thì phải lo cho dân chớ, đâu dám trễ nãi. Sáng nay có ông “đầy tớ dân” biểu chở hai con heo, mỗi con nặng hơn trăm rưỡi ký, từ Xóm Mới ra tới đèo Rù Rì để đơn vị ông làm thịt liên hoan nhân ngày đạt, vượt chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ. Đạp tới nơi, hụt hơi, oải quá nên bây giờ kiếm chỗ vắng vẻ “bồi dưỡng” một chút lấy sức. Không ngờ đánh tót một giấc lâu vậy.

- Anh đạp xe lâu chưa? Kiếm khá không?

- Mới mấy tháng nay thôi. Bây giờ người ta không có công việc gì làm nên đi đạp xe nhiều lắm. Mình tay mơ mới ra nghề không dành khách được. Cứ đạp xe lang thang dọc đường. Có ai kêu thì mới mong kiếm chút đỉnh. Cơ cực lắm. Anh ngó tui coi, giống dân biểu chưa?

Anh nói khôi hài cho vui mà cái miệng thì cười méo xẹo. Dẫu sao anh cũng nhanh nhẩu và bương chãi hơn tôi. Tôi vẫn còn vô tích sự chưa biết phải làm cái gì.

Một hôm, trời còn sáng tinh mơ, tôi đã lẩn quẩn ở chợ Đầm xem có ai thuê khiêng rau hay vác chuối gì không thì gặp anh Đài, Đại Úy, về trước tôi mấy tháng, đang cố đẩy chiếc xe ba gác từ ngoài vào trong  chợ. Mặt anh xanh mét vì mệt. Tôi vội chạy lại phụ anh một tay đẩy chiếc xe len lách qua hàng rau cải, trái cây để đến chỗ chủ vựa. Khi chất hết một lô buồng chuối, trái cây, hoa quả xuống xe xong, anh kéo tôi ra quán cá phê cóc ở góc chợ. Hai chúng tôi nhâm nhi ly cà phê đen bít tất, bập thuốc “bốc lăn xe”, mắt nhìn quang cảnh bán mua quanh chợ, trầm ngâm, không ai nói được lời nào. Có gì để nói với nhau? Cuộc sống khốn khó, cuộc đời khốn cùng đến nước này còn có cái gì để nói.

Gần cạn ly cà phê, anh Đài mới chậm rãi nói:

- Chắc anh tính vô nghề này hả? Tôi đuối sức rồi, định hết tháng này thì bỏ nghề, ở nhà nuôi gà công nghiệp. Anh có muốn vô thì để tôi giới thiệu với chủ xe để anh thuê, khỏi đóng tiền cọc.

- Thôi anh Đài ơi! Sức voi như anh mà còn thối lui thì tôi kham sao nỗi cái nghề này! Cám ơn anh đã có lòng.

Anh Đài này có bà mẹ vợ là người yêu xưa của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở Phan Thiết. Hồi còn ở trong tù, nghe anh kể chuyện ai cũng bán tín, bán nghi anh nói dóc nghe cho đỡ buồn. Nhà anh ở dưới dốc chân cầu Hà Ra. Hôm tình cờ đi lang thang tới đó, thấy anh đứng trước cửa, ghé vào chơi, anh chỉ một bà già đang ngồi ở ngoài sân, miệng móm mém nhai trầu:

- Bà nhạc tôi đó. Người yêu lý tưởng của Hàn Mặc Tử đó!

 Tò mò, tôi tới chào hỏi bà cụ vài câu xã giao cho đủ thời gian làm thân rồi ướm thử:

- Cháu đọc tiểu sử của ông Hàn Mặc Tử lúc làm công chức Bưu điện ở Phan Thiết có người yêu là Mộng Cầm có phải là bác đây không?

- Ừa! Thì tui đây chớ ai! Mà quen thôi chớ có yêu đương gì đâu!

- Thế những chuyện lãng mạn có đúng như người ta viết trong sách không bác?

- Mấy cái ông văn sĩ chỉ được cái tài có ít xít ra nhiều. Làm gì có thơ mộng lãng mạn như vậy. Còn bày đặt thêu dệt ra chuyện tình lâm ly ở Lầu Ông Hoàng. Tôi với ông ấy quen nhau sơ sơ thôi.

Tôi thiệt sự chưng hửng khi nghe bà cụ Mộng Cầm nói ra sự thật trần trụi đến độ thất vọng. Trí tưởng tượng và lãng mạn của tôi vẫn không chịu lui bước dù sự thật được nói ra từ cái miệng móm mém nhai trầu của Cô Mộng Cầm xinh đẹp ngày xưa.

Thời gian khá lâu sau đó, tôi trở lại thăm anh Đài. Giờ này anh đã có hai chuồng gà công nghiệp hơn cả hai trăm con, vừa gà thịt và gà đẻ. Bà mẹ vợ Mộng Cầm phụ với anh chăm sóc đàn gà. Vợ anh vẫn còn đi dạy học.

Tôi nhớ tới anh Tôn đạp xích lô và anh Đài đạp xe ba gác khi cha tôi khuyên tôi nên đạp xích lô bởi vì tôi liên tưởng tới ngay chị Ngọt ở xóm tôi. Chị Ngọt cũng giống như phần đông các cô gái khác trong xóm. Chị cũng làm nghề mua bán cá hàng ngày. Có điều đặc biệt là chị quá mập. Mấy anh đạp xe xích lô trong xóm đều sợ và né cô, đùn cho người khác chở nếu đến phiên mình. Không biết chị có lai Tây hay Mỹ gì không mà thân hình chị to bè ra bằng ba người thường. Hai cái mông chị ngồi không lọt vô lòng xe. Mỗi khi chị gánh gánh cá từ bến lên, người đạp xe tới phiên phải lật đật lấy một miếng ván bề ngang bằng hai gang tay, dày hai phân gát ngang hai tay vịn của xích lô cho chị ngồi lên rồi mới xếp hai rổ rổi cá nằm chồng lên nhau trước càng xe. Trong lúc đó phải nhờ người phụ níu cái phần yên xe phía sau xuống để xe khỏi chỏng gọng về đàng trước. Khi đạp xe cũng phải nhờ bạn đẩy dùm mấy cái để lấy trớn. Có hôm gặp phải  người phu xe quá ốm, cái đít xe cứ hỏng lên mặt đất, chiếc xe chúi về đàng trước muốn hất chị Ngọt xuống đất khiến chị la làng bài hãi. Nghĩ tới cái lúc cả khối thịt đồ sộ của chị ngã sóng soài từ trên “ghế ngồi hạng nhất” xuống tới đất thì không biết sự thể sẽ thê thảm đến chừng nào.

Danh từ “ghế ngồi hạng nhất” chỉ xuất hiện sau năm 75. Các cán bộ, bộ đội vào Nam đi xe xích lô hay kỳ kèo giá cả mắc rẻ. Để cho rẻ, họ thường rủ nhau từ ba đến năm người đi chung một chiếc rồi chia tiền với nhau ra trả. Người phu xe phải lấy ván gác ngang phần trên như chỗ chị Ngọt ngồi gọi là hạng nhất. Lòng xe là hạng nhì và ngồi dưới càng xe để đồ vật là hạng ba. Đa số cán bộ khi  đi một mình cứ đòi ngồi hạng ba cho rẻ.

Tôi cứ nghĩ đến cái thân hình ốm nhom, cà kheo của mình tới phiên chở chị Ngọt, không đun đẩy cho ai được là cứ muốn xỉu.

Vì vậy cha tôi dù có khuyên đôi lần ba lượt nên học lấy cái nghề đạp xe xích lô, tôi cũng tìm cách lãng tránh. Hơn nữa làm cái nghề “dân biểu” cũng lắm nỗi nhục nhằn như anh Tôn từng đớn đau tâm sự. Chúng thị có tiền ngồi vắt vẻo trên xe, chúng có quyền nạt nộ, ì xèo chê bai đạp lâu, đạp yếu. Gặp lúc xe lên dốc giữa cái nắng hừng hực giữa trưa, mồ hôi túa ra ràn rụa trên mặt, cay xè hai con mắt không thấy đường, chân đạp quờ quạng, khách trên xe quát lên:

- Bộ đui hả? Bộ muốn giết người ta hả? Sao lái xe mà cứ đâm bên này qua bên kia vậy hả?

May quá, cuối cùng thì nhờ thằng bạn dẫn đường đi làm Công Ty Xây Dựng. Nhưng thực ra chỉ đạp xe ba gác chở xà bần đi đổ chớ có biết xây hồ, dựng gạch gì đâu! Được cái, đạp xe ba gác chở xà bần không ai quát mắng la rầy. Cứ nhẩn nha đổ hết xe này đến xe khác. Chỉ mất sức chứ không mất danh dự. Tiền lãnh tuy ít nhưng lòng tự ái còn nguyên, không bị sứt mẻ.

Đổ xong xe xà bần, trên đường về lại chỗ cũ, xuôi gió chiều, tôi đạp xe nhẹ nhàng hơn. Lòng tôi cũng cảm thấy nhẹ nhàng. Lâng lâng với ý nghĩ mình sẽ gặp lại bạn xưa, sẽ làm nghề đóng tàu thuyền, sẽ cùng nhau có lại những ngày tháng êm đêm vui đùa trên sóng nước.

Nhờ vui trong ý nghĩ và cũng nhờ thuận gió, chẳng bao lâu tôi đã trở lại chỗ làm. Tôi đem dự định trên bàn với thằng bạn và hỏi ý kiến nó có nên không. Không ngờ mọi chuyện đều tốt đẹp hơn điều tôi lo lắng. Nó bảo tôi cứ đi, nếu công việc tốt hơn thì ở đó làm. Nếu tệ hơn thì cứ trở lại. Công việc của ba nó  dù có thêm một người hay bớt một người cũng không  ảnh hưởng gì.

Ngay ngày hôm sau, tôi đạp xe đạp ra Bãi Dương Hòn Chồng lòng khấp khởi hy vọng. Chưa tới bảy giờ, chân trời còn ửng hồng ở dưới nước. Phút chốc, mặt trời ló lên như cái dĩa lửa  rồi thoáng chốc sáng rực rỡ.

Công nhân đang đến làm việc, lác đác từng nhóm ba người, năm người ai nấy đều mang theo đồ nghề và cơm nước ăn trưa. Tôi mon men lại gần chiếc tàu đang đóng dở dang nằm trên dàn giáo gần sát mé nước để xem cách thức làm việc ra sao.

Chiếc tàu to lắm. Mấy cái ghe mành đánh cá ở xóm tôi chỉ bằng chừng một phần năm nó thôi. Chiều dài nó tôi ước lượng có thể tới hai mươi mét, bề ngang phải bảy mét và  chiều cao có tới bốn  mét là ít.

Người ta bắt đầu làm việc. Ai nấy đều rộn ràng, đi đi lại lại, kẻ cưa, người đục. Tiếng búa gõ chan chát. Tiếng máy cưa cưa gỗ kêu ầm ĩ. Quang cảnh thật nhộn nhịp, vui mắt. Tôi đứng xớ rớ hết nhìn chỗ này lại nhìn chỗ khác, lòng cảm thấy vui lây với cái không khí  hăm hở, rộn ràng.

Đây mới thiệt là “lao động vinh quang”. Tôi nghĩ thầm trong bụng.

Tôi ngóng nhìn về cổng ra vào, văn phòng vẫn còn đóng cửa. Văn phòng là một ngôi nhà tranh, vách cặp bằng cót. Cửa ra vào và hai cửa sổ hai bên thì làm bằng ván. Sát trên ngạch cửa chính có treo tấm bảng kẻ hàng chữ đỏ: Hợp tác Xã đóng tàu thuyền Ngân Hà.

Đúng tám giờ, hai chiếc xe Honda và chiếc Lambretta chạy vào một lượt. Tôi nhận ra ngay hai người cỡi Honda là anh Duyệt và anh Xí. Còn anh Khanh thì đã gặp hôm qua.

Tôi rụt rè bước tới nửa muốn đưa tay chào thân mật như trước, nửa lại không dám đường đột. Bây giờ ai nấy đều chững chạc bề thế trong bộ đồ ủi thẳng nếp, áo bỏ trong quần, tay ôm cặp táp, chân đi giầy da, trong lúc tôi chỉ phong phanh cái quần kaki sờn rách màu cứt ngựa tối tăm với cái áo sơ mi vàng, bạc thếch gần thành màu trắng. Chiếc xe đạp mini cũ mèm, cô em gái tôi vượt biên từ năm 1978 để lại, cha tôi treo lên gác chuồng heo, mãi cho đến lúc tôi về mới được tháo xuống xử dụng lại, đang dựng ở chái hiên văn phòng trông thật  choen hoẻn và tội nghiệp.

Nhưng thật bất ngờ, trái với sự tự ti mặc cảm của tôi, khi nhìn thấy tôi, ba người bạn cũ dựng xe xong, ùa đến bên tôi mừng rỡ. Họ ôm lấy tôi siết chặt. Lần này tiếng cười khà khà, khành khạch của anh Khanh mới nghe vang lên rộn rã. Và tiếng anh Duyệt, anh Xí cũng vang lên ấm áp:

- Ông Hiệu Trưởng! Trời ơi! Ông Hiệu Trưởng!

Cả ba kẻ kéo, người đẩy, lôi tôi vào văn phòng. Hình như mắt tôi đang long lanh ngấn nước vì cảm động. Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời.

Mọi người tíu tít hỏi tôi chuyện xưa cũ, chuyện tù tội, chuyện hiện tại, tương lai rất náo nhiệt vui nhộn. Tôi không kịp trả lời câu này thì vội quay qua câu khác. Hình như chúng tôi chỉ muốn nói cho hả bao nhiêu điều  chất chứa trong lòng chứ cái chuyện khổ ải khốn nạn từ cái ngày được gọi là “giải phóng” đến nay ai ai cũng giống nhau, tuy mỗi người một cách, khỏi cần hỏi, khỏi cần nói ai cũng biết.

Đang vui vẻ rôm rả chuyện trò, bỗng tôi khựng lại giống như bị cúp điện thình lình, vì nhác thấy một cán bộ nón cối, dép râu, vai xắc cốt, đang lừng lững tiến vào. Tôi nhổm đít đứng dậy và toan thối lui ra cửa kiếm đường “tẩu”. Tôi rất dị ứng và rất rét khi nhìn thấy cái nón cối và xắc cốt. Anh Khanh lật đật nắm tay tôi lôi lại và  cười khà khà trấn an:

- Đừng sợ! Khà khà! Đừng sợ Ông Thầy! Đây là Bác Mai! Cán bộ hưu trí Phường. Bây giờ Bác đang làm Cố Vấn cho Hợp Tác Xã mình.

Rồi anh quay qua giới thiệu tôi với ông cán bộ:

- Đây là anh Tùy! Thầy giáo hồi xưa quen với anh em tôi. Anh ấy mới đi cải tạo về. Tôi muốn giúp anh vào làm trong HTX mình bác Mai à!

Cán bộ Mai đưa mắt nhìn tôi từ đầu xuống chân rồi từ chân lên đầu y như nhìn con heo hay con chó sắp được mua bán trao đổi. Một lúc sau, ông chép chép miệng, nói lầu bầu trong họng nhưng vẫn nghe rõ:

- Chà! Cải tạo mới về! Gay đấy!

Nói xong, ông đi về phía góc chiếc bàn có để cái điếu cầy và cái đèn hột vịt đang cháy leo lét ngọn lửa nhỏ như hạt đậu phộng. Ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu, chậm rãi lấy bình thủy rót ra một ly nước trà, có lẽ còn lại từ hôm qua, ngụm một ngụm nhỏ, súc ọc ọc trong miệng mấy cái rồi ngửa cổ nuốt ực. Ông lại thong thả, mở nắp hộp thiếc trên bàn, véo ra một viên thuốc lào, nhét vào cái nỏ điếu cầy, ngón tay trỏ gõ nhè nhẹ trên miệng nỏ để ém thuốc xuống cho chặc. Đoạn từ tốn rút một que đóm giắt bên phên vách cho vào ngọn đèn dầu châm lửa. Tay trái ông nâng cái điếu cầy lên miệng, tay phải châm que đóm vào nỏ, miệng bập bập mấy cái cho lửa bén vào thuốc rồi rít một hơi dài, hai má hóp lại tạo thành hai cái lõm sâu hoắm. Tiếng nước trong điếu cầy long lên kêu réc réc như tiếng còi của công an giao thông thổi bắt xe chạy ngoài đường. Đặt cái điếu xuống bàn, ông chiêu thêm một ngụm trà nữa, rồi dựa lưng ra ghế, mặt ngữa lên mái nhà,  họng hả ra cho khói thuốc bay ra chầm chậm.

Ông tơ lơ mơ sảng khoái một lúc với điếu thuốc lào đầu tiên trong ngày. Ông làm công việc này hết sức chậm rãi, khoan thai, bài bản, không một chút hấp tấp hay vội vàng. Đoạn ông với tay lấy cái xắc cốt, mở ra, rút tờ báo Nhân Dân xếp tư trong đó, cầm trong tay và đứng dậy nói:

- Thôi các đồng chí cứ trao đổi với nhau đi nhé! Tôi phải ra sinh hoạt với các đồng chí công nhân đầu giờ đây!

Từ lúc ông Mai ngồi vào bàn cho đến lúc ông bước ra khỏi văn phòng, bốn chúng tôi đều yên lặng chăm chú nhìn ông như đang xem một nhân vật đang diễn tuồng  trên sân khấu đầy kịch tính.

Khi ông đi khỏi hẳn văn phòng, tiếng cười khành khạch của anh Khanh nỗi lên, phá tan bầu không khí đông cứng. Tiếng anh Xí vang lên:

- Vậy là xong một ngày công tác!

Anh Duyệt tiếp theo, giọng khôi hài, chế diễu:

- Chưa đâu! Còn phải xuống Phường họp để đánh cờ tướng nữa chớ! Chưa về nhà đâu!

Thấy tôi cứ ngơ ngác, anh Khanh giải thích:

- Lão Mai này là cán bộ về hưu, Phường đưa xuống bắt chúng tôi phải tiếp nạp làm cố vấn. Cố vấn cái con mẹ gì! Không biết cái khỉ khô gì về chuyên môn hết. Chỉ giỏi cái miệng nói dóc chủ trương với đường lối. Tụi tôi phải bấm bụng trả lương mướn lão làm bình phong để lão đi họp thế cho đỡ mất thì giờ thôi.

- Thế công việc hàng ngày ông cán bộ này làm cái gì? Tôi hỏi.

Anh Xí cười khẩy nửa miệng:

- Đó! Anh thấy đó! Hút thuốc lào, uống trà! Bây giờ ra bãi bắt anh em thợ ngồi nghe lão đọc Xã luận báo Nhân Dân. Xong, vô đội nón cối lên đầu nói là ra Phường họp. Ngày nào cũng y như vậy.

- Trong văn phòng, ông ta làm gì?

- Làm gì? Dốt bỏ mẹ! Nhìn cái họa đồ cũng không biết thì biết làm cái gì? Anh Khanh lại trề môi ra mỉa mai.

- Ấy! Anh Khanh lại quên ổng còn công tác hàng tuần rất quan trọng là họp anh em mình để phê và tự phê rồi sao? Anh Duyệt đốc thêm vô cũng với giọng bỡn cợt.

Đúng y như lời ba anh bạn nói, chốc sau ông Mai vào lại văn phòng, rút khăn tay ra lau trán, ra vẻ mệt, miệng than:

- Bài xã luận bữa nay dài quá, nhưng đang nói về văn kiện Đại hội Đảng quan trọng lắm, nên tôi phải ráng đọc hết cho các đồng chí ấy đả thông tư tưởng, tiếp thu và quán triệt tốt. Tôi để lại tờ báo đây, lát nữa các đồng chí có rỗi thì cùng nhau nghiên cứu nhé.

- Vâng! Bác cứ để đấy. Anh em tôi giải quyết xong công việc Hợp tác xã rồi nghiên cứu. Anh Khanh mau mắn đáp.

- Tốt! Thế thì tốt! Các đồng chí cứ làm việc nhé. Tôi phải xuống Phường đây. Chà! Hôm nay có cái họp quan trọng đấy. Hình như đồng chí chủ tịch Phường đang phát động phong trào gì đấy !

Trước khi thực sự ra khỏi văn phòng, ông lại diễn thêm một lần nữa với cái điếu cầy và bình thủy nước trà nguội hôm qua, y như hồi nãy không xê  xịch một động tác nào.

Khi chiếc xe đạp hiệu Thống Nhất của ông Mai vừa khuất khỏi cánh cổng HTX, anh Xí  lên tiếng gọi ông  Hai bảo vệ từ nhà kho lên nấu nước pha trà mới đãi khách. Ông Hai vừa bước vào, vừa cười cười:

- Lão Mai lại uống nước trà ôi hôm qua chắc?

- Còn phải hỏi! Tội Bác Hai to lắm nhé. Hôm nào Bác cũng để ông cố vấn uống nước trà thiu!

- Ấy cũng còn may đấy ông Xí ạ. Giá mà được, tôi còn cho lão uống nước đái ngựa nữa cơ.

Ông  Hai, lao công, gác kho HTX là dân Bắc di cư. Con trai ông cũng bị đi cải tạo ở Suối Máu hơn mấy năm. Khi được tha về, bị Phuờng đẩy cả gia đình vợ con đi kinh tế mới để lại thằng con trai mới tám tuổi cho ông nuôi ăn học. Ông Hai xin được chân bảo vệ cho HTX và che cái mái tranh bên cạnh nhà kho để ở. Ông Hai cay cú với chế độ nên ghét lây ông Mai.

Từ lúc đến cho tới lúc đi, cán bộ Mai chỉ nói bâng quơ về tôi có mỗi câu:  “Chà! Mới cải tạo về! Gay đấy!”, rồi hình như trong mắt ông không có thằng tôi đang đứng lù lù ở đó. Lúc quay lưng đi ông chào mọi người chỉ trừ tôi. Tôi thì dửng dưng, bởi ông ta chưa có liên hệ gì với tôi để tôi phải lưu tâm.

Bình trà mới được ông Hai mang lên. Trà ướp lài thơm ngát. Bốn chúng tôi hàn huyên chuyện xưa một cách vui vẻ. Sau khi cơn mừng vui tái ngộ lắng xuống, cả ba anh Khanh, Duyệt và Xí mới trở lại vấn đề kiếm việc giúp cho tôi.

Anh Khanh mở lời trước:

- Thú thật với anh (bây giờ anh không gọi tôi bằng Ông Thầy nữa để cho thân mật) HTX tụi tôi cũng như HTX Song Thủy sau Tháp Bà đều bế tắc trong công việc làm ăn. Mấy chiếc tàu của tụi tôi và của Song Thuỷ vừa đóng xong là chủ tàu họ dùng để vượt biên hết nên chính quyền Tỉnh ra lệnh cấm đóng thêm tàu nữa. Chiếc tàu đang đóng dở dang cứ nằm ì đó mấy tháng nay, thợ cứ làm cầm chừng chờ chủ chi thêm tiền. Hơn nửa năm nay không có thêm cái hợp đồng nào nữa, tụi tôi đang lo có phải đến lúc giải tán HTX không.

Nghe anh Khanh bày tỏ, bao nhiêu niềm hy vọng của tôi từ lúc đạp xe ra đến đây cho tới lúc này đều tiêu tan. Tôi cảm thấy hụt hẫng dưới chân, nhưng cũng cố gượng một chút vớt vát, tôi hỏi lại:

- Tình thế bi đát như vậy, trong lúc các anh không tự cứu được mình thì đèo tôi thêm vào làm chi cho nặng gánh? Lại bắt các anh phải thêm lo nghĩ!

- Ố không lo gì! Trời sinh voi sinh cỏ mà! – Anh Khánh ngắt lời tôi.- Hôm qua gặp anh,…dù… tôi về kể lại cho anh em nghe,…dù… thì anh Duyệt đột nhiên nghĩ ra một nghề mới mà nghề này lại rất cần có anh cộng tác mới thành. Thiệt là cái duyên, trời xui đất khiến. Nè! Anh Duyệt nói rõ kế hoạch cho ảnh nghe đi.

Trong lúc anh Khanh phấn khởi nói với cái giọng hơi cà lăm… dù…dù… (Anh có tật khi nói nhanh thì thành cà lăm ưa đệm thêm vào câu nói rồi…rồi… thành dù… dù… rất buồn cười) thì anh Xí với anh Duyệt cứ ngồi im mĩm cười.

Anh Duyệt thong thả gõ gõ đầu đót điếu thuốc Jet xuống bàn mấy cái rồi đưa lên ngậm giữa hai hàm răng. Hàm dưới anh đưa qua đưa lại làm cho điếu thuốc cứ lăn giữa hai cái môi  từ trái qua phải mấy lần. Tôi cứ tưởng tượng ra giống hàm con trâu đang nhai lại cỏ ựa lên từ bao tử. Anh với lấy cái bật lửa Zippo, ngón tay cái bật nắp quẹt nghe lanh canh vài lần rồi mới quẹt bánh xe cho đá lửa xẹt ra bắt hơi xăng trong tim quẹt cháy thành ngọn xanh vàng. Anh chưa đốt hẳn vào điếu thuốc trên môi. Anh giơ bao thuốc về hướng tôi. Mời. Chà! Lâu nay cứ Hoa Mai mãi, bây giờ có bao Jet trắng tinh sang trọng đang giơ tay chào đón. Tôi bước ba bước tới nhón một điếu cắm vào môi, cứ sợ chậm một chút thì người ta đổi ý, uổng mất. Bao thuốc Jet giá bằng tiền công tôi đạp xe ba gác ba ngày chứ ít ỏi gì.

Anh Duyệt đưa lửa đốt cho tôi trước rồi mới tới anh. Thơm, ngon thật. Tôi muốn nuốt luôn khói vô bụng. Nhưng nó cứ từ từ chun ra hai lổ mũi tôi như hai con sâu trắng đang bò.

Rít chừng một phần ba điếu thuốc, ý chừng cho cho tôi thấm với sự nôn nóng chờ đợi nghe, biết cái kế hoạch “Trời sinh voi sinh cỏ”, anh Duyệt mới thủng thẳng nói:

- Cái kế hoạch đã có từ năm ngoái rồi, nhưng hồi ấy HTX chưa có người làm. Tụi Ba Tàu ở Chợ Lớn cho người ra gặp tụi này xin ký hợp đồng thu mua, tụi này chỉ xuống cho Ty Hải Sản làm. Ty Hải Sản cũng không có người, mới thuê lại bên Hải Quân. Cái đám Hải Quân cũng không làm được nên kế hoạch kinh tế cứ treo ở đó. Bây giờ, có anh rồi, đột nhiên tụi tôi nghĩ sẽ làm được và sẽ thành công. Nhất là anh sẽ có công việc làm ổn định và thu nhập cao. Mà mùa này, tháng này lại đúng lúc kịp thời vụ nữa mới ngon ăn.

Anh Duyệt vừa rít thuốc liên tu, vừa nói liên tu một hồi, tôi cố chăm chú nghe nhưng vẫn chưa hiểu cái kế hoạch kinh tế anh đang nói là cái gì. Anh ngưng lại mồi điếu thuốc khác, tôi cũng nhân cơ hội ngàn năm một thuở, xìa tới nhón thêm điếu nữa. Anh Duyệt có vẻ hào sảng, gõ gõ bao thuốc vào cạnh bàn tay trái cho thuốc ở trong chạy ra thêm hai điếu nữa, nhưng tôi lịch sự đưa hai ngón tay gắp một điếu và gật đầu tỏ ý cám ơn, đủ rồi, mặc dầu trong bụng cũng muốn làm thêm một điếu giắt lỗ tai nữa.

Anh tiếp tục nói:

- Cái kế hoạch đó là “Rong mơ”. Anh còn nhớ cái đám rong mơ quấn chân vịt tàu không?

- À! Nhớ chứ! Cái thứ thiên địa ngàn trùng mọc đầy biển làm cho ghe  tàu mình không vô bờ được đó mà!

- Phải! Cái thứ đó bây giờ là tiền không đó anh!

- Tiền? Làm sao ra tiền?

- Tụi Ba Tàu yêu cầu mình đi vớt về bán cho họ để họ chế biến thành ra cái chất hóa học có tên là Agha không biết để làm cái gì.

- Vậy các anh định làm sao? Tôi giúp được gì cho các anh?

- Kế hoạch đi vớt rong ra sao anh Khanh sẽ nói rõ với anh sau. Bây giờ , tụi này mời anh đi ăn sáng, uống cà phê rồi bàn tính.

Tôi ngồi sau xe Honda anh Duyệt.  Ba chiếc xe chạy ngược đường ra hướng Đồng Đế, ghé vào một quán bán điểm tâm. Ăn sáng xong, chạy ra một đỗi nữa, có một quán cà phê rất lý tưởng. Yên tĩnh để tha hồ nói chuyện. Quán nằm sâu trong vườn cây ăn trái. Những chiếc bàn con con được đặt dưới những gốc cây xoài, cây nhãn tàn lá xum xuê rợp bóng mát.  Ý nghĩ trong đầu tôi bỗng buột thành tiếng:

- Chà! Ban đêm dẫn em ra chỗ này dưới ánh đèn mờ thì hết ý!

- Còn phải nói! Anh Duyệt là tổ sư chuyên viên khám phá mấy địa điểm lý tưởng này mà! - Anh Xí chêm vô.

Buổi sáng còn sớm nên quán vắng. Chúng tôi kêu bốn ly cà phê phin. Cà phê nhỏ giọt chậm chạp xuống đáy tách từng giọt, từng giọt, đủ để cho chúng tôi có thì giờ phát họa kế hoạch cho những ngày sắp tới.

 Theo kế hoạch thì tôi sẽ chịu trách nhiệm khảo sát trữ lượng rong mơ dọc theo bờ biển từ Cam Ranh cho tới đèo cả Đại Lãnh. Ra xa tận các đảo có ngư dân ở như Trí Nguyên, Bãi Trũ, Hòn Tre, Bích Đầm…

Anh Xí sẽ chịu trách nhiệm giao dịch buôn bán với thương gia Chợ Lớn. Anh Duyệt lo chạy giấy tờ hợp lệ để thu mua và vận chuyển.

Anh Khanh lo phần chuyên môn dưới nước nghĩa là chạy vạy đi mượn Hải Học viện một số hải đồ trong vùng vịnh Khánh Hòa nơi nào có bãi san hô mọc đưa cho tôi mang đi khảo sát.

Trong vòng hai tiếng đồng hồ chúng tôi đã vạch xong kế hoạch.

Cái điều làm cho tôi vui và an tâm nhất là anh em hứa sẽ trả lương cho tôi sáu trăm đồng/tháng (600$) và phấn khởi hơn nữa sẽ… cố gắng kiếm cho tôi một chiếc xe Honda thay cho cái xe đạp trành hiện nay. Tiền mua xe anh em ứng trước, tôi trả góp sau.

Chao ôi! Đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Quả thiệt Ông Trời có mắt! “Còn trời còn đất, còn non nước, Có lẽ ta đâu mãi thế này!”. Ừ nhỉ! Ông Nguyễn Công Trứ luôn luôn lạc quan yêu đời đâu phải là không có lý? Trên đường về lòng tôi cứ xôn xao bao niềm vui.

Đang lúc tưởng chừng như muốn quẩn trí vì cuộc sống vây hãm từ trong gia đình ra đến xã hội. Con đường tương lai trước mặt sâu hun hút, đen ngòm thăm thẵm, không lối thoát. Ngày ngày chân đạp chiếc xe ba gác mà đầu óc cứ mông lung. Có lúc muốn đâm vào xe vận tải cho xong nợ đời.

Bỗng dưng trời quang mây đãng cuộc đời. Ánh sáng chói chang trước mặt.

Bơi lội dưới nước là nghề chơi của chúng tôi mà. Cái nghề vừa làm vừa chơi lại có tiền thì còn gì thích thú cho bằng. Tôi lại hình dung ra mấy dụng cụ săn bắn cất dấu mấy năm nay liệu có còn tốt không? Cây súng bắn cá thì không lo. Chỉ lo dàn giây thun và cái tên thép có còn không?

Tôi nhớ lại cái ngày, đồn Công An ở ngã ba Bình Tân nhốt tôi một ngày một đêm vì tội oa trữ súng bắn cá trong nhà. Sau đó chúng bắt tôi đem giao nộp. Tôi chỉ đem nộp cây súng trẻ con chơi, còn cây thực thụ để đi săn, tôi tháo ra từng mảnh đem về nhà cha mẹ tôi cất dấu. Tôi cũng nhớ lại cái cảnh, sau khi tôi giao cây súng, sáu cậu nhóc Công An dành nhau bắn tên vô tấm gỗ dựng ở chân tường, và reo hò thích thú lắm mỗi khi mũi tên nhỏ bằng hai chiếc đũa con cắm vào gỗ. Các cậu mải mê nghịch với nhau, quên luôn cả tôi đứng xớ rớ ở đó. Một lúc sau, tôi lặng lẽ ra về mà chẳng ai  buồn nhớ đến tôi.

May quá cây súng hiệu Voit, bá làm bằng Aluminium và bộ phận cò bằng I-Nốc vẫn còn tốt. Chỉ có thân súng làm bằng nhôm lâu ngày không lau chùi, bị nước mặn ăn lủng mọt mấy chỗ. Không hề gì. Lấy sơn đặc trét vào là xong ngay. Dàn thun cao su đã bị chảy ra không dùng được. Tôi  dùng vòng thun trẻ con chơi kết lại với nhau như giây neo bắn tạm cũng được.

Thế là xong. Tôi nao nức chờ kết quả tốt. Thời gian này tôi vẫn đạp xe ba gác. Hôm nào không có xà bần thì đi sơn trần nhà. Sơn trần nhà, công việc tưởng nhẹ nhàng và ở trong mát khoẻ. Nào ngờ cuối ngày, cái cổ tôi ngoẹo hẵn một bên như người bị trúng phong vì cứ nghiêng đầu một bên để vói tay lên trần. Cánh tay mỏi nhừ, cần cổ rút gân thành ra ngồi nhậu không ngon lành gì hết. Anh bạn Khôi cứ ngắm cái hình hài tôi mà thắc cười mãi.

Trong thời gian chúng tôi làm cu li ở khách sạn Thống Nhất này cũng có một chuyện hơi vui vui. Số là trưa hôm đó, tôi với anh Khôi ăn cơm xong, khát nước, vào phòng tiếp tân xin ly nước lạnh uống. Cô tiếp viên đã những không cho còn quát nạt xua chúng tôi đi ra vì sợ trây bẩn ra phòng khách vì thấy chúng tôi ăn mặc lam lũ.

Chúng tôi lủi thủi đi ra, vừa buồn mà vừa cười. Chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh:

  Trông mặt mà bắt hình dong,

Con lợn có béo bộ lòng mới ngon.

Anh bạn Khôi tôi vừa chưởi thề vừa lôi tôi ra quầy Cafeteria của khách sạn:

- Đù má! Mấy con bồi phòng phách lối! Mầy đi theo tao! Bữa nay tao đãi mày chanh “rum”, hút thuốc Jet cho nó biết mặt.

- Cần gì thể diện mà mày phải xài sang hết cả tuần lễ lương vậy!

- Kệ mẹ nó! Thái độ con chó đó làm tao nóng máu quá.

Anh ta và tôi ra ngồi ngay giữa quầy cà phê. Buổi trưa vắng khách. Hai thằng tôi ngồi tréo mảy, gác chân lên mặt bàn. Khôi búng tay đánh tách một tiếng, kêu to:

- Cho hai ly chanh rum và sáu điếu Jet!

Mấy phút sau, người bưng mâm ra lại chính là cái cô lúc nãy quát nạt chúng tôi. Cô ngỡ ngàng nhìn sững chúng tôi. Khôi trả đủa:

- Nhìn cái gì? Cô sợ chúng tôi không có tiền hả? Bao nhiêu tính đi!

Vừa nói, Khôi vừa nhổm đít qua một bên, đưa tay ra sau móc bóp. Chiếc bóp đen, mập mạp chứa nhiều tờ 10$ bên trong. Khôi móc ra 4 tờ để lên mâm, gằn giọng:

- Đủ chưa?

Cô gái lí nhí trong miệng:

- Cám ơn ông! Dư rồi!

Khôi bồi thêm cú chót:

- Buộc boa cho cô! Khỏi thối!

Tôi mở to hai mắt, nhìn thằng bạn một cách ngạc nhiên. Bỗng nhiên hôm nay sao nó ngon lành quá. Chơi bảnh thiệt. Tôi cũng hả dạ lây. Thú thiệt, lúc nãy bị cái cô bồi phòng khinh dễ, mặc dầu tôi tự nhủ thầm trong bụng, tự an ủi:

Rồng kẹt ao tù tôm giỡn mặt,

Cọp xuống đồng bằng chó dễ ngươi.

Nhưng lòng không khỏi buồn rầu ngao ngán cho cuộc đổi đời. 

Anh bạn Khôi tôi có cái hàm răng hô giống bàn nạo dừa mỗi khi nhe răng ra cười lại càng buồn cười. Khi “chơi” cô gái bồi phòng trong phòng tiếp tân “được một vố”  xong, anh ta cứ nhe cái bàn nạo dừa ra cười mãi không thôi. Nói cho công tâm, có trời chứng giám, so cái mã bên ngoài lúc còn trung học tôi đẹp trai hơn anh ta nhiều. Mắt tôi sáng hơn anh ta nhé, trong lúc anh ta phải đeo kính cận năm đi ốp dày cui, xanh lè nè. Hàm răng  của tôi đều và đẹp không thua gì hàm răng của cô Kim Vui quảng cáo trên kem đánh răng Leyna, kem trắng chỉ hồng. Chỉ kẹt mỗi cái răng giữa bị sún thôi. Nếu không, cô Kim Vui sức mấy được người ta thuê chụp hình in quảng cáo.Trong lúc anh bạn Khôi tôi thì sở hửu “một mái hiên tây” có thể cho một tiểu đội núp mưa dư sức.

Vậy mà năm 1963 tôi bị thua anh ta một trận tơi bời hoa lá trên “tình trường”. Số là, năm ấy tôi mới học Sư Phạm năm thứ nhất ở Qui Nhơn, cứ tưởng mình ngon lắm. Ỷ y rằng về nhà quê, quê ngoại tôi ở Thành, cứ liếc mắt với cô nào thì dính cô ấy. Nào ngờ, một hôm, tôi đang tán một cô hàng xóm xinh đẹp, cô cười nói với tôi vui vẻ như hoa mùa xuân. Tôi  chắc nẩm em mết mình rồi, cứ rung đùi:

“Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không?”

Bèn thả dê… mời em đi dạo một vòng ra chốn hương đồng gió nội để… hái hoa bắt bướm và tâm tình. Em e lệ từ chối vì hôm nay mắc bận(?) hẹn sẽ có dịp khác.

Và tôi cứ đinh ninh trong bụng rằng:

“Tình trong như đã mặt ngoài còn e!”

Đâu ngờ rằng, chỉ  mấy phút sau, một chiếc xe Jeep chạy vào đậu xịch trước sân, một ông quan mang lon Trung Úy, hia mão đình huỳnh, oai vệ bước xuống xe và em hớn hở cũng “y như hoa mùa xuân” lúc nãy, chạy ra đón. Tưởng ai, hóa ra thằng Khôi, thằng chủ nhà máy nạo dừa của tôi!

So sánh lực lượng tương quan đôi bên giữa tôi và thằng bạn, tôi yếu thế trông thấy rõ. Cái xe đạp cũ mèm của tôi dựng bên vách nhà so với cái xe Jeep của nó thấy phát rầu. Còn cái mã ngoài lại còn tệ hại hơn nữa. Nó mặc quân phục, hai cái bông mai vàng sáng choé trên ve áo, làm cho nó trông oai phong lẫm liệt biết chừng nào. Cái hàm răng hô của nó giờ đây bị che khuất mất. Ánh mắt của em gái “chân quê” cứ dính chặc vào hai cái hoa mai vàng trên ve áo đâu có thì giờ ngắm lại dung nhan tôi trong bộ đồ “xi vin” cũ mèm từ cái năm học Đệ Nhất đến nay.

Hóa ra năm 1960, ông Khôi nhà tôi thi rớt Tú Tài I, ông buồn tình, ông ca bài “Ôi ta buồn ta đi lang thang…” Rồi ông đi vào Quân trường Thủ Đức xin làm quan mà tôi đâu có hay biết. Bây giờ ông đứng trước mặt tôi, đưa hai cái mai vàng ra sững sững như bức Vạn Lý Trường Thành của Tần Thỉ Hoàng ra chắn bước tiến tán em gái “chân quê” của tôi như chắn Rợ Hung Nô thuở trước.

Lần này ông chỉ chào tôi mỗi một câu, sau rất nhiều năm mới gặp lại:

- Ủa! Mày đó hả? Làm gì ở đây?

Miệng tôi há hốc ra, mắt tôi mở trợn trừng ra, tay tôi giơ lên trời rồi biến thành Từ Hải chết đứng như trời trồng giữa sân để chứng kiến cái cảnh đau lòng con cuốc cuốc là:

Hai người dắt tay nhau lên xe. Xe rồ máy. Thằng chủ “mái hiên tây” giơ tay chào tôi. Em gái chân quê vẫy tay chào tạm biệt. Mình tôi đứng hít khói xăng phả vào mặt.

Năm 1967, tôi lò dò vô Trung Tâm Nhập ngũ số 3 ở trên Thành-NhaTrang để trình diện nhập ngũ khóa 25 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức lai gặp ông chủ nhà máy nạo dừa Khôi. Bây giờ ông có tới ba cái bông mai vàng nặng trĩu trên cổ áo. Nhờ ông  đang ở trong chức vụ Trưởng phòng Tuyển mộ nhập ngũ nên chiều nào ông cũng chở tôi về Nha Trang uống cà phê với ông và tán láo. Vợ ông là một giai nhân khác chứ không phải nàng gái “chân quê”. Hỏi ông, ông trợn mắt, nhe bàn nạo dừa ra:

- Chớ không phải nó cuốn gói theo mầy mấy năm nay à?

- Cuốn gói theo tao? Tao làm gì có hai cái bông mai và cái xe Jeep màu cứt ngựa bảnh choẹ như mày mà “ẻn” cuốn gói theo tao?

- Trời ơi! Vậy mà tao cứ tưởng! Vậy là “ẻn” theo thằng nào hè?

Sau đó nó kể cho tôi nghe về em. Hồi đó, em ở trong Ban Tâm lý chiến Dân Sự vụ Tiểu Khu Nha Trang, chuyên đi ca hát văn nghệ giúp vui cho mấy tiền đồn và các đơn vị quanh tỉnh nhà. Hôm em lên ca hát cho các anh tân binh ở Trại nhập ngũ, anh làm quen với em, anh mấy lần lên tận nhà tán em, em mết lắm. Ai dè, cuối năm đó, em biến mất sau cái lần hai thằng tôi đụng độ ở nhà em.

Vậy là tôi mang cái oan Thị Mầu ròng rã gần cả mấy năm.

Khi ở tù về, lúc gặp tôi đang lang thang ngoài phố như chó mất chủ, nó kéo tôi vô quán cóc làm một ly cà phê đắng, hút thuốc Hoa Mai khét lẹt, để tâm sự Bà Tùng Long. Hóa ra hai thằng đều khốn nạn như nhau. Nó cũng cảnh gà trống nuôi bốn con như tôi. Vợ nó cũng  đã “vẫy tay chào nhau” đi làm dâu mới “Bác Hồ”. Nhưng hoàn cảnh nó đỡ hơn tôi là ông già nó biết làm ăn, mánh mung với bọn Việt Cộng, chuyên đi thầu lại mấy công trình xây cất, sửa chữa lặt vặt. Thế là nó kéo tôi vô nghề Xây dựng. Chuyên đạp xe ba gác đổ xà bần.

Từ cái hôm nó làm tàng chơi cái ngón “dzu ê pa pa” (jouer papa = chơi cha) làm bảnh với em gái bồi phòng, em Sương, hôm sau tôi biết tên em, chúng tôi được em “tha thiết mời” mấy anh cứ vào lấy đá cục trong tủ lạnh uống thoải mái. Tôi cũng không ngờ cái đòn “cao tay ấn” của bạn Khôi tôi lại có hiệu quả như vậy. Trong đám “cu li” chúng tôi có anh Đại Úy Liễu, nhà ở Vườn Trầu trên Thành, cũng có vợ làm dâu “Bác Hồ” từ cái năm anh được Bác mời đi học tập 10 ngày. Nhưng sau đó, “hồ sơ bị thất lạc sao đó”, Nhà Nước quên lững cái thời hạn đi. Khi Nhà Nước nhớ ra, thì anh đã học tới gần 7 năm. Mỗi ngày anh phải đạp xe từ nhà xuống Nha Trang, hai bận đi, về, tổng công hơn hai mươi lăm cây số để được lãnh sáu đồng (6$) như tôi để nuôi bầy con năm đứa.

Cũng cần phải mở cái dấu ngoặc nho nhỏ ở đây để nói cho rõ hai chữ  “dâu mới bác Hồ” kẻo nhiều anh ngộ nhận rồi tưởng bở. Từ cái ngày gọi là “giải phóng vô đây mình bán cái nhà lầu”, hàng trăm ngàn sĩ quan miền Nam theo lời kêu gọi nhân đạo, hòa hợp hòa giải dân tộc của bác-đảng, bèn “hồ hởi phấn khởi”cơm gạo đùm túm đi học tập chính sách 10 ngày. Ai dè chính sách “đứt thắng” tuột dù, đi một cái… o… ro tới 10 năm cũng chưa thấy tăm hơi của cái “sự trở về”. Mấy bà vợ trẻ sĩ quan, lúc ấy đều cỡ ba mươi cái xuân xanh trở lại, đêm đêm đem hết lòng tin tưởng bác-đảng, tựa cửa chờ chồng trở về. Ngờ đâu 10 lần cái 10 ngày, rồi 100 lần cái 10, rồi tiến vững chắc lên 1000 lần cái 10 cũng chẳng thấy chồng đâu dù rằng chỉ là cái bóng trên vách để chỉ cho thằng con:

- Kìa !Kìa!  Cha con đêm tối đã về!

như nàng Nam Xương thuở xưa nói dối con mình vậy.

Cái sự mòn mỏi đợi chờ của các bà rủ theo các món đồ dùng trong nhà từ từ chạy ra chợ trời để đổi lấy ít gạo, sắn, bo bo cho bầy con đỡ đói lòng, khát sữa. Chỉ một thời gian ngắn, mọi thứ quí giá đều đội nón ra đi hết trơn, không hẹn ngày trở lại. Gian nhà bây giờ trống toang hoác. Đói, đầu gối phải bò.

Mấy bà bèn liều thân, xông pha gió sương đi buôn chui, bán lậu, luồn lách qua “thiên la địa võng” cái gọi là  “ngăn sông cấm chợ” của đảng ta. Đảng ta lúc ấy, đang trên đà chiến thắng vẻ vang, ra lệnh cấm tiệt tất cả những thằng, những con, bán buôn phe phẩy. Bán buôn là bóc lột của bọn đế quốc. Chỉ có Đảng ta được độc quyền “bán buôn” mà thôi. Tiếng Nôm Hán của bác gọi là “bán buôn quốc doanh”. Ai vi phạm đều mắc tội phá hoại kinh tế nhà nước, sẽ bị tịch thu và  đày đi…kinh tế mới. Từ đó, phàm cái kim, sợi chỉ cho chí  hột bo bo cho súc vật ăn cũng trở nên khan hiếm.

Cái sự bán mua chui cũng do mấy ông bà Bắc kỳ từ ngoài Bắc thừa thắng đem vô, chứ trong Nam từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến giờ chớ hề…biết.  Buôn bán mà lại là buôn bán…chui. Quả thật chỉ có cái xã hội có tên Xã Hội Chủ nghĩa mới nẩy nòi ra cái thứ chui ấy mà thôi. Cứ xem trong gầm trời thiên hạ “có cái xứ nào như xứ ấy không”? (Tế Xương)

Tôi nói cái “thiên la địa võng” ngăn sông cấm chợ, diễn nôm ra nghĩa là cái hệ thống kiểm soát kinh tế của đảng ta nó dầy đặc khắp từ Bắc chí Nam. Cứ mỗi đoạn đường chừng một cây số là có hai trạm gác để khám xét. Từ cái đáy quần cho tới cái nịt nâng vú của các bà đều được bàn tay cán bộ ta sờ mó và nắn bóp để truy ra mấy hột đậu hay cà phê dấu đút bên trong. Cũng còn may là giữa đường, giữa sá đông người, chứ nếu trong tù thì phải cởi truồng, chổng mông lên cho cán bộ xét có dấu đồ vật gì trong hậu môn không.

Chính vì từ cái sự kiểm soát gắt gao của đảng ta ấy mới nẩy nòi ra cái bọn tài xế xe tải đểu giả lưu manh. Lương tâm của bọn chúng đều đã bị chó sói hoang ăn hết từ lâu. Khởi đầu là bọn tài xế xe tải bộ đội. Bọn này hồi mới vô Nam đói trơ xương, vêu mõm. Thằng nào cũng hô răng. Nhưng chỉ mấy tháng sau là giàu ú lên vì bắt thóp được yếu điểm của các bà đi quá giang xe đều là đi buôn chui. Ban đầu chúng cũng động lòng “từ tâm”, “thân gái dặm trường”, nên cho quá giang xe một đỗi đường. Nhưng càng lúc càng thấy “thân gái” quá giang xe càng ngày càng nhiều, chúng bèn đổi sang động lòng “tà tâm”. Chúng gạ gẫm cho “ủng hộ tí” mới cho quá giang và dấu đồ dùm. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân” nếu không, nó chơi đểu đậu lại ngay trạm kiểm soát báo cho công an  kiểm soát thì hết cả vốn lẫn lời. Mất chì mất cả chài. Thôi thì “xí cô hồn” nhắm mắt ủng hộ nó tí “mất mát gì đâu!” Lâu ngày thành nhờn. Bọn đểu cáng này chơi xong, kháo nhau, chuyền tay nhau, thay phiên qua các trạm. Các bà lần đầu còn khóc. Nhiều lần quá hết nước mắt để chảy nữa. Tiếp theo là những thằng tài xế chính gốc miền Nam, ăn cơm Quốc Gia ba mươi năm. Xưa kia có thể là tài xế cho các quan, từng bị quan đe nẹt. Nay thấy quan bà xuống chó nên ép bà để cho nó “làm” một cái để trả thù trong “sâu thẳm tự ti mặc cảm” và hả hê rằng bây giờ “tao mần vợ mày đây” cho hết ông với bà lớn nhé.

Đa số lũ tài xế lúc bấy giờ đều lưu manh và đểu cán đến kinh tởm. Trên một tuyến đường chở hàng từ Nam ra Bắc, không biết cơ man nào là những con cừu non bị chúng làm thịt. Về phần các bà, tay đã nhúng chàm, đâm lao phải theo lao, mặc dù cũng chẳng thương yêu gì cái giống sài lang nhưng bỏ đi buôn thì lũ con nheo nhóc, ai nuôi. Và trong trại cải tạo, thỉnh thoảng lại có người treo cổ chết trên cành cây khi nghe tin con báo rằng: “má đã bỏ nhà theo tài xế xe tải”.

Và cũng từ trong trại “cải tạo” (tức nhà tù nhỏ) mới phát sinh ra hai chữ  “dâu mới bác hồ” để chỉ những “cải tạo viên” có vợ lên “xe hoa tải” về nhà chú rễ, người của chế độ bác hồ mới sản sinh.

Chứ không phải “dâu mới bác hồ” là lấy bộ đội của bác đâu. Bộ đội của bác trên răng dưới dép, quê mùa bỏ mẹ. Đi giữa phố mà quần cứ xăn lên tận đầu gối cứ như đi trên dãy Trường Sơn. Khăn lau nặc nồng mùi mồ hôi dầu, lau xong cứ vắt trên vai khơi khơi. Thỉnh thoảng lại ngồi xổm cả bầy quanh chợ, nhồm nhoài gặm xoài chín. Có vài anh còn ra vẻ văn minh, nhảy lên ghế cả hai chân ngồi kiểu tránh nước lụt, đòi uống cho được “cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc” hút thuốc hiệu ông già le lưỡi. Có khi lại lôi trong ba lô ra cái điếu cầy đánh một phát kêu rét rét như công an bố ráp mấy bà bán hàng rong. Cái ngữ ấy, có nhét lương khô Trung Quốc vào miệng, các bà cũng chả thèm nhìn tới chứ đừng nói là “làm dâu bác hồ”.

Ấy, cái sự “làm dâu bác hồ” chẳng đặng đừng, khốn khổ, khốn nạn như thế đã tràn lan hầu như năm chục phần trăm trong đám tù mà bác đảng gọi là học tập cải tạo.

Ba thằng tù được tha chúng tôi đi làm “cu li” cho cái Công Ty Xây dựng này, cả ba đều có vợ “làm dâu mới bác hồ” cả.

Trở lại anh chàng Đại Úy Liễu, mỗi trưa giờ nghĩ, anh mang cái lon gô cơm nguội, muối mè ra ngồi dưới bóng lùm dương ăn. Ăn xong vô khách sạn kê miệng vô “rô bi nê” làm một bụng nước no kềnh. Nhưng từ hôm chúng tôi được uống nước đá lạnh, anh cũng có phần ăn ké. Sau khi rửa cái lon gô sạch sẽ, anh làm một gô đá cục và cho nước phông tên vào uống thoải mái. Cứ hết, anh lại làm tiếp. Thời gian sau này chúng tôi rất vui khi đang làm việc vì các em đã nhìn chúng tôi với ánh mắt thiện cảm nếu không nói quá đáng một chút là có nhiều cảm tình.

Một hôm em Sương, chờ lúc vắng vẻ giữa trưa, đến gặp tôi và đưa hai cái vé mời đi coi đá banh. Em nhìn tôi cười tủm tỉm:

- Em có hai cái vé mời xem đá bóng người quen tặng. Em muốn mời anh cùng đi xem với em cho vui. Anh nhận lời nhé!

Nói xong, em dúi hai cái vé vào trong tay tôi và quày quả đi ngay. Tôi hí hửng chạy tìm anh bạn Khôi khoe. Ai dè, anh ta cũng giơ ra hai cái vé y chang và nói:

- Con Xinh nó cũng mời tao chủ nhật này đi coi đá banh.

- Thế mày có đi không?

- Có mà điên à? Giữa trưa mang đầu ra nắng để xem đá banh? Ban ngày ban mặt làm ăn thế chó nào được? Phải chi nó mời mình đi xi nê thì ngon quá!

- Vậy là mày không đi?

- Tao giao luôn cho mày đó! Muốn xẻ nai, xẻ thỏ gì thì tùy!

- Một mình tao tới hai con gấu cái, ở đó mà xẻ nai! Thôi đi mày!

Thế là hai thằng tôi lặn luôn. Hai em cũng chẳng nhắc nhở gì tới vụ hẹn hò. Nhưng em Sương thì ngày càng tỏ ra đặc biệt với tôi hơn. Có lần em mượn tôi cái lon gô cơm đã ăn xong, không biết để làm gì. Lúc sắp tan giờ làm việc, em đem trả lại và dặn về nhà hãy mở. Tôi hồi hộp trong bụng không biết chuyện gì, e rằng em gài độ, bỏ truyền đơn phản động ở trong để báo Công An gô cổ tôi đi Cải Tạo, để trả thù cái vụ cho em leo cây chăng? Lòng dạ đàn bà như rắn rết ai mà lường được.

Ra khỏi chỗ làm, tôi đạp xe xuống công viên Yến Phi gần Toà Tỉnh, dừng lại, run tay mở nắp lon gô. Bên trong toàn là cà phê mới rang, thơm phứt, đầy nhóc. Có lẽ cả ký cũng nên.

Trời! Vậy mà tôi cứ đem lòng hẹp hòi Tào Tháo nghi oan cho em!. Em là chuyên viên tẩm, rang, ướp cà phê cho khách sạn. Mỗi tuần em rang cà phê một lần ở sân sau khách sạn gần chỗ chúng tôi làm. Rang xong, em tẩm rượu và bơ ủ nóng một ngày. Hôm sau mới đem xay. Vậy là em “mượn của làng làm ơn cho xã”, em lén lấy để biếu cho tôi.

Tôi thực sự cảm động vô cùng. Tôi tự đấm ngực và  xỉ vã mình thậm tệ:

- Mày hỏng rồi! Hỏng quá rồi! Mày bị Cộng Sản lường gạt nhiều nên bây giờ đầu óc mày bẩn thỉu, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, nhìn đâu cũng thấy cũng toàn là xấu xa, đểu giả lưu manh!

Kể từ hôm đó, tôi tỏ ra niềm nở và không tiếc những cái cười mĩm kín đáo dành cho em Sương để tỏ lòng ăn năn, tạ tội.

Chuyện tình giữa chàng “cu li” và nàng bồi phòng xinh đẹp chưa tiến thêm được bước nào ngoài mấy cái nụ cười tình thì tôi được anh em ở HTX  Ngân Hà đóng tàu ngoài Hòn Chồng lôi đi. Công việc túi bụi ngập đầu làm tôi quên hẵn chuyện tình Lan Điệp ở cái khách sạn Thống Nhất có tên hồi xưa là “Nautique Club”.

Nhưng trước khi chuyển sang cái nghề khác, giả từ anh bạn Khôi tôi, tôi cũng phải kể thêm mấy dòng lòng thòng nữa về cái chuyện bỗng dưng anh có tiền rủng rỉnh và chơi sang bửa trưa hôm ấy đã.

Trong lúc nhấm nháp ly chanh rum ngon nhất trong đời, gác chân lên ghế, thả khói thuốc Jet thành từng vòng tròn lên trần nhà một cách phong lưu, trong cái không khí vắng lặng giữa trưa hè, tôi  tò mò, thắc mắc:

-  Nè Khôi! Tiền ở đâu mà sộp quá mậy? Mới chôm của ông già hả?

- Nếu chôm được tiền của ổng thì tao với mày đâu có cái vụ chiều nào cũng lén ăn cắp xi măng và sơn! Tiền ổng khóa trong tủ sắt. Mỗi tuần chỉ mở ra một lần để trả lương cho công nhân thôi. Sức mấy mà ổng cho tao lại gần cái tủ!

-  Lúc nãy mày mở bóp tao liếc thấy tiền cả cọc!

- Cọc cái con khỉ! Chỉ có mấy tờ mười đồng thôi. Còn lại bao nhiêu là bạc một đồng. Tao cố ý loè cho nó lé mắt chơi thôi!

-  Nhưng mà mày lãnh lương cũng như tao!

- Mày tò mò quá! Để tao hé một chút bí mật cho mày nghe. Có con mụ bán vải ở chợ Đầm, chồng chết, có hai đứa con riêng, năm, sáu tuổi gì đó, con mẻ mết tao, bảo tao về ở với mẻ. Chỉ việc sáng sáng chở mẻ với vải xuống chợ cho mẻ bán rồi đi làm gì thì làm. Tối về ngủ với mẻ thôi.

- Ngon dữ vậy sao?

Tôi trầm trồ một cách ngạc nhiên không kịp che dấu cái thèm muốn từ trong sâu thẳm của gan ruột nhảy phọt ra.

Khôi cũng không che dấu sự đắc ý của mình cứ nhe mái hiên ra cười khành khạch. Tôi càng hỏi nà tới:

- Mà lâu chưa? Sao mày bí mật thế? Chiều nào cũng nhậu với tao mà mày dấu kỹ như mèo dấu cứt vậy?

- Mẻ bắt tao phải giữ kín, không được hở với ai hết! Nếu ai có hỏi thì phải nói là mẻ thuê chở đồ. Mẻ mua cho tao cái xe Suzuky cũ để chở vải khỏi tốn tiền xích lô ngày hai bận.

- Hèn gì tuần trước thấy mầy ngự cái xe ngon lành, hỏi mầy, mầy nói là của ông già cho. Cái đồ xạo!

- Ông già tao còn phải cỡi xe đạp cà tàng mà cho tao xe gắn máy? Mày ngu mới tin lời tao bịa!

- Mày thiệt tốt số! Bỗng không lại có chỗ dựa lưng chắc chắn! Ước gì trên trời cũng rớt xuống đầu tao một mụ như mầy thì đỡ quá!

- Muốn không? Tao chỉ đường cho! Ở gần đầu xóm mụ của tao ở có nhiều em nạ dòng lắm, tối nào cũng thập thò lui tới. Tao thấy cũng thèm mà không dám bén mãng vì còn kẹt con mẻ.

- Thập thò lui tới là “động” rồi còn gì!

- Không phải “động” mà là “ổ nhảy dù”!

- Như vậy thì tao kẹt! Tao không có tiền! Tôi than.

- Đừng lo! Chuyện tiền nong có tao đây!

Vừa nói, nó vừa vỗ vào cái túi sau đít có cái bóp căng phồng nghe bình bịch, chắc nịch y như lời nó hứa.

Thú thiệt, khi còn ở trong tù, lâu lâu thèm đàn bà quá cũng có lúc nằm mơ thấy “bắn máy bay Mỹ B52” rớt hoài, mỗi khi được “bồi dưỡng” cục đường. Khi về nhà, nhờ đầy đủ cơm ngày hai bữa, nên tinh thần “diệt máy bay Mỹ” càng hăng. Tiếc thay, có súng mà không có đạn nên thấy máy bay “bay đầy đường” mà không khai hỏa được. Nòng súng, nhện cứ giăng màn mịt mù. Bây giờ nghe thằng bạn hứa viện trợ đạn thì cái chí quyết thắng “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” của tôi được dịp sừng lên sững cồ như con gà chọi sắp ra vòng đấu.

Chờ cho trời tôi tối một chút, chừng tám giờ, là tôi đã tìm tới nhà “con mẻ” của anh bạn rồi. Ông chủ có hàm răng bồ cào đứng trước cửa toe toét nhe mồm ra cười đón tôi vô nhà. Hôm trước tôi ở quầy Cafeteria khách sạn tôi khen nó:

- Mầy tốt phước nên tìm được chỗ dựa chắc chắn!

Bây giờ tận mắt thấy “con mẻ”, tôi không ngờ cái thần khẩu của tôi linh ứng như vậy.

Ối trời thần ơi! Cái người đàn bà được anh bạn vàng giới thiệu là “bà xã” đang ngồi trước mặt tôi đây, đang nhoẻn miệng chào tôi, rõ ràng là có họ hàng thân thích chi đây với cái chị Ngọt bán cá ở xóm tôi.

Cả hai người đàn bà thiệt là “có mỗi nhúm xương” còn lại toàn là mỡ với thịt. Ít ra phải tạ rưỡi. Nghĩa là bằng trọng lượng của tôi, thằng Khôi, “ông xã” người đẹp, và anh bạn Đại Úy Liễu cộng lại.

Tục ngữ có câu “Thằn lằn bám cột đình” rất ư là “hoành tráng” và “đầy ấn tượng” cho cặp uyên ương “rổ rá cạp lại” của anh bạn Khôi tôi.

Đúng trăm phần trăm, anh bạn tôi đã tìm được nơi nương tựa chắc chắc cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Sau khi nói ba điều bốn chuyện xã giao qua quít, tôi hăm hở đi tìm máy bay Mỹ để bắn hơn là ngồi làm kỳ đà cản mũi cái giây phút tình tứ mặn nồng đang tuôn chảy giữa hai người “thiếu vắng tình cảm” quá lâu nay mới được xáp lại gần.

Anh bạn Khôi kề tai bà Phán Cảnh (Cánh phản) nói nhỏ mấy câu, bà Phán phá ra cười hắc hắc, giơ tay vỗ vào lưng Khôi đồm độp mấy cái rồi xua đi.

Khôi dìu tôi ra ngõ dúi cho tôi hai chục, xong trở về nhà làm bổn phận công dân. Tôi đang còn đứng lớ ngớ, bỗng có bàn tay với những ngón tay khô queo, chai ngắt ở đâu đó kéo tuột tôi vô ngõ tối. Khi lọt vô căn nhà sáng tù mù với ngọn đèn hột vịt, tôi mới nhận ra khuôn mặt người đàn bà còn khá xinh, cỡ chừng bốn mươi tuổi. Tuy nhiên với nước da cháy nắng và những vết chân chim ở đuôi mắt, và hai bên khóe môi vẫn cho thấy nét mệt mỏi, tiều tụy trên nét mặt.

Tôi ngoan ngoãn nằm xuống giường dưới bàn tay ấn của nàng, người mềm ra như cọng bún. Cả thân hình tôi nóng ran như lửa đốt. Nàng quay lưng về phía tôi thong thả cởi đồ. Tôi mở trừng trừng mắt ra nhìn về phía nàng. Tôi chỉ thấy một nửa bóng đen. Cái lưng thon, không, phải nói ốm nhom thì đúng hơn. Nàng gầy quá, không mỡ màng da thịt như bà Phán Cảnh của thằng Khôi. Nhưng người tôi cứ rạo rực ham muốn. Mặc ốm hay gầy. Miễn là đàn bà. Cái món tôi nhịn thèm suốt sáu năm nay. Nàng quay lại sà xuống giường, ôm lấy tôi. Người tôi nóng hừng hực. Máu chảy rần rật. Trái lại người nàng thì lạnh băng. Nàng thổi tắt phụt ngọn đèn trên đầu bàn và nói giọng thản nhiên:

- Cởi đồ ra đi anh! Làm mau mau lên! Em còn phải tiếp khách khác nữa!

Vì lâu ngày mới được chung đụng da thịt đàn bà trở lại, tôi lớ quớ, run rẩy tay chân, cởi áo sơ mi, tháo dây nịt quần trong bóng tối ba trật, ba giuộc. Nghe tiếng nàng cười khe khẽ. Tôi câu giờ chữa thẹn vờ hỏi em mấy câu công thức xã giao để lấy bình tĩnh:

- Em là dân Nha Trang hay ở đâu đến vậy? Nhà cửa gần đây hôn?

- Dạ! Em là dân Nha Trang! Em đang ở Vùng Kinh tế, mới trốn về đây mấy bữa!

- Vậy chồng con em đang ở trên rẫy hả?

- Dạ không! Chồng em là Thiếu Tá quân đội Cộng Hòa đang học tập ngoài Bắc sáu năm nay, không biết sống chết ra sao. Bầy con năm đứa của em trên Nhiễu Giang sốt rét, thiếu ăn, em phải trốn về đây “nhẩy dù” kiếm ít tiền mua thuốc và gạo cá đem lên cho chúng.

Tiếp theo là tiếng thở dài áo não.

Bỗng dưng như có một luồng điện lạnh cực mạnh chạy suốt trên sóng lưng tôi. Bao nhiêu lửa dục đang hò reo nhảy múa dữ dội trong tôi vụt tắt ngúm. Khẩu CKC của mấy em du kích “chiến sĩ gái” đã từng “bắn máy bay Mỹ rớt ngay cửa mình” (Bút Tre) trong tôi, dựng nòng sẵn sàng nhả đạn, từ lúc mới bước vào nhà cho tới lúc này, bỗng dưng ngoẹo đầu ủ rũ. Tôi kéo quần lên và ngồi dậy bảo em thắp đèn. Nàng ngơ ngác nhìn tôi áy náy:

- Em có làm gì đâu mà anh giận bỏ về vậy? Nói chơi thôi mà! Em xin lỗi anh!

- Không! Em không có lỗi gì hết! Hình như tôi bị gió nên thấy lạnh quá! Không còn hứng nữa. Thôi hẹn em khi khác nhé!

Trong lúc nàng vơ áo quần phía bàn để mặc lại, tôi dúi vô tay nàng hai tờ giấy mười đồng của ông bạn Khôi mới dúi cho tôi lúc nãy. Tôi nhẹ nhàng vỗ vai nàng mấy cái tỏ ra thân mật rồi bước thẳng ra cửa. Có lẽ nàng đang ngạc nhiên đầy thắc mắc. Và sẽ không hiểu tại sao tôi đột ngột bỏ đi.

Thấy tôi bước vào nhà, Khôi trố mắt:

- Sao lẹ dữ vậy mậy? Tao chưa hút hết điếu thuốc mà mày đã…

- Tao lâu ngày quá! Chưa chi đã khóc ngoài quan ải rồi! Quê xệ quá! Tôi nói dối.

- Thiệt là uổng phí của trời! Chưa xơ múi gì à?

- Thì vậy! Thôi tao cám ơn mày nhé! Tao dông đây! Chào chị!

Tôi phóng lên xe đạp, tiếng thằng Khôi bừa cào và bà Phán Cảnh của nó cười chế nhạo đuổi đàng sau lưng. Tôi đạp xe ra bờ biển lấy thuốc ra hút cho đỡ nghẹn trong lòng. Nước mắt tôi chảy ra từ hồi nào không hay.

Tôi đâu còn dư nước mắt để khóc người dưng?

Nhưng “Ma đưa lối quỷ dẫn đường”! Thiếu gì người, sao tôi lại gặp phải “đúng người trong chốn đoạn trường” mà chơi?

Những lời nói của người đàn bà trong căn nhà chứa lúc nãy đã đánh trúng nỗi đau của tôi. Những lời vô tình của nàng sắc như lưỡi dao chủy thủ, đâm suốt quả tim tôi. Cái mụt đau trong tôi tưởng lâu ngày đã chai mặt. Không ngờ nó cứ âm ỉ sưng tấy trong đó. Tôi né tránh không dám đối mặt và đụng chạm vào. Thế mà tối nay, vô tình, người đàn bà đó, người đàn bà có bầy con đang đói khát và bệnh sốt rét ở vùng kinh tế mới đang chờ mẹ về thành phố kiếm tiền để mua thuốc và thức ăn mang lên. Và với một người chồng đang “cải tạo” mút chỉ cần câu tận ngoài Bắc, không biết sống chết ra sao. Bây giờ đã đến đường cùng phải “nhảy dù” tức làm điếm bất đắc dĩ, từng lúc, khi quá túng kẹt đành phải làm, không có con đường khác lựa chọn, để kiếm tiền nuôi con, đã khơi trúng nỗi đau âm thầm sâu kín trong tôi. Từ lúc còn trong tù cho đến lúc được thả ra, tôi luôn luôn tự hỏi thầm:  

- Không biết giờ này vợ tôi đang lưu lạc về đâu, đang nằm trong tay thằng tài xế khốn nạn nào hay đang ở trong ổ điếm nào để cho những thằng chó chết dày vò?

Đêm nay, câu hỏi được gián tiếp trả lời bởi người đàn bà chưa biết tên, chưa nhìn rõ mặt, đã nói lên sự thật tàn nhẫn, sự thật phũ phàng.

Một sự thật trần truồng tôi đã từng nghĩ đến nhưng không dám chấp nhận.

Nước mắt tôi chảy xuống thương xót cho thân phận người đàn bà đó và cũng là khóc thương xót cho chính thân phận mình, cho người đầu ấp tay gối của mình. Và cho cả bầy con của tôi nữa.

Giờ đây, ở đâu đó, vợ tôi chắc cũng đang trong hoàn cảnh y như thế. Thân xác đang bị dày vò để đổi lấy miếng  ăn hàng ngày.

Ngoài kia tiếng sóng biển vẫn cứ rì rào như muôn lời an ủi vỗ về của bà mẹ hiền bao dung.

Tôi hút liên tiếp ba điếu thuốc, để có nhiều thời gian ngẫm nghĩ.

Nước mắt đã cạn. Mắt tôi ráo hoảnh. Tôi đã hiểu ra rằng: Những người đàn bà sa cơ lỡ bước trong thời buổi chó đẻ này không có tội, không có lỗi gì hết. Cái xã hội khốn kiếp này do cái chính quyền vô nhân tính, tàn bạo, bất nhân đã tạo nên thảm cảnh. Hằng triệu gia đình lâm cảnh ly tán. Chồng bị bắt đi tù. Nhà cửa bị cướp đoạt. Vợ con bị đày ải đi kinh tế mới, chốn ma thiêng nước độc để chết lần hồi. Phố thị bị bọn người có đuôi từ rừng về ở. Ngày ngày chúng múa may quay cuồng ca bài ca chiến thắng, reo hò hỉ hả trên sự thống khổ lầm than của người dân miền Nam. Hàng trăm ngàn sĩ quan, thân nam nhi chi chí còn không làm gì được, chỉ biết trơ mắt ếch ra cam chịu số phận tù đầy nhục nhã thì trách chi phận đàn bà con gái, chân yếu tay mềm. Còn phải nặng nợ áo cơm với bầy con thơ. Có khi cưu mang cả cha mẹ già.

Nàng Kiều ngày xưa phải bán mình chuộc cha, năm lần bảy lượt vào ra thanh lâu, đoạn trường mười lăm năm trong chốn phong trần đâu phải gia đình Vương viên ngoại muốn, hay bản thân nàng muốn thế. Cũng đâu phải vì thằng bán tơ bá vơ nào đó gây nên họa. Mà chính cái xã hội khốn kiếp, phong kiến, lấy câu “trung quân ái quốc” để áp đặt “quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” lên đầu người dân, do đó tạo ra bọn tham quan, ô lại  làm điều càn quấy. 

Bây giờ cũng hệt như thế mà còn tinh vi hơn thế. Cái chính quyền ngày nay thì lấy khẩu hiệu “vì dân do dân” mà phục vụ. Đâu đâu cũng thấy câu “độc lập, tự do, hạnh phúc” và “trung với Đảng, hiếu với dân” thay cho  “trung quân ái quốc” phong kiến lỗi thời. Ngày xưa đơn giản chỉ cần “có ba trăm lạng trao tay” là xong. Và bọn tham quan ô lại chỉ rải rác đôi chỗ xa mặt trời. Bây giờ thì Nhà nước ta ra hẳn hoi chính sách để cướp đoạt tài sản nhân dân trên cả nước. Và cả một đạo quân hùng hậu nhất Đông Nam Á ra tay thi hành. Đầu tiên là đổi tiền. Lấy năm trăm của dân đổi lại chỉ có một đồng. Và giới hạn mỗi nhà chỉ được phép có hai trăm đồng. Dù trong nhà có đông người cũng thây kệ. Rất nhiều người suốt đời lao lực cực nhọc làm ăn, dành dụm tiền của để về sau lo cho tuổi già hay cho con cháu, bây giờ trắng tay. Uất ức treo cổ mà chết. Nhảy lầu mà chết. Uống thuốc chuột, thuốc rầy mà chết. Số người chết vì xót của nhiều không kiểm kê được. Tiếp theo là “đánh tư sản mại bản” và “cải tạo công thương nghiệp”. Hai cái đòn sau này đã xua đuổi hàng triệu người ra biển Đông để chết, để làm mồi cho cá mập và cho cả hải tặc Thái Lan cướp bóc, hãm hiếp. (Vậy mà từ năm 75 đến nay đã ba mươi năm qua, làn sóng người bỏ trốn ra nước ngoài vẫn còn tiếp tục. Dù dưới mọi hình thức hợp pháp hay bất hợp pháp). Nhà nước Xã Hội  Chủ Nghĩa Việt Nam đã thực thi đúng sách vở của tổ sư Mác-Lê chỉ dạy là “kinh qua thời kỳ quá độ của chủ nghĩa tư bản, tiến thẳng lên thiên đàng Cộng Sản”. Người bình dân hiểu câu này một cách nôm na là: Đảng đi ăn cướp tài sản của giới tư bản để xây nhà Cộng Sản nghèo mạt rệp xuất thân từ bần cố nông.

Tất cả những hành động trên, họ gọi là “đi làm cách mạng”.

Và tất cả cán bộ Cộng Sản đi  tuyên truyền trong những buổi lùa dân đi học tập đều mở đầu bằng: - “Cách mạng ta…”

Có người không hiểu “cách mạng” nghĩa là gì hỏi lại:

- Thưa cán bộ! Xin cán bộ giải thích cho chữ  “cách mạng” nghĩa là gì ạ!

- Thì cách mạng là cách mạng! Có thế mà không tiếp thu được à?

- Dạ vâng! Cách mạng là cách mạng ạ! Nhưng tôi ngu dốt vẫn chưa hiểu thưa cán bộ!

- A! Thế anh ngoan cố hả! Muốn chống đối cán bộ hả? Muốn phản động hả? Này! Trong quần chúng có ai thấu suốt được ý nghĩa hai chữ “cách mạng” hãy mạnh dạn phát biểu để giúp đả thông tư tưởng cho đồng chí ấy với!

Có người dong tay, hăng hái xin phát biểu:

- Thưa cán bộ! Tôi đã quán triệt lời chỉ dạy của cán bộ. Xin cho tôi được phép phát biểu ý kiến với đồng chí nữ ấy!

- Được! Cứ tự do phát biểu!

- Này! Đồng chí nữ! Cách mạng tức là giải phóng đấy. Giải phóng là đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào đấy. Cách mạng tức là giải phóng đem lại độc lập tự do hạnh phúc cho nhân dân đấy. Hiểu chưa nào? Tiếp thu được chưa nào? Gớm! Có thế mà cứ hỏi mãi!

Người đàn bà vừa nêu câu hỏi, được ông hàng xóm “đả thông tư tưởng”, chợt hiểu ra, hớn hở đáp:

- Dạ cám ơn đồng chí nam hàng xóm! Thưa tôi hiểu rồi! Nhưng tôi là đàn bà nên hiểu ít ít thôi. Tôi hiểu nông cạn như vầy, không biết trúng được mấy phần trăm. Đồng chí hàng xóm nói Cách mạng tức là giải phóng. Tôi thấy từ ngày giải phóng vô đây cái bọn Việt cộng ác ôn côn đồ không còn pháo kích vô thành phố, không còn đặt mìn cho sập cầu, đường sá không còn bị đào đường đắp mô gài lựu đạn nữa phải không ạ? Nhờ ơn giải phóng mà bọn Việt cộng ác ôn đó đã trốn lên núi hết trơn hết trọi.

Người đàn bà đứng nói một hơi tỉnh queo làm cả đống người ôm bụng cười bò lăn bò càn đêm hôm ấy. Lại có tiếng phụ họa: Đúng! Đúng! vang lên hưởng ứng.

Sau này trong trại cải tạo, tù nhân cũng có thắc mắc y như vậy. Nhưng hầu hết cán bộ quản giáo đều giải thích như nhau: “Cách mạng là cách mạng”. Bác Hồ nói thế thì hiểu như thế! Có thế mà không hiểu! Các anh học tập kém quá!

Chuyện này làm tôi lại nhớ đến chuyện tiếu lâm về Ông Quận Trưởng người sắc tộc miền núi nọ. Hồi cái thời Ông Diệm, muốn vỗ an người Thượng, Ông cho thành lập Bộ Sắc Tộc. Các quận thuộc miền núi đều cử người dân tộc làm Trưởng hết. Quận trưởng, Xã Trưởng, Thôn Trưởng, Áp Trưởng, thảy thảy là người Thượng.

Có một ông Quận Trưởng nọ vừa nhậm chức, cho lính đánh cồng chiêng tập họp hết dân trong Buôn lại để nghe chỉ thị.

Sau khi dân trong Buôn nghe tiếng chiêng cồng, bỏ nương rẫy đang làm dở dang để về tụ tập trước sân quận, nghe ông Quận mới nói chuyện.

Ông Quận, trên thì mặc áo “vét” để rõ ra “quan trên trông xuống”. Dưới vẫn đóng cái khố lòng thòng “người ta trông vào” cho hài hòa phong tục tập quán cổ truyền  (bây giờ ta nói theo ngôn ngữ thời thượng là đậm đà bản sắc dân tộc) ra trước đám dân, dõng dạc hỏi lớn:

- Hôm nay tôi cho tập họp đồng bào lại đây, đồng bào có biết lý do gì không?

Cả đám đông ngơ ngác nhìn nhau hồi lâu rồi đồng thanh đáp:

- Dạ thưa Ông Quận Trưởng! Không biết!

- Không biết thì giải tán! Đi về! Ông Quận trưởng trả lời.

Hôm sau Ông Quận lại cho họp dân như trước, Ông lại hỏi:

-  Hôm nay đồng bào có biết  tập họp tại đây để làm gì không?

Đám dân núi muốn khỏi mất thì gìờ nên cũng đồng thanh trả lời:

-  Dạ thưa ông Quận Trưởng! Biết ạ.

-  Ừ tốt! Biết rồi thì giải tán! Đi về. Ông Quận trưởng đáp lại.

Lại hôm sau nữa, ông cho đánh cồng chiêng tiếp để kêu dân về quận. Lần này dân bàn nhau chia làm hai phe. Một phe sẽ nói biết. Phe kia sẽ nói không biết, để xem cái ông Quận Trưởng “cà chớn” này ăn nói làm sao với dân.

Ông Quận Trưởng vẫn y bộ lệ áo Vét và khố ra trước quận đường hỏi:

- Đồng bào có biết hôm nay…

Chưa kịp nói hết câu, nhiều tiếng trả lời đã vang lên:

-  Dạ biết!

-  Dạ không biết!

- Ừ! Tốt! Tốt! Vậy thì những người biết sẽ nói cho những người không biết, biết! Thôi! Giải tán đi về!.

Câu chuyện tiếu lâm này chỉ làm cho người nghe cười nhếch mép về cái sự hạnh họe dốt nát của ông Quận miền núi muốn ra oai với dân mình thôi. Còn cái chuyện dốt của “cán bộ ta” đều trời, khắp nước, làm cho bà con cười bò lăn, bò càn, cười té cứt, vãi đái trong quần thì chỗ nào cũng có.

Nhưng biết đâu, đó là chủ ý đường lối của Đảng ta làm cho dân mãi cười mà quên đói? Y như trước 75, đám du kích trên núi mỗi lần thấy thiếu lương thực ăn thì cán bộ chính trị viên lại cho tổ chức đánh đồn. Viện đại đội trưởng thắc mắc:

- Tại sao đang thiếu lương ăn mà đồng chí lại kêu đi đánh đồn?

- Có đi đánh đồn, đồng chí ta chết bớt đi thì lương thực tự nhiên dư ra! Kế sách vẹn toàn của Bác đó.

Tôi đã “ngộ” ra tất cả những bi thảm của cái xã hội chó má này. Cái xã hội được sơn phết bằng toàn màu đỏ dối trá, kết hợp hai khẩu hiệu bác đảng: “Không có gì” (gọi là) “độc lập tự do hạnh phúc”.

Tôi thanh thản đạp xe về nhà. Lên giường ngủ thiếp đi. Tôi mơ thấy lại người đàn bà lúc tối, khuôn mặt mờ mờ dưới ánh sáng nhập nhoạng của ngọn đèn hột vịt, không rõ nét, nhưng tôi thấy rõ bàn tay nàng nắm lấy hai tờ mười đồng của tôi, những ngón tay quắp lại thật chặt.

Hình như tôi có mỉm cười trong giấc ngủ.

(Còn tiếp)

Trích phần 1 của chương “Bá nghệ hảo tùy thân” trong truyện dài “Bèo nước thăng trầm” sắp xuất bản.

Nguyễn Thanh Ty


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_ba_ngho_hio_tuy_than__1.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.