Bắc Hàn bắn pháo mừng Quốc khánh Hoa Kỳ. Nước Mỹ bèn cãi nhau! ...
Chuyện lớn hơn là Bắc Hàn đã vô tình tháo chốt cho một cơn địa chấn
Đông Á.
Cộng
hoà Xã hội Chủ nghĩa Nhân dân Triều Tiên là một xứ tinh ma. Mừng lễ Độc
lập của Mỹ, họ phóng hỏa tiễn phát huy đường lối "tự chủ" của mình, và
khiến các chính khách Mỹ tự bắn vào chân.
Các nhà ngoại giao Mỹ
thường bị méo mó nghề nghiệp. Cứ thấy có cái bàn là muốn bò vào làm bàn
hội nghị. Họ có rất nhiều cơ hội ấy nếu lại do đảng Dân chủ lãnh đạo.
Nhưng hy vọng lãnh đạo lại nguội dần sau màn pháo bông vừa qua của Bắc
Hàn.
Sau khi Bắc Hàn Cộng sản tung đòn khiêu khích bằng cách bắn
hỏa tiễn vào đúng ngày Quốc khánh Hoa Kỳ, Chính quyền Bush đã vận động
Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và dư luận quốc tế cùng thống nhất lập
trường đối phó. Ông Bush vừa nói đến việc thế giới cần thống nhất lập
trường và hành động về vụ Bắc Hàn thì một số lãnh tụ đảng Dân chủ biểu
diễn một màn thống nhất ngược. Thay vì đả kích hành động khiêu khích
của Bình Nhưỡng, họ quay về đổ lỗi cho chính quyền Bush và yêu cầu ông
Bush nên chiều theo đòi hỏi của Bắc Hàn mà có hội nghị tay đôi với Bình
Nhưỡng.
Đó là Nghị sĩ Dianne Feinstein tại California, Thống
đốc Bill Richardson của New Mexico (nguyên Đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc
khi Bắc Hàn chuẩn bị khiêu khích đợt một) và Tướng Wesley Clark, một
chuẩn ứng viên hụt trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004. Danh sách này
có thể còn kéo dài vì nước Mỹ đang ở trong mùa bầu cử. Nhưng đấy chỉ là
trò chơi truyền thống và định kỳ của nền dân chủ Mỹ.
Chúng ta cần nhìn vấn đề trên toàn bộ để thấy ra nhiều trò lý thú hơn và nhiều chuyện nghiêm trọng hơn.
Bối cảnh của vấn đề
Từ
đã lâu rồi, Bắc Hàn là đại lý phân phối hỏa tiễn - từ kỹ thuật, phụ
tùng tới thành phẩm - cho rất nhiều quốc gia xưa nay chưa từng nổi
tiếng là dân chủ, như Iran, Syria, Pakistan hay cả Egypt. Đây là nghiệp
vụ xuất cảng ăn khách nhất của một xứ lạc hậu coi dân như rác.
Chế
độ đã mặc nhiên để hai triệu người dân chết đói (trong một dân số chỉ
có 22 triệu) và ra sức chế tạo võ khí để bắt bí thế giới. Trong đó, có
cả võ khí nguyên tử và hạch tâm - atomic và nuclear - sẽ được phóng đi
bởi các hoả tiễn có tầm bắn ngày càng xa hơn, từ loại Scud cò con chỉ
có thể vươn tới Nam Hàn, đến loại Lao động (Rodong) có thể bắn qua lãnh
thổ Nhật, rồi Đại pháo đồng (Taepodong) cấp I và II. Taepdong 2 là cấp
liên lục địa, với tầm xa 6.000 cây số (tới Hawaii) và hy vọng khai
triển thêm tới 12.000 cây số, vào đến lục địa Hoa Kỳ.
Bắc Hàn
học nghề bằng cách học ngược - reverse engineering - mua hoả tiễn về
banh ra để tìm hiểu kỹ thuật rồi bắt chước và cải tiến bằng khả năng
riêng.
Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, Hoa Kỳ đã có đối
sách ôn hoà. Nên cởi chứ không nên cột vì một xứ lạc hậu và bị cô lập
như vậy đôi khi có phản ứng nguy hiểm. Nhờ vậy, Bắc Hàn được viện trợ
về kinh tế lẫn kỹ thuật nguyên tử dân sự sau khi hứa hẹn từ bỏ kế hoạch
hoả tiễn và hạch tâm. Chủ trương ấy của Hoa Kỳ cũng phù hợp với đường
lối của Tổng thống Kim Dae Jung của Nam Hàn, được gọi là "Nhật quang
Chính sách" - Sunshine Policy.
Kết quả là một sự thất vọng lớn.
Do
Liên xô đưa về lãnh đạo sau Thế chiến II, lãnh tụ "Kính mến" Kim Nhật
Thành đã tạ thế năm 1994. Sau khi củng cố quyền lực để thành Tổng bí
thư kiêm Chủ tịch Trung ương Quân ủy, người con là lãnh tụ "Mến yêu"
Kim Chính Nhật đã phát huy đường lối "tự chủ" của cha. Nhưng theo phong
cách riêng: ông vẫn tiến hành kế hoạch nguyên tử và có tham vọng đưa xứ
sở chết đói lên ngang tầm kỹ thuật của thế giới với việc phóng vệ tinh
vào năm 1998. Việc phóng vệ tinh đó không thành, kinh tế cứ suy sụp,
nhưng Bắc Hàn đã có Đại pháo đồng.
Năm đó, khi thế giới e ngại
xứ này bị khủng hoảng và tan rã, với cả triệu dân sẽ chạy qua Nam Hàn
hay Trung Quốc lánh nạn và kiếm sống, Kim Chính Nhật chứng minh thế lực
của mình và của Bắc Hàn với vụ bắn Đại pháo đồng 1 bay qua lãnh thổ
Nhật xuống biển Nhật Bản (Đông Hải của Trung Quốc).
Các nước tuyên bố rằng đó là việc "không chấp nhận được". Và…. chấp nhận sau đó.
Năm
1999, Bắc Hàn mở chiến dịch tranh thủ ngoại giao theo kiểu Cuội già, là
đồng ý tạm ngưng thử nghiệm hoả tiễn cho tới năm 2003. Các quốc gia sau
đây liền tưởng thưởng bằng cách thiết lập bang giao với Bình Nhưỡng: Ý,
Đức, Anh, Bỉ, Hoà Lan, Tây Ban Nha, Luxembourg, Tân Tây Lan, rồi Canada
và Phi Luật Tân. Qua năm 2000, Bắc Hàn còn đánh lừa được Nam Hàn và thế
giới với việc tổ chức Thượng đỉnh Nam-Bắc Hàn - do chính quyền Nam Hàn
của Tổng thống Kim Dae Jung kín đáo tài trợ. Chỉ còn chút xíu nữa là
Kim Chính Nhật cùng chia giải Nobel Hoà bình với Kim Dae Jung!
Về
phía Hoa Kỳ, miệt mài với chủ trương hoà dịu, Ngoại trưởng Madeline
Albright còn qua Bình Nhưỡng múa đôi làm vui. Như một đoá hoa già trang
trí cho thành tích ngoại giao của chính quyền ngay trước khi ông
Clinton kết thúc nhiệm kỳ hai.
Trước đà thắng lợi ấy, tội gì
Bình Nhưỡng không làm tới? Sau Đại pháo đồng 1, Kim Chính Nhật lặng lẽ
chế tạo Đại pháo đồng 2 nhân khi Hoa Kỳ lãnh họa khủng bố.
Theo
quan niệm rất hợp lý của Bình Nhưỡng, một xứ nhược tiểu sống nhờ trợ
cấp của thiên hạ là một xứ không tự trọng và thiếu tự chủ. Một xứ hung
đồ nhưng có võ khí thứ dữ thì mới khiến thiên hạ chú ý, nể phục và nói
chuyện phải quấy. Bắc Hàn muốn Hoa Kỳ phải trực tiếp nói chuyện với
mình, ký kết một thỏa ước bất tương xâm thay thế hiệp định ngưng bắn
tại Bản Môn Điếm năm 1953. Nếu không thì "thiên địa đồng thọ" trong một
màn chiến tranh nguyên tử.
Chính quyền Bush không chấp nhận trò bắt bí ấy.
Ông
Bush xếp Bắc Hàn vào "trục tội ác" cùng Iran và Iraq, và vận động việc
giải quyết theo kiểu đa phương, qua hội nghị sáu phe của sáu quốc gia
liên hệ là Nam và Bắc Hàn, Trung Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản và Hoa
Kỳ.
Nhưng, trong khi Hoa Kỳ bận đối phó với khủng bố Hồi giáo
cùng vụ Iraq, Bình Nhưỡng xoá bỏ tạm ước về việc ngưng thử nghiệm và từ
năm 2002 đã chuẩn bị Đại pháo đồng 2, một loại liên lục địa có ba tầng
phóng hoả. Hội nghị sáu nước vì vậy lâm bế tắc từ tháng 10 năm ngoái.
Võ công Bắc Hàn
Vì
sao một chế độ không lo nổi miếng ăn cho người dân mà lại miệt mài chế
tạo võ khí tàn sát như vậy? Người ta phải tìm hiểu cái "lô gích" của
Bình Nhưỡng. Sau những kinh nghiệm ứng xử với thế giới, Bắc Hàn đã rút
tỉa bài học cho mình.
Chương trình chế tạo hỏa tiễn Đại pháo đồng có hai mục tiêu và công dụng.
Mục
tiêu phòng thủ là để ngăn ngừa một vụ tấn công của Hoa Kỳ, chuyện khó
xảy ra nhưng Bình Nhưỡng vẫn cứ coi như có thể vì lợi ích về tuyên
truyền. Mục tiêu thứ hai là để thế giới khỏi coi thường và chấp nhận
những đòi hỏi của mình.
Về công dụng thì hỏa tiễn có thể phóng
vệ tinh, một kế hoạch hoà bình và chính đáng, nhờ đó tuyên truyền cho
trình độ kỹ thuật của chế độ và mở thêm cơ hội xuất cảng. Nhưng hỏa
tiễn cũng có thể đưa đầu đạn nguyên tử, và khiến thế giới phải nghĩ lại
nếu như ai đó mong muốn hay góp phần làm chế độ sụp đổ.
Chương
trình hoả tiễn vì vậy có cả hai mặt công và thủ, dân sự và quân sự.
Bình Nhưỡng cho rằng nó sẽ khiến Hoa Kỳ phải chịu đàm phán với mình.
Từ
những chọn lựa chiến lược ấy, ngày 17 tháng Sáu vừa qua, Bình Nhưỡng
bơm dầu chuẩn bị khai hỏa Đại pháo đồng-2, loại có ba tầng.
Trong tâm tư của lãnh đạo Bắc Hàn, đòn hăm dọa này có những lý do chính đáng của nó.
Chính
quyền Bush đang bị yếu thế và ngập đầu về chuyện Iraq, Iran, vài tháng
nữa lại có bầu cử nên khó đối phó trong thế mạnh. Vả lại, cứ thấy khói
lửa mù trời là đảng Dân chủ tại Mỹ sẽ nhào lên cột tay chính quyền.
Bình Nhưỡng đặt nhiều kỳ vọng vào phản ứng phản chiến ấy. Vả lại, việc
thử nghiệm võ khí cũng chẳng có thể gây khủng hoảng cho hội nghị sáu
nước, vốn đã bị tê liệt từ năm ngoái mà truyền thông Mỹ lại cứ cho rằng
đó là lỗi tại Bush.
Qua năm tới, Nam Hàn lại có bầu cử Tổng
thống và đảng Uri thiên tả và chủ trương hoà giải với Bắc Hàn của Tổng
thống Roh Moo Hyun đang bị lép vế trước đảng Quốc đại Grand National
Party có khuynh hướng cứng rắn hơn với Bình Nhưỡng mà mềm giẻo hơn với
Hoa Kỳ. Bình Nhưỡng muốn tác động vào cuộc bầu cử tại Nam Hàn. Tham
vọng ấy không phải là phi lý: khi Bắc Hàn bơm dầu vào hỏa tiễn thì một
chuỗi dài các giải Nobel Hoà bình đã tụ tập tại Hán Thành để kêu gọi
đối thoại và hoà giải, trong số này, có Giải Nobel 2002 là Kim Dae
Jung. Nếu có phải nhượng bộ thì Bắc Hàn cũng nhờ đó tranh thủ được hậu
thuẫn của phe chủ hoà, của những người vẫn còn mơ ước "Nhật quang Chính
sách".
Đòn hù ấy còn tạo ra lợi thế ngoại giao khác.
Hoa
Kỳ, Nhật Bản, hay Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan có lên tiếng phản đối và
đòi đưa nội vụ qua Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thì… cũng như về nhà.
Trong Hội đồng, hai hội viên thường trực có quyền phủ quyết là Trung
Quốc và Liên bang Nga thì cũng chẳng chiều theo áp lực Mỹ mà đồng ý với
việc trừng phạt. Từ vụ Iraq, Bình Nhưỡng đã thấy tính chất thụ động và
thoả hiệp của Liên hiệp quốc, nhất là khi đã có hai đồng minh ở bên
trong.
Mà thế giới có thiếu gì kẻ thù ghét Hoa Kỳ còn hơn khủng bố.
Nếu Bắc Hàn không nghĩ ra đòn tháu cáy ấy thì đã có người xúi ở phía sau.
Lãnh
đạo Bắc Kinh đang gặp nguy cơ khủng hoảng bên trong và lại bị Hoa Kỳ
gây sức ép từ bên ngoài, với Ngũ giác đài liên tục báo động về mối nguy
Trung Quốc. Sau nhiều năm yên thân nhờ Hoa Kỳ bị vướng bận với chuyện
khủng bố, ngày nay, các đấng con trời có cảm giác như chính quyền Bush
đã rảnh tay và quay ra kiếm chuyện. Chi bằng, hãy tặng lại cho chính
quyền đáng ghét ấy một nắm vỏ chuối Bắc Hàn, với sự cổ võ ngầm của Tổng
thống Vladimir Putin: cho hết cái thói phát huy dân chủ vào tới Trung
Á, Georgia và Ukraine!
Với đòn hù của Bình Nhưỡng, Hoa Kỳ sẽ
phải quay về đối phó với các nước hung đồ thay vì hỏi giấy Trung Quốc
hay Liên bang Nga về chuyện nhân quyền hay dân chủ.
Lý lẽ rất
hợp lý của chế độ Bình Nhưỡng là điều gì đó mà lý trí dân chủ không thể
hiểu nổi. Và chế độ đoán đúng, ngay sau khi pháo nổ, chính quyền Bush
bị đảng Dân chủ đả kích và đòi hỏi phải đối thoại với Bắc Hàn.Nhưng kết
quả gần xa của chuyện này sẽ ra sao?
Sau mùa pháo bông
Ba tuần sau khi bơm dầu chuẩn bị, Bắc Hàn bắn pháo bông vào đúng ngày Quốc khánh Hoa Kỳ và gây chấn động ngoại giao ở khắp nơi.
Trong
hai ngày mùng bốn mùng năm tháng Bảy và từ hai nơi, Bắc Hàn đã bắn ra
bảy hỏa tiễn. Sáu hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung được bắn lên từ căn cứ
Kitdaeryong tại Anbyon thuộc tỉnh Kangwon ở phiá Nam và một hỏa tiễn
tầm xa là Đại pháo đồng 2 được phóng lên từ căn cứ Musudan-ri, ở phía
Bắc. Căn cứ này được dư luận chú ý theo dõi từ mấy tuần qua.
Nếu
sáu hỏa tiễn loại ngắn và trung đã bay đúng tuyến và rơi xuống Đông
hải, gần lãnh thổ Trung Quốc hơn lãnh thổ Nhật, thì hoả tiễn Đại pháo
đồng 2 lại không cháy nổi tới tầng hai, và chỉ 35 giây sau là bắt đầu
hạ cánh, vài phút sau thì rơi xuống biển, gần lãnh thổ Liên bang Nga,
Trung Quốc và Nhật Bản. Cho đến nay, dư luận chưa rõ là vì sao Đại pháo
đồng đã thành đại pháo tép. Điều kiện kỹ thuật chưa tới hay mục tiêu
chính trị đã đủ? Giới chuyên gia cho rằng giả thuyết thứ nhất có thể
đúng hơn.
Việc Bắc Hàn đồng loạt phóng ra một chùm hỏa tiễn dài
ngắn khác nhau vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Các hoa tiễn tầm ngắn,
loại Scud hay Lao động Rodong được bắn lên để thăm dò phản ứng của Hoa
Kỳ, hay để gây hỏa mù và đánh lạc hướng sự xuất hiện của Đại pháo đồng?
Lý do chính có thể là Bắc Hàn cùng lúc thử nghiệm các hoả tiễn tầm ngắn
lẫn tầm dài và thăm dò phản ứng chung về chính trị thay vì mỗi kỳ lại
thử một thứ.
Xét trên bề mặt thì Bắc Hàn đã đạt mục tiêu thử
nghiệm kỹ thuật của các hoả tiễn tầm ngắn và chứng tỏ khả năng của mình
nếu có cần bắn tới lãnh thổ Nhật. Khai thác kết quả đợt này, Bắc Hàn có
thể tạm ngưng thử nghiệm trong ít lâu và dùng đó làm vật trao đổi khi
phải thương thuyết với các nước liên hệ.
Nhưng, như lời hăm
dọa được đưa ra sau khi phóng hoả, Bắc Hàn vẫn có thể thử nghiệm tiếp
loại hỏa tiễn tầm ngắn dựa trên cơ sở của những dữ kiện mới thu thập
được và sẽ thử thêm một Đại pháo đồng. Tuy nhiên, thất bại của Đại pháo
đồng 2 mới là điều đáng cho Hoa Kỳ chú ý. Mục tiêu tầm ngắn thì có thể
đạt được chứ hỏa tiễn tầm xa thì chưa tới đâu cả: sẽ còn nhiều năm
trước khi Bắc Hàn có thể bắn tới lãnh thổ Hoa Kỳ.
Thực tế kỹ thuật ấy dẫn tới nhiều thực tế ngoại giao chính trị khác cho toàn khu vực.
Trước tiên là cho chính quyền Hoa Kỳ.
Có
lẽ am hiểu thực tế kỹ thuật của chuyện pháo bông Đại Hàn, chính quyền
Bush không nghe lời khuyên của cựu Tổng trưởng và Phụ tá Tổng trưởng
Quốc phòng thời Clinton là các ông William Perry và Ashton Carter - hai
chuyên gia về đối sách hoà dịu với Đại Hàn của chính quyền Clinton - là
bắn hoả tiễn tiêu diệt luôn Đại pháo đồng của Bắc Hàn trên dàn phóng.
Hãy tưởng tượng xem dư luận thế giới và đảng Dân chủ sẽ ồn ào thế nào
nếu Mỹ lại "tiên hạ thủ" như hai nhân vật trên đề nghị trong một bài
viết chung trên tờ Washington Post số ra ngày 22 tháng Sáu!
Bắc Hàn có thể chơi dại, chứ chính quyền Bush thì không.
Và giờ đây có thể ngồi yên khai thác thành quả.
Thành
quả thứ nhất là sự bất nhất của đảng Dân chủ trong cách ứng phó với
Bình Nhưỡng. Sau khi lỡ dại nuôi cọp đói rồi, các nhân vật am hiểu của
đảng giờ đây lại đề nghị hoặc xông vào bẻ nanh cọp bằng võ khí, hoặc ôn
tồn đối thoại tay đôi cho cọp khỏi điên.
Thành quả thứ hai là sự lúng túng của chính quyền Roh Moo Hyun của Nam Hàn.
Chính
quyền này còn bị choá mắt bởi "Nhật quang Chính sách" và muốn nói
chuyện ôn hoà với miền Bắc hầu giúp chế độ Bình Nhưỡng hạ cánh an toàn
thay vì khủng hoảng và sụp đổ, khiến Nam Hàn sẽ lãnh họa lây. Chuyện
ấy, có thể thông cảm được, nhưng hoà hoãn với địch mà gay gắt với đồng
minh thì cũng có điều bất tiện. Bây giờ, Hán Thành phải xẵng giọng và
quyết định chấm dứt viện trợ cho Bình Nhưỡng. Với đà này, đảng Uri sẽ
nhiều phần thất cử.
Thành quả thứ ba là sự xuất hiện chính đáng và khả tín của một cường quốc quân sự là Nhật Bản.
Sau
vụ pháo bông, Nhật Bản là quốc gia vận động ngoại giao mãnh liệt nhất
để đòi Liên hiệp quốc ra nghị quyết trừng phạt. Hoa Kỳ và Anh với Pháp,
ba hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, ôn tồn đứng
sau ủng hộ. Với Nhật Bản đứng trên tuyến đầu, lập trường nước đôi của
Trung Quốc và Liên bang Nga càng tỏ lộ. Mặc dù hoả tiễn Bắch Hàn rơi
gần lãnh thổ, hai chính quyền Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa chỉ kết án đằng
mồm chứ không đòi Liên hiệp quốc có biện pháp trừng phạt cụ thể, điều
ấy, dư luận thế giới đều sẽ nhận ra.
Người ta đành phải kết
luận: hai cường quốc này thiếu tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề
nghiêm trọng của quốc tế; hoặc nhẹ nhất, hai chế độ đỡ đầu và viện trợ
cho Bắc Hàn không thể ảnh hưởng đến Bình Nhưỡng; nặng hơn nữa, hai chế
độ này cứ tri hô rằng Hoa Kỳ mới là mối nguy cho an ninh Đông Á chứ
thực tế, họ vẫn hà hơi tiếp sức cho Bình Nhưỡng!
Địa chấn Đông Á
Nhưng,
thành quả của chính quyền Bush vẫn chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện lớn hơn là
Bắc Hàn đã vô tình tháo chốt cho một cơn địa chấn Đông Á.
Từ
nhiều năm nay, Nhật Bản đã không chấp nhận được hoàn cảnh cường quốc
kinh tế và chủ chi hạng sang cho toàn khu vực Đông Á. Nước Nhật muốn có
tư thế ngoại giao tương xứng với thế lực kinh tế của mình, và có khả
năng bảo vệ quyền lợi chiến lược bằng phương tiện quân sự trước sự lớn
mạnh của Trung Quốc. Cả hai nước đều chú ý đến chuyện năng lượng và tầm
quan trọng của hàng hải và Nhật Bản không thể để Trung Quốc khống chế
Đông Hải và kiểm soát luồng chuyển vận hàng hoá ngoài Thái bình dương.
Nhật
Bản đã từng đưa hải đội ra khỏi vùng cận duyên, xuống tuần tiễu eo biển
Malacca để ngăn ngừa hải tặc. Nhật Bản cũng lần đầu tiên kể từ Thế
chiến II gửi quân sang một nước khác: Iraq - để hỗ trợ Hoa Kỳ! Nhưng,
Nhật Bản có quân mà không có quân đội, chỉ có một Lực lượng Tự vệ (Self
Defense Force)!
Ngày nay, hơn 70% dân Nhật cho biết là phải xác
định vai trò của Lực lượng Tự vệ cho rõ hơn và 56% tin là phải tu chính
Hiến pháp để minh định chức năng của lực lượng này. Sau Thế chiến II,
khi giải giới nước Nhật, Hoa Kỳ soạn thảo Hiến pháp Nhật với quy định
rõ ràng ở điều 9 là Nhật Bản không được có quân đội mà chỉ có một lực
lượng phòng vệ mà thôi.
Ngày nay, đa số dân Nhật đã đồng ý là phải xét lại điều ấy.
Các
lãnh tụ đang có hy vọng kế nhiệm Thủ tướng Unichiro Koizumi sẽ về hưu
vào tháng Chín này đều có chung một nét chính: nghi ngờ và gay gắt với
Bắc Kinh và muốn thúc đẩy tiến trình tái võ trang Nhật Bản. Việc hoả
tiễn Bắc Hàn cứ bay qua đầu Nhật Bản trong khi đặc vụ Bắc Hàn cứ xâm
nhập lãnh thổ Nhật để phá rối là một điều không chấp nhận được vì quá
nguy hiểm. Nếu Bắc Kinh không khuyên giải mà còn xúi giục Bình Nhưỡng,
Tokyo sẽ phải tự lo lấy thân.
Kim Chính Nhật vừa góp phần quyết
định cho Nhật Bản tiến xa vào lãnh vực quốc phòng, với hệ thống phòng
thủ hỏa tiễn và kiểm soát hải lưu. Việc Hoa Kỳ tiếp tay cho kế hoạch ấy
là chuyện hiển nhiên. Hai nước cựu thù 60 năm trước nay đang là đồng
minh chí thiết, Tổng thống Bush nhấn mạnh điều ấy nhiều lần khi đón
tiếp Thủ tướng Koizumi, với phong cách long trọng và thân mật hơn cách
đón Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cách đây mấy tháng!
Một khi cây dù của Nhật Bản được giương lên tại Đông Á, Đài Loan cũng sẽ nằm dưới tầm bảo vệ ấy.
Chưa
kể tới sự hiện diện rất đáng ghét của Hải đội Hoa Kỳ ngoài Thái bình
dương, nay có lý do chính đáng hơn để canh chừng an ninh Đông Bắc Á.
Đại pháo đồng là cái lý hay cái cớ thì chưa ai biết được. Lỡ biết quá
trễ thì sao?
Bắc Kinh tính sao?
Trung Quốc e sợ một nước
Đại Hàn thống nhất có thủ đô là Hán Thành và có sức mạnh kinh tế làm
toàn vùng Đông Bắc của mình bị xoay chuyển. Việc duy trì chế độ Bắc Hàn
vì vậy là điều có lợi cho các đấng con trời. Nhưng duy trì như thế nào
để Bắc Hàn không bị khủng hoảng và sụp đổ như Liên xô và chỉ gây rối
cho xứ khác mà không ảnh hưởng tới quyền lợi hay an ninh của mình? Hoa
Kỳ có bị lúng túng về chuyện Bắc Hàn trước thái độ ỡm ờ của Trung Quốc,
nhưng nhìn xa hơn tầm pháo bông, nỗi lúng túng của Bắc Kinh mới là điều
đáng theo dõi trong những năm tới.
Nghệ thuật sai khiến âm binh là một trò chơi truyền thống của văn hóa chính trị đầy tính thần bí của Trung Quốc.
Chuyện phù thủy non tay bị vật cũng vậy!