Sau khi mon men mãi ở cửa biển, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào luồng
trao đổi tự do của thế giới như người giăng buồm ra khơi. Ngoài đại
dương sẽ có cá lớn, nhưng cũng có sóng cả...
Triển vọng và rủi ro đều có đấy và có thể thấy trước được từ kinh nghiệm của các nước khác, nếu như muốn chịu mở mắt.
Thực
ra, người dân đã mở mắt và muốn biết vì đã từng lấy nhiều rủi ro rồi
tạo ra một phép lạ kinh tế khiến chế độ khỏi sụp đổ và giúp cho lãnh
đạo nói phét về thành tích đổi mới.
Điều đáng tiếc là lãnh đạo
chậm hiểu lại đa nghi, mưu vặt và tự hài lòng quá lâu trong vùng nước
lợ ngoài cửa biển. Vì vậy, từ 2004, năm nào cũng thông báo là năm nay
sẽ gia nhập WTO mà chuyện không thành. WTO trở thành mục tiêu di động,
một tiêu chuẩn chứng tỏ rằng lãnh đạo đã văn minh và Việt Nam đã thành
hiện đại. Người ta đã lầm lẫn danh và thực.
Bây giờ, ngày ra
khơi đã tới, người dân sẽ được xua ra biển cạnh tranh… chúng ta học
được gì từ kinh nghiệm học bài quá chậm ấy của Hà Nội?
Hà Nội
nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ đầu năm 1995 (ngày
bốn Tháng Giêng). Mãi đến ba năm sau (Tháng Ba 1998) mới bắt đầu tìm
hiểu và đi vào thủ tục thảo luận, rồi từ 2003 mới thực sự "dọn mình"
cho chuyến hải hành sau khi đắn đo vừa tiến vừa lùi với Hiệp định
Thương mại Song phương ký kết cùng Hoa Kỳ.
WTO là một câu lạc
bộ 149 quốc gia cùng thỏa thuận với nhau về nguyên tắc tự do kinh tế và
xứ nào muốn gia nhập thì phải tuân thủ những quy tắc đã thống nhất của
tất cả các hội viên. Vì vậy mới có việc thảo luận đa phương với nhóm
đại diện các hội viên và song phương với những quốc gia có nêu vấn đề.
Trong
việc gia nhập, không có chuyện mặc cả là tôi cho cái này nhưng đòi cái
khác như trong một thương ước song phương, một hiệp định thương mại
giữa hai nước, mà là chuyện tôi hứa tuân thủ những quy định của WTO,
chỉ xin thông cảm ở điều kiện thực thi vì hoàn cảnh riêng. Theo kiểu
con cá nó sống vì nước…
Việt Nam quen với chuyện "xin-cho", lần đầu phải xin và được cho, với điều kiện.
Cửa
ải khó nhất và sau cùng là Hoa Kỳ coi như đã lọt, nay chỉ còn bản văn
chi tiết, cầu mong được ký trước khi khai mạc hội nghị cấp Bộ trưởng
Thương mại của Diễn đàn Kinh tế Á châu Thái bình dương APEC, sẽ triệu
tập tại Hà Nội vào hai ngày đầu tháng Sáu. Sau đấy là hoàn tất việc
thương thảo đa phương với WTO vào tháng Bảy này, đồng thời xin Quốc hội
Mỹ chấp nhận quy chế mậu dịch bình thường một cách vĩnh viễn, thay vì
phải được đặc miển từng năm. Nếu mọi việc trót lọt, cuối năm nay Việt
Nam đã có thể hội nhập trong thực tế, thay vì chỉ nghe lãnh đạo nói đến
chuyện hội nhập trong nghị quyết. Phải hơn 30 năm sau chiến tranh mới
bơi đến đó là một chuyện đáng buồn, nhưng vẫn được người trong cuộc nổ
xâm banh ăn mừng sau khi đạt thỏa thuận nguyên tắc tại Washington vào
ngày 14 vừa qua.
Việc thương thuyết với Hoa Kỳ có thể là một bài học cho nhiều người.
Từ
đầu năm 2006, Hà Nội đã thèm đạt thỏa thuận với Hoa Kỳ ngay từ kỳ họp
thứ 11. Phiá Mỹ chưa muốn Hà Nội làm show nên đòi họp tại Genève không
tại Hoa Kỳ. Đến kỳ thứ 12, khi phái đoàn Việt Nam được họp tại Mỹ,
chuyện đã chín mùi. Hà Nội sẽ gật, gật lấy gật để. Lại chuyện ông Hồ
nửa đêm ký vội với Marius Moutet 60 về trước.
Trong hội nghị,
bên nào mà nóng ruột tự đặt ra thời hạn là bên đó "thua". Pierre
Mendès-France đã thua tại Genève 1954 theo kiểu ấy. Lần này, Hà Nội
hiểu ra rằng kỹ thuật đàm phán cũng áp dụng trong kinh tế, cho kẻ nhập
môn.
Sở dĩ nhắc đến chuyện ông Hồ ký vội vì cái không khí đi đêm mờ ám hơn là mờ ảo do Hà Nội tạo ra.
Trong hội nghị Mỹ-Việt vừa qua, hai bên thương thuyết là những ai?
Phiá
Hoa Kỳ là Văn phòng của Đại sứ Thương mại. Hoa Kỳ có cơ chế rất dung dị
theo lối thực tiễn và được việc. Đại sứ Thương mại là nhân vật ngang
hàng Bộ trưởng, hiện diện trong Hội đồng Nội các, dưới quyền chỉ huy
của Phủ Tổng thống, được Tổng thống chỉ định với sự phê chuẩn của Quốc
hội.
Đây là cơ chế đại diện Hoa Kỳ trong các cuộc thương thuyết
về ngoại thương với thế giới và những thoả thuận sau đó phải được Quốc
hội thông qua. Hoa Kỳ muốn được việc - tự do mậu dịch - nên trong nội
bộ, Hành pháp xin cho cơ chế này được rộng quyền thương thảo, nhưng
Quốc hội vẫn trực tiếp giám sát và cơ chế này không thương thảo thay
cho Tổng thống Mỹ mà thay cho nước Mỹ.
Vì vậy, Đại diện Thương
mại Hoa Kỳ là người làm dâu trăm họ. Trong mọi việc thương thảo, họ
phải thu thập ý kiến của tư nhân, doanh giới, của tất cả các bộ liên
hệ, từ Ngoại giao, Thương mại, Tư pháp, Quốc phòng, và phải thường
xuyên thông báo kết quả với Quốc hội. Nói cách khác, đây là mũi nhọn
của nền dân chủ Mỹ khi phải thỏa thuận với bên ngoài, là đại diện chân
chính của mọi thành phần liên hệ.
Bên phiá Việt Nam, Bộ Thương
mại là đại diện của Chính phủ. Chính phủ là công cụ của đảng Cộng sản
Việt Nam và không làm gì nếu không có sự đồng ý của đảng. Viên chức
thương thảo không thoát ra khỏi sự kiểm soát của đảng và giám sát của
công an. Tội nghiệp cho họ.
Ưu thế của một phe khỏi cần hỏi ý
kiến ai trừ thiểu số lãnh đạo của đảng, với một phe chỉ là dại diện cho
nhiều thành phần khác nhau, ưu thế ấy có thể giúp Hà Nội trong chính
trị. Trong kinh tế, nó là trò khôi hài. Nó là chuyện bi hài: những
người liên hệ, doanh nhân, công nhân, nghiệp đoàn và người dân nói
chung không hề biết gì về những cam kết hay luật chơi của thế giới,
được lãnh đạo thỏa thuận với Hoa Kỳ.
Nói chuyện dân chủ thì lãnh
đạo Việt Nam cau mày, nhưng sự lạc hậu của Việt Nam xuất phát từ đấy.
Và một bài học mà nhiều người đã thấy ngay tại Hà Nội: phải thông tin
cho rõ ràng, minh bạch và mau chóng hơn cho mọi người.
WTO sẽ
chấm dứt chế độ bưng bít, đầu cơ thông tin để trục lợi. Một thí dụ là
sẽ hết cảnh lén lút chia chác hạn ngạch quota để xuất cảng hàng dệt
sợi! Đó là bài học nhập môn của chuyện hội nhập.
Kế tiếp, chúng ta còn nhiều bài học khác.
Lần
đầu tiên trong lịch sử, tình trạng phép vua thua lệ làng sẽ phải chấm
dứt. Phép vua hay quyền đảng từ nay sẽ thua một uy quyền vô hình mà lớn
hơn gấp bội: hệ thống luật lệ quốc tế do các nước WTO tự đặt ra với
nhau. Lãnh đạo Việt Nam không thể tiện thiện làm luật theo lối nấu rượu
lậu hay chế thuốc gia truyền, vừa làm vừa giấu. Nghĩa là đảng quyền
không được khống chế pháp quyền nhà nước và pháp quyền phải trở thành
công minh, công bằng minh bạch, được cả thế giới kiểm chứng. Nhờ vậy,
may ra người dân sẽ có thêm một chút quyền trong việc soạn thảo luật lệ
chi phối cuộc sống của mình - nếu như Quốc hội có xương sống.
Kế
tiếp, khu vực xương sống của kinh tế quốc dân - doanh nghiệp nhà nước,
kể cả các ngân hàng - sẽ mất thế độc quyền hay được bảo vệ trong hoạt
động thương mại. Nếu doanh nghiệp nước ngoài có vào liên doanh với các
cơ sở quốc doanh thì họ cũng sẽ áp dụng quy luật thị trường chứ không
chấp nhận lề lối kinh doanh theo diện "chánh sách" của nhà nước.
Khi
đầu tư vào Việt Nam, các doanh nghiệp ngoại quốc sẽ hết bị hạn chế về
nhập cảng và tạo ra sức hút rất cao về nhập cảng nhưng cũng có thể là
nhà xuất cảng. Họ vào Việt Nam, sản xuất cho thị trường nội địa (không
nhỏ dù còn nghèo) hoặc tái xuất cảng ra ngoài. Trong ngần ấy giai đoạn
quản trị, họ tạo thêm việc làm và sự thịnh vượng cho Việt Nam nhưng
cũng đòi hỏi luật lệ công bằng minh bạch.
Chẳng những chuyện
phù phép bằng phong bì, hối lộ và tham ô, sẽ phải giảm, tình hình cạnh
tranh cũng trở nên kịch liệt hơn. Xuất cảng dễ hơn thì cũng phải cạnh
tranh mạnh hơn với hàng nhập cảng. Đồng tiền phải có hai mặt và trương
mục kế toán phải có hai cột!
Đồng thời, chế độ bao cấp phải lui
sân vì mọi trợ cấp thái quá sẽ bị cắt. Người ta chỉ nói đến việc bốn tỷ
trợ cấp cho ngành dệt sợi đã phải bỏ mà quên là còn nhiều thứ trợ cấp
khác cũng lần lượt lọt vào sổ đen. Tinh thần tựa lưng vào nhà nước nhờ
thế lực của đảng sẽ phải chấm dứt dần.
Lúc ấy, ai sẽ tài trợ quỹ đảng?
Việc
Việt Nam giong buồm ra khơi sẽ gây rất nhiều đổi thay trong lề lối sinh
hoạt, trước tiên là trong guồng máy công quyền, từ chỗ làm luật đến chỗ
thực thi luật pháp. Điều ấy tất nhiên đòi hỏi cải cách chính trị và
thúc đẩy việc kiện toàn luật lệ: nó sẽ minh bạch hoá nếp sinh hoạt và
lề lối quyết định của chính phủ, khiến người dân phải được biết về luật
và lệ sẽ chi phối sinh hoạt của mình, sẽ có thêm quyền tự do. Trước
tiên, nó giúp cho nhà nước trở thành văn minh hơn và bớt khinh dân.
Marx
nói trăm điều hồ đồ mà có một điều lại bất ngờ đúng: sinh hoạt kinh tế
mở rộng đang gián tiếp giúp cho sự hình thành của chế độ pháp trị, chế
độ cai trị bằng luật pháp công minh. Nhờ vậy mà dân trí sẽ được nâng
cao.
Người dân sẽ làm gì với quyền hạn mới thì còn tùy dân khí và… vận nước.
(Ngày Nay - 23, 05, 2006)