Bán mình chuộc cha
Theo Đàn Chim Việt - Tuệ Chương - 03-05-2006
Ai đã từng đọc hay học Truyện Kiều đều biết “Bán Mình Chuộc Cha” là
việc hiếu của Cô Kiều. Vương Ông và Vương Quan mắc nạn, bị tù vì thằng
bán tơ vu oan giá họa. Muốn hai cha con ra khỏi tù, gia đình cô Kiều
phải lo “thủ tục đầu tiên”. Không phải bây giờ ở Việt Nam mới có “thủ
tục đầu tiên”. Cái tục ấy đã có từ lâu lắm, ở trong bất cứ xã hội nào
cũng vậy thôi. Giai cấp cầm quyền có cái thói hay hỏi thủ tục nầy, dù
ngày xưa là “trị dân”, “giáo dân” hay “phụ mẫu chi dân” còn ngày nay
dưới chế độ Cộng Sản thì “phục vụ nhân dân”.
Gia đình cô Kiều không giàu, chỉ “thường thường bậc trung” (Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung) mà quan thì đòi “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong”.
Chạy đâu ra ba trăm lạng bây giờ? Chỉ còn một cách: Kiều bán mình cho
ai giàu có, mua Kiều về làm vợ bé, ở đợ gì cũng được, miễn gia đình
Kiều có “ba trăm lạng” để chuộc hai cha con.
Có Mã Giám Sinh mua Kiều, mụ mối cho người mua xem Kiều, coi thử Kiều
xấu đẹp, tài giỏi như thế nào, có đáng để bỏ vàng ra mua không! Cách
xem hàng diễn ra như thế nầy:
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai
Đắn đo cân sắc, cân tài
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Vài nhà phê bình văn học chê hành động nầy, bà mối giới thiệu Kiều như
giới thiệu một con vật, mua bán người như mua bán loài vật vậy.
Vậy mà!...
Mới đây, một nhật báo của Hàn Quốc đăng một bức hình mười mấy cô gái Việt
“trình diện” để ba anh chàng Đại Hàn mua về làm vợ. Không biết ba anh
chàng Đại Hàn nầy có “vén tóc, bắt tay” như khi Mã Giám Sinh mua Kiều
hay không! Thời xưa là thời phong kiến, thời bây giờ là thời “cách mạng
xã hội chủ nghĩa”, có ai thấy thời nay khác xưa như thế nào, tiến bộ
như thế nào, văn minh như thế nào, tôn trọng nhân phẩm đàn bà như thế
nào?!
Mã Giám Sinh mua Kiều với giá bốn trăm lạng, ba trăm đem chuộc cha và
em, còn một trăm để lại cho cha mẹ, đại để như ngày nay, mấy cô lấy
chồng Đài Loan, Đại Hàn cũng với mục đích kiếm cho cha mẹ một ít tiền
vậy.
Thế rồi Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Truy, Kiều vào lầu xanh lần thứ
nhứt, bắt đầu một cuộc đời 15 năm lưu lạc, thanh lâu hai lượt, thanh y
hai lần, v.v….
Thực ra, trong thâm tâm, Kiều nghĩ “bán mình chuộc cha” là để làm vợ bé
Mã Giám Sinh. Chính Mã cũng nói với mọi người rằng mua Kiều về làm hầu
thiếp chớ không phải về làm “gái lầu xanh”. “Gái lầu xanh” là nói cho
văn vẻ, nói trắng ra là làm gái điếm, làm đĩ. Làm đĩ là chữ tục, trong
văn chương thường không nói, nhưng chính cụ Ưng Bình cũng đã có lần
viết: “Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời”.
 |
Sở Khanh thời đại - Nguồn: tuoitre.com.vn
|
Khi
về tới nhà Tú Bà, vợ Mã Giám Sinh, Tú Bà bắt Kiều tiếp khách, Kiều mới
tá hỏa ra cô ta bị gạt, bị lường, cũng giống như mấy cô gái Việt Nam
ngày nay qua Đài Loan hay qua Đại Hàn, Căm-pu-chia (Cambodia) vậy. Họ
tưởng là đi làm thuê, đi lao động; nhưng qua tới xứ người, thân cô thế
cô, chủ nó bắt làm đĩ thì không làm đĩ cũng không được, đành phải chịu
vậy!
Cô Kiều ngày xưa cũng y thế. Nhưng Kiều đoạn trường hơn, Kiều cứng hơn. Không chịu tiếp khách, bèn “Thương ôi, tài sắc bậc nầy, Một dao oan nghiệt, dứt giây phong trần!”.
Có nghĩa là Kiều tự tử mà… không chết. Cuối cùng vì Kiều bị mắc lừa Sở
Khanh nên phải thuận tiếp khách làng chơi. Trước khi bước vào cuộc đời
mới nầy, Kiều nói một câu thấm thía cho đời cô mà cũng thấm thía cho
người đời sau:
Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa.
Về câu nầy, trong sách “Truyện Thúy Kiều” của Trần Trọng Kim, cụ Kim chú thích như sau:
“Câu nầy có ý mỉa mai, xót xa lắm. Ông Nguyễn Lang đời trước đọc đến
câu nầy có phê rằng: “Đến sự trinh bạch mà có khi phải xin hối, xin
chừa thì trò đời nghĩ cũng đáng bật cười thật!”.
Tôi thì không thể “bật cười” mà cũng không thể bật khóc, nhưng nếu có suy nghĩ thì suy nghĩ lung lắm:
Việc trung hiếu là việc của con trai, việc chung thủy, tiết hạnh là
việc của con gái. Trong Lục Vân Tiên, ở đoạn mở đầu, cụ Đồ Chiểu đã xác
định rõ ràng như vầy:
Trai thời trung, hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Việc “bán mình chuộc cha” là việc hiếu, là việc của con trai, đâu có
phải là việc của con gái như cô Kiều. Hiềm nỗi, quan trên bắt giam cả
hai cha con: Vương Ông và Vương Quan. Nhà chỉ còn lại mẹ và hai cô
Kiều, trong đó Thúy Kiều là chị cả (Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân).
Vả lại, Vương Quan dù không bị bắt cũng chỉ là con út (Một trai con thứ rốt lòng),
chắc chẳng làm nên tài cán gì. Thúy Vân là em, khả năng cũng chỉ có
vậy. Vợ Vương Ông chắc chẳng làm nên nông nỗi gì. Thành ra, gánh nặng
đổ lên vai Kiều, Kiều phải vác!
Đó là việc Kiều bán mình, coi như xong. Nhưng tại sao Kiều muốn giữ hai
chữ tiết hạnh mà không giữ được. Không những không giữ được mà Kiều còn
nói câu “Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa”.
Tại sao cô Kiều nói một câu đau lòng và thê thảm như vậy? Ai cũng muốn
làm người (ở đây chữ người viết thường hay viết hoa cũng được), muốn
sống cho sạch, muốn sống tốt lành, chớ ai muốn sống xấu xa nhơ nhớp làm
gì?! Con cò mẹ còn biết nói “Có xáo thì xáo nước trong, đừng xáo nước
đục đau lòng cò con”, huống chi con người. Vậy mà Kiều xin chừa sự
trinh bạch, thì cuộc đời như cụ Kim nói, đúng là “mỉa mai” lắm vậy.
Cái xã hội phong kiến độc ác ngày xưa, “trọng nam khinh nữ” đã đành mà
lại còn chà đạp nhân phẩm người đàn bà quá lắm. thật là một xã hội đáng
chê trách, phải từ bỏ nó đi, xây dựng lại một xã hội mới, qua đó, mẹ
của mình, chị, em gái của mình được tôn trọng nhân phẩm, được sống tốt
lành chớ không như Thúy Kiều bị xã hội ruồng rẫy, chà đạp.
Với một tinh thần ý chí như thế, khi người ta nghiên cứu về chủ nghĩa
Mác, chủ nghĩa Cộng Sản nói chung, người ta dễ bị lôi cuốn, lầm lẫn.
Ngay trong năm 1975, đọc sách phê bình văn học của những tác giả lớn,
tác giả bé ở miền Bắc phê bình truyện Kiều, thấy họ đã phá xã hội phong
kiến thời cô Kiều và vẽ ra hình ảnh một xã hội mới, tuyệt đối sẽ không
có một cô Kiều nào cả thì những người như tôi, từng đọc Kiều, học Kiều
cũng thấy phấn chấn lắm. Làm sao người ta có thể chấp nhận một xã hội
qua đó, Tú Bà, Mã Giám Sinh là lớp trên.
Ngày nay, ba mươi năm nhìn lại, bỗng giật mình. Ngày xưa, chỉ có một Tú
Bà, một Mã Giám Sinh. Ngày nay, ai là Tú Bà? Ai là Mã Giám Sinh?
 |
Văn phòng Tú Bà thời đại hậu Hồ Chí Minh - vietnamnet.vn
|
Muốn
trả lời câu hỏi nầy thì lại phải hỏi thêm những “Công Ty Môi Giới” xuất
hiện nhan nhản ở cái gọi là “Thành phố Hồ Chí Minh”, ở Hà Nội, ở các
tỉnh lớn đang giữ nhiệm vụ gì? Ngày xưa “Gần miền có một mụ nào, Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh”.
Mụ đây là mụ mối, người viễn khách là khách ở xa, ở Lâm Truy. Viễn
khách ngày nay là bên Đài Loan, Đại Hàn. Vậy thì mụ mối đời bây giờ là
“Công Ty Môi Giới” chớ còn gì đó nữa.
Ngày xưa, làm mối, làm mai là nghề xã hội, là “cá thể”, không ai hỏi
giấy phép hay môn bài gì cả. Ngày nay “Công Ty Môi Giới” phải được
chính quyền cộng sản Việt Nam cấp giấy phép hoạt động, chưa nói tới
việc còn được nhà nước cộng sản hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp. Mụ mối
giúp Mã Giám Sinh mua Kiều, vậy thì “Công Ty Mội Giới” giúp gì, giúp
cho ai? Cứ suy luận như thế thì rõ ràng ai cũng thấy Tú Bà, Mã Giám
Sinh đời bây giờ chính là… chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Về việc nầy,
người ta có thể chứng minh bằng câu cô Kiều nói với Sở Khanh: “Rõ ràng mặt ấy, mặt nầy chứ ai?!”.
Mấy cô Kiều đời nay cũng có thể nói ngay với “Công Ty Môi Giới” hay với
cấp trên của công ty là chính quyền cộng sản rằng: “Ai bán tôi qua Đài
Loan làm đĩ?”. Còn gì nữa mà thắc mắc: “Rõ ràng mặt ấy mặt nầy chứ ai?!”.
Hồi còn chế độ Việt Nam Cộng Hoà, cộng sản Hà Nội thống kê rằng miền
Nam có ba trăm ngàn gái điếm. Đó là mối nhục cho dân tộc Việt Nam. Dĩ
nhiên, chẳng đẹp mặt đẹp mày gì cho một xã hội có nhiều gái điếm. Nhưng
người ta còn có lý do để giải thích: Chiến tranh. Chiến tranh Việt Nam
hết sức khốc liệt. Với vũ khí hiện đại từ bên ngoài đưa vào, người Việt
chúng ta giết chóc nhau rất “tận tình”. Không nơi nào là không có súng
đạn, không nơi nào không phải là trận địa. Đó là hậu quả đương nhiên
của một thứ chiến tranh do cộng sản phát động: Chiến tranh nhân dân. Ở
thành phố tương đối yên hơn. Do đó, người dân quê bỏ ruộng vườn lên
thành phố sinh sống, tạm thời tránh súng đạn. Lên thành phố, nhiều đàn
bà con gái không có chữ, không có nghề, đành phải bước vào cảnh “bán
trôn nuôi miệng”.
Ngày nay thì không còn chiến tranh, hòa bình rồi, như cộng sản tuyên
truyền. Vậy mà tại sao gái điếm không những không ít đi mà lại còn…
nhiều hơn gấp bội hồi xưa?
Với người Cộng Sản, việc nầy không phải lỗi ở… họ.
Nó là “tàn dư Mỹ Ngụy” đấy mặc dù Mỹ Ngụy đã sụp đổ ở miền Nam cách nay
hơn ba mươi năm rồi. Người Miền Nam sống dưới chế độ Mỹ Ngụy quen thói
lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng, bóc lột. Ngày nay dưới chế độ cách
mạng họ không thích ứng được vì những thói quen xấu đã tiêm nhiễm ngày
xưa.
Với đồng bào miền Nam, họ cho là “tàn dư Mỹ Ngụy”, vậy thì đồng bào
Miền Bắc, bên kia vĩ tuyến 17, không sống dưới chế độ chính trị miền
Nam, ảnh hưởng chế độ tư bản dơ bẩn, tại sao cũng có người qua Đài Loan?
Ấy là tại họ đấy chứ? Sau khi “giải phóng” miền Nam, một số người Bắc
có cơ hội tiếp xúc với người Miền Nam nên bị ảnh hưởng đó thôi. Cái
xấu, như một thứ bệnh hay lây, dễ truyền từ người nầy sang người khác.
Những điều tôi nói ở trên là lý luận của mấy “ông” cán bộ Cộng Sản, tôi
từng nghe không biết bao nhiêu lần, từ “chú” bộ đội “phơi cà-rem” tới
“anh công an” rất thích “ba số”, tới ông cán bộ “cái đài cái đổng cái
đa”. Tất cả họ đều lý luận theo một bài bản như nhau rằng những cái xấu
xa đó là do Mỹ Ngụy hết. Còn những người Cộng Sản cầm quyền thì chẳng
bao che, chẳng giúp đỡ, chẳng chủ trương, chẳng có trách nhiệm gì đối
với việc họ ký giấy cho mấy cô Kiều đời nay lên máy bay đem thân lưu
lạc nơi xứ người!
Trong bài “Chờ Đợi minh quân, tôi có trích một đoạn trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim như thế nầy:
“Lại có một hôm, Thánh tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có
Động thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh tông chỉ vào công chúa mà
bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm
vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày
về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bới đi.”
“Vua Thánh tông có nhân như thế, cho nên trăm họ mến phục, trong đời Ngài làm vua ít có giặc giã….”.
(Việt Nam Sử Lược, Cuốn 1, trang 99)
“Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy!”
Vua yêu dân như con, còn “đảng và nhà nước ta” yêu dân như thế nào?
 |
Hoàng Đế Cộng hoà Trung Phi Bokassa I (Salah Eddine Ahmed Bokassa hay Jean-Bédel Bokassa) - Nguồn: en.wikipedia.org
|
Khoảng
năm 1970, Tổng Thống Bokassa của nước Congo cho đi tìm lại một đứa con
rơi của ông ở Việt Nam. Bokassa từng đi lính Pháp, khi ông đóng “loong”
đội (trung sĩ) ở Biên Hòa, ông có lấy một người đàn bà Việt Nam làm vợ
và có một con gái. Khi về nước, ông bỏ vợ và con lại. Nay ông tìm lại
đứa con rơi. Người ta đưa con Baxi ở xóm Gà Gia Định, nói là con ông,
ông nhận nuôi nó. Sau đó báo Trắng Đen tìm ra đứa con thật, đang làm
phụ thợ hồ ở Biên Hòa, mẹ tên là Lê Thị Huệ, ông cũng nhận nốt. Ông
nuôi cả hai đứa và gả chồng cho cả hai.
Tôi muốn nói với mấy ông cán bộ cộng sản Việt Nam, lớn cũng như bé hay rằng Congo là xứ mọi (mọi là cách nói nôm na, thông tục), dân xứ đó còn sống đời sống tinh thần bộ lạc. Vậy mà ông tổng thống xứ mọi
còn biết thương con, và nếu như ông biết noi gương vua Lý Thánh Tông
của nước Việt Nam văn minh, thì ông cũng “thương dân như thương con”
vậy.
Còn mấy ông cán bộ Cộng Sản Việt Nam thường bô bô tự hào với lịch sử
dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến. Xin hỏi thử mấy cô Kiều Việt Nam vì
văn hiến gì mà nay đang sống ở lầu xanh nơi xứ người!?
MA, 01/05/2006
Copyright © 2006 by DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: