Ông
Bush nói với ông Blair: “Anh may mắn, sắp được nghỉ rồi. Tôi còn phải
ngồi đây hơn hai năm nữa để nghe họ than phiền về chuyện
Nhưng hai ông George W. Bush và Tony Blair không thể nào đổi chỗ được. Hai nước có thể chế chính trị khác nhau. Dân Mỹ bỏ phiếu bầu một tổng thống rồi là bắt buộc phải để cho ông (bà) ta cầm quyền suốt 4 năm - trừ khi bị đàn hặc và truất phế vì phạm luật nặng nề. Dân Ăng lê bầu một đảng chiếm đa số trong Viện Dân Biểu (Hạ Viện), đảng đó chọn một lãnh tụ đóng vai thủ tướng. Ðảng cầm quyền có thể thay đổi lãnh tụ bất cứ lúc nào. Thủ tướng Anh có quyền tổ chức bầu cử lại dù chưa hết nhiệm kỳ 4, 5 năm, bằng cách giải tán Hạ Viện. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Bush còn tới hết năm 2008. Trên nguyên tắc, đảng Lao Ðộng Anh còn nắm quyền cho tới năm 2009. Nếu ông Blair ở Mỹ, ông không còn cầm quyền nữa vì ông đã làm thủ tướng 2 nhiệm kỳ, bây giờ đang ở nhiệm kỳ thứ ba; nước Mỹ theo tục lệ tổng thống không ứng cử nhiệm kỳ ba. Nếu ông Bush ở nước Anh thì chắc ông cũng khó đang ngồi nắm quyền lúc này vì uy tín của ông xuống thấp quá, đảng ông sẽ bầu lãnh tụ mới để gỡ lại uy tín cho đảng.
Hai thể chế Anh, Mỹ, bên nào hay hơn? Nhiều người quả quyết phải chọn một thể chế tối hảo; nhưng nói thật, ở đời chẳng có chính thể nào hoàn hảo cả. Có chỗ dở rồi cũng có chỗ hay. Người ta viết hiến pháp để chọn một cách bầu người cầm quyền vì lịch sử lúc đó đưa đẩy như vậy. Sống quen rồi, họ thấy tiện, muốn giữ “luật chơi” có sẵn. Nếu trưng cầu dân ý để sửa đổi hiến pháp, chắc dân Mỹ sẽ nhất định giữ thể chế cũ; dân Anh cũng vậy - ngay cả Thái Tử Charles cũng không đủ làm cho dân Anh muốn bỏ chế độ quân chủ. Các nhà chính trị thì chắc không ai muốn đổi. Vì họ đã quen với một bộ máy, quen cách sử dụng nó (lạm dụng những sơ hở của nó) hẳn nhiên họ rất ngại thay đổi.
Ông Bush và ông Blair giống như một cặp bài trùng rất ăn ý với nhau trong bốn, năm năm qua. Chính sách ngoại giao của hai chính phủ lúc nào cũng hòa nhịp, mặc dù ông Blair có giọng tài hoa, khôn khéo và có suy nghĩ hơn; ông Bush mộc mạc, cứng rắn, có lúc vụng về hơn. Khác nhau như người Anh khác người Mỹ vậy. Ba năm trước, hai ông Bush và Blair gặp nhau ở Ireland khoảng thời gian này, sau khi quân Mỹ đã lật đổ chế độ Saddam Hussein. Lúc đó hai ông hớn hở vui mừng, nhìn về tương lai thấy toàn cảnh lạc quan. Họ chỉ khác nhau một điều là đa số dân chúng Anh Quốc vẫn không đồng ý với chính phủ về việc tham chiến ở Iraq, còn dân Mỹ nhiệt liệt ủng hộ tổng thống của họ. Năm nay hai ông lại gặp nhau (chắc là lần chót trước khi ông Blair về nghỉ để đảng ông gỡ) hai ông lần này chia sẻ thêm với nhau một tình cảnh, là cả hai đều bị mất điểm đối với dân, vì vụ chiến tranh Iraq. Ông Bush có lúc mới tụt xuống dưới 30 phần trăm dân ủng hộ, ông Blair còn tệ hơn, xuống tới 23 phần trăm. Thành ra họ càng dính với nhau hơn, như hai người bạn cùng chung hoạn nạn; người Mỹ dùng hình ảnh đôi trẻ sinh ra thân thể đã dính một phần vào nhau, như chia nhau một bộ xương hông vậy. Năm nay gặp nhau, hai ông cùng có khuôn mặt khiêm tốn khi xuất hiện trước công chúng.
Ông Bush thú nhận đã có những sơ sẩy và lầm lẫn. Không những thế, ông kể tên các sai lầm: Ngôn ngữ (khi dùng lối nói đe dọa thách thức quân khủng bố); Abu Ghraib (ông coi là lớn nhất). Ông Blair thú nhận việc giải tán quân đội Iraq vội vàng và đuổi các đảng viên đảng Baath ra khỏi chính quyền Iraq là sai lầm (trong chính sách này chính phủ Bush chịu trách nhiệm nhiều hơn chính phủ Anh); và tình trạng quân nổi dậy ở Iraq và Afghanistan ngoài dự liệu lúc đầu.
Nhưng cả hai ông Bush và Blair đều lặp lại một điểm: tấn công Iraq vẫn chính đáng và cần thiết, mặc dù có những nhầm lẫn. Dân chúng hai nước có đồng ý hay không, ý dân còn thay đổi như thế nào, đó lại là vấn đề khác. Một điều hai ông làm mọi người thất vọng, nhưng không ngạc nhiên lắm, là hai nhà lãnh đạo chính phủ vẫn không hứa được bao giờ thì rút quân ra khỏi Iraq. Hiện có 133,000 quân Mỹ và 8,000 quân Anh ở đó.
Ðáng lý ra, trong cuộc họp báo ở Washington hai ông phải lớn tiếng cổ võ một thành tích mới, là nước Iraq đã có một chính phủ “thường xuyên,” không còn tính cách tạm thời nữa. Ông Tony Blair mới đi gặp Thủ Tướng Nouri Maliki ở thủ đô Baghdad, sau khi ông này được Quốc Hội Iraq chấp nhận và đang lập nội các. Tổng Thống Bush có lần dùng hình ảnh “Iraq đã lật sang một trang sử mới,” nhưng không thấy ông lặp lại; chắc vì nói đến các hình ảnh lạc quan quá, nhiều lần quá, sẽ hết hiệu lực, nói nhiều chỉ làm dân Mỹ bớt tin. Nhưng về mặt hình thức, quả nhiên đây là một trang sử mới. Lâu lắm mới có một chính phủ do dân bầu lên ở Iraq, dù cuộc bầu cử không hoàn hảo.
Tất cả còn tùy thuộc chuyện gì sắp xảy ra, có đúng chương trình mà hai chính phủ Anh, Mỹ dự định hay không. Ðầu mối là việc “chuyển giao trách nhiệm về an ninh lãnh thổ” ở Iraq cho đạo quân bản xứ và lực lượng cảnh sát của họ. Theo chương trình thì lực lượng an ninh người Iraq sẽ lên đến 325,000 quân vào cuối năm nay. Tháng tới quân Anh sẽ trao quyền lại cho người Iraq tại hai tỉnh Muthanna và Misan ở phía Nam; và dự trù từ nay đến cuối năm sẽ thực hiện việc đó ở 14 tỉnh khác. Khi đó sẽ chỉ còn thành phố Baghdad và tỉnh Anbar ở chung quanh thủ đô là còn do quân Mỹ bảo vệ mà thôi. Ngay Tháng Bảy này, quân Mỹ sẽ trao 110 căn cứ cho quân đội Iraq, và cuối năm 2007 sẽ trao hết, để “Iraq hóa chiến tranh.”
Nếu việc “chuyển giao trách nhiệm về an ninh” thành công như dự định thì chính phủ Anh có thể rút bớt 3,000 trong số 8,000 quân về nước. Chính phủ Mỹ cũng có thể tuyên bố rút quân vào cuối năm nay, tốt nhất là trước ngày bầu cử quốc hội vào Tháng Mười Một.
Chương trình trên tùy thuộc nội tình Iraq và thực lực của chính phủ liên hiệp của ông Maliki. Bao giờ ông chọn được hai người làm bộ trưởng an ninh và bộ quốc phòng? Hầu như các phe đả đồng ý là Bộ An Ninh sẽ do một người theo phái Shi A đứng đầu, còn quân đội đặt dưới quyền một người Sun Ni. Nhưng trong mỗi phe đều có người phản đối. Người Shi A không chấp nhận những đồng đảng của ông Saddam Hussein lại nắm quân đội; người Sun Ni đã nhiều lần tố cáo lực lượng cảnh sát chỉ là nơi trú ẩn của những dân quân Shi A đã từng đi bắt cóc và giết người Sun Ni, không khác gì băng đảng. Ở những tỉnh đa số là dân Shi A thì người thiểu số Sun ni đành chịu. Như trong vùng quân Anh kiểm soát, các lực lượng cảnh sát thường là những đám dân quân Shi A của các giáo sĩ thay đồng phục mới. Nhưng ở các tỉnh khác thì người Sun Ni phản đối bằng cách tự thành lập các toán dân quân để tự vệ chống lại cảnh sát. Ðó là một mầm mống nội chiến. Trong khi đó những thành phần người Sun Ni “chống đến cùng” và quân du kích al Qaeda vẫn hoạt động đổ dầu vào lửa.
Ðằng sau các cuộc thương thuyết về thành phần chính phủ còn có một vấn đề then chốt: Phân chia tài sản quốc gia. Ða số dầu lửa nằm trong vùng kiểm soát của người Shi A và người Kurd. Người Sun Ni từng hưởng các đặc quyền từ thời đế quốc Anh cai trị cho tới thời ông Hussein, nay chỉ mong được chia sẻ những lợi lộc của dầu lửa đồng đều như các giống dân kia. Người Shi A đã từng bị đàn áp gần 30 năm dưới thời Hussein sẽ không bao giờ muốn người Sun Ni lấy lại quyền kiểm soát chính phủ và quân đội, họ muốn kiểm soát dầu lửa để củng cố những quyền hành kinh tế khác.
Liệu các phe phái ở Iraq sẽ tương nhượng được nhau hay vẫn giữ mối nghi kỵ và thù ghét truyền kiếp? Hai ông George W. Bush và Tony Blair không thể quyết định được chuyện này. Chính phủ mới của Iraq sẽ thành công hay không, ngoài tầm kiểm soát của các chính phủ Anh, Mỹ!
Thế thì bao giờ quân Mỹ có thể rút về? Quân Mỹ sẽ còn ở Iraq từ năm đến 10 năm nữa, đó là những dự đoán đã được nêu lên. Trong thời gian đó Mỹ sẽ phải nuôi một chính quyền trung ương ở Baghdad, dù nó tốt hay xấu, đoàn kết hay chia rẽ, có đại diện cho toàn dân hay không. Miễn là làm sao có một số chính trị gia thuộc đủ các phe đồng ý ngồi lại với nhau, chia sẻ các quyền lợi. Coi như có một chính phủ liên hiệp, nếu chia rẽ đến nỗi chính phủ tan rã thì tất cả bọn họ đều bị thiệt thòi. Và chính quyền đó phải tùy thuộc viện trợ Mỹ cùng sự bảo vệ an ninh tối thiểu trong vùng thủ đô do quân Mỹ cung cấp. Nếu chính phủ Mỹ, thời ông Bush và đời vị tổng thống sau năm 2008 mà giữ được tình trạng như vậy, thì coi như tình hình sẽ tạm ổn được hàng chục năm, trong thời gian đó có thể chỉ cần mấy chục ngàn quân Mỹ đóng ở Iraq cũng đủ. Còn việc chống trả với quân nổi dậy, giữ trật tự an ninh, người Iraq sẽ lo. Nước Mỹ có thể chấp nhận một hình thức “nội chiến” dai dẳng ở Iraq nhiều năm, miễn là để cho người Iraq thanh toán lẫn nhau, số thiệt hại cho quân Mỹ thấp, không đáng kể, là dân Mỹ chấp nhận được.
Ðó là một sự thật, nhưng là một điều mà hai ông Bush và Blair không thể nói ra. Vì họ vẫn coi họ có sứ mạng cao cả hơn nhiều: Dân Chủ hóa miền Trung Ðông!