Theo Đàn Chim Việt - Phạm Lưu Vũ - 27-05-2006
Truyện ngắn
Ông thầy Ngô người làng Cả là một bậc sư phụ thâm trầm, giỏi đủ bách
nghệ. Sư phụ ấy không những nổi tiếng về phong thuỷ, mà còn giỏi nhâm,
cầm, độn, toán, có thể sai khiến cả quỷ thần. Dân bên làng Kinh đồn
rằng có năm trời làm đại hạn, đêm đêm nhìn sang làng Cả, thấy ông thầy
Ngô sai âm binh tát nước từ những chiếc gàu làm bằng lá đa, đen đặc cả
cánh đồng. Lũ âm binh ấy người ngợm chỉ to bằng cái ống điếu, nhưng
chúng đông không kể xiết. Vì thế sức mạnh của chúng thì không ai có thể
coi thường. Về sau, ông thầy Ngô còn sử dụng âm binh để làm nên vô số
những việc kinh động trời đất khác, khiến ai nghe thấy cũng phải rùng
mình, ghê rợn. Nhưng những việc đó hình như đã có khối sách chép lại
rồi. Vả lại cũng không liên quan lắm đến câu chuyện này nên không kể ra
ở đây.
Làng Cả cách làng Kinh của Nguyễn Văn Tẹo một con sông và mấy vạt cánh
đồng. Xưa nay, hai làng tiếng là thân thiện đấy, nhưng thực chất chỉ là
những láng giềng bất đắc dĩ mà thôi. Ngày trước, có một thời tối nào
anh thanh niên Nguyễn Văn Tẹo cũng cởi trần truồng, đội quần áo trên
đầu, bơi qua sông mò sang chơi gái bên ấy. Con gái làng Cả mắt một mí,
nổi tiếng vừa đẹp vừa dâm, lại có kiểu làm tình chẳng giống bất cứ gái
làng nào. Ấy là sau khi để cho những bạn tình giống đực trút hết tinh
khí vào người mình rồi, các nàng cứ phải nắm đầu kẻ vừa trở nên vô tích
sự ấy mà ấn vào giữa háng, dùng cặp đùi ngồn ngộn như hai cây chuối hột
kẹp cứng lấy, vặn vẹo một hồi cho toàn thân nổi hết gai ốc lên. Bấy giờ
các nàng mới cong đít, ưỡn bụng rú lên như mèo cái, nước nôi từ chín
khiếu túa ra tràn trề, lấp hết cả mồm mũi anh con trai. Có thế các nàng
mới đạt đến cực khoái. Trai làng Kinh khối anh từng bị kẹp nứt cả sọ,
mới trót dại ham hố đúng một lần mà đã mắc chứng bại thần kinh, suốt
đời cứ lảm nhảm câu: “con lạy bà! con lạy bà! bà đã sướng chưa, xin bà
nhả đầu con ra...” Riêng Nguyễn Văn Tẹo thì không ngán gì kiểu làm tình
ghê rợn ấy. Cái đầu của chàng bẩm sinh vốn đã cứng như một chiếc chõ
gang, lấy đũa cả gõ vào cứ kêu coong coong. Kẹp thế chứ kẹp nữa, đầu
chàng cũng chẳng hề hấn gì. Song một bận chàng bị đám con trai làng Cả
phục kích. Đúng lúc chàng vừa bò lên cái bụng trắng hếu của một cô nàng
ở giữa bãi tha ma thì đám trai làng kia bất ngờ đội đất xông tới. Anh
trai lơ Nguyễn Văn Tẹo sợ quá đến nỗi phọt cả cứt ra. Cứt lùng bùng
trong đáy chiếc quần đùi vẫn còn chưa kịp cởi. Anh chàng bị bọn kia dần
cho một trận nhừ tử. Chúng vừa đấm đá vừa bịt mũi, thằng nào thằng nấy
khạc nhổ inh ỏi. Có thằng hăng quá bị cứt văng cả lên mặt.
Sau trận đòn ghen vô lối ấy, chàng trai Nguyễn Văn Tẹo cũng
hơi tởn. Song một là ỷ vào cái đầu chõ gang của mình, hai là bản tính
hám gái thiên hạ vốn đã được di truyền từ đời ông nội. Nói thật tình,
chàng cũng đã từng lăn lộn khắp nhiều làng. Song từ khi được nếm mùi vị
của gái làng Cả, thì chàng chợt ngộ ra một điều, rằng ở đây mới thực là
chốn thiên hạ đệ nhất dục tình, không gái làng nào có thể so sánh được.
Cứ nghĩ đến những cặp đùi chuối hột, với cái chất dâm thuỷ lóng lánh,
trơn tuột, vừa tanh tanh, mằn mặn, lại vừa nóng hôi hổi của gái làng
Cả, là lập tức bản năng giống đực trong con người Nguyễn Văn Tẹo lại
rạo rực, muốn phát cuồng lên. Cố nhịn được vài đêm, rốt cuộc Nguyễn Văn
Tẹo vẫn phải liều mình mò sang bên ấy. Song từ đó chàng rất nêu cao
cảnh giác, tự rèn luyện cho mình một bản lĩnh hoạt động bí mật rất cao
cường gọi là: “lai vô ảnh, khứ vô hình”. Được cái gái làng Cả có vẻ
cũng rất thích được kẹp cái đầu cứng như chõ gang của chàng. Vì thế mà
hầu như chuyến vượt sông nào, Nguyễn Văn Tẹo nhà ta cũng được thỏa sức
với tình. Âu cũng là một cái duyên trời định, dẫn đến việc Nguyễn Văn
Tẹo sau này gặp gỡ ông thầy Ngô.
Trong những cuộc phiêu lưu tình ái liên tu bất tận ấy, một hôm
Nguyễn Văn Tẹo bất ngờ vớ được của báu trời cho. Đó là một người đàn bà
có cặp giò lừng lững như hai cột đình, bộ mông núng nính, phình ra như
cái giành ngâm mạ. Nàng lại có cái tên đọc lên nghe đã dạt dào lãng
mạn: Mộng Nhi. Nàng Mộng Nhi nếm mùi cái chõ gang của Nguyễn Văn Tẹo
một lần thì say như điếu đổ, bởi ít có anh đàn ông nào chịu đựng nổi cú
kẹp giữa hai cái đùi cột đình ấy của nàng. Có anh còn kêu làng kêu
nước, giãy giụa ằng ặc như heo bị chọc tiết. Nguyễn Văn Tẹo nhờ có cái
đầu chõ gang lỗi lạc của mình mà cứ để mặc cho nàng tha hồ muốn kẹp thế
nào thì kẹp, kẹp đến khi nào ộc hết nước nôi ra thì thôi. Lúc ấy chàng
chưa biết rằng nàng chính là đứa con gái nuôi yêu quí của ông thầy Ngô
huyền thoại ấy. Mộng Nhi muốn cưới chàng làm chồng. Ông thầy Ngô bảo:
“Thằng ấy tuy ngũ quan nảy nở, thiên đình mênh mông, có vẻ là tướng đại
quý đấy. Song phải cái cặp tai gù không tương xứng với khuôn mặt, lại
đậu hờ hững ở hai bên thái dương như thể mượn tạm của ai đó dán vào.
Tai như thế gọi là giả nhĩ. Nó thuộc loại người không biết nghe. Nhưng
điều ta kị nhất là địa các của nó lỏng lẻo, lại đầy âm khí. Tướng ấy là
tướng sát thê. Ai làm vợ nó sẽ gặp họa bất đắc kì tử, có khi còn chết
thảm chết thương. Loại người ấy chỉ giỏi bịp bợm, rất dễ dàng nhận vơ
nhận váo. Kết cục dẫu nó có trọn vẹn được kiếp này thì cũng bị nạn ở
kiếp sau...”
Nàng Mộng Nhi bỏ ngoài tai lời cảnh cáo của ông bố nuôi, quyết tâm cưới
Nguyễn Văn Tẹo cho bằng được. Thế là rốt cuộc cũng diễn ra đám cưới.
Chàng Nguyễn Văn Tẹo lần đầu tiên được nếm mùi tân lang. Trai làng Cả
cũng không ghét bỏ gì chàng nữa. Xét cho cùng, trước kia họ sở dĩ trừng
trị chàng vì ghét cái thói ăn vụng. Chứ bây giờ đàng hoàng cưới cheo
rồi thì họ cũng sẵn lòng coi chàng như anh em. Hai bên đi lại với nhau
rất ư là thân thiện. Nguyễn Văn Tẹo cũng nhân cơ hội ấy mà kết giao
được khối bạn bè chí thiết ở làng Cả. Một hôm, mấy thằng bạn ấy bảo:
“Bố nuôi của vợ mày là một bậc kì nhân hiếm có trên đời. Sao mày không
tranh thủ học lấy mấy ngón nghề của ông ấy, sau này về làng đem ra mà
thi thố, nếu may cầu được chút phú quý thì có phải sướng thân không?”
Nguyễn Văn Tẹo nghe lời khuyên, biết việc ấy rất có ích cho chàng sau
này. Nhưng ngặt nỗi ông thầy họ Ngô kia hình như không tán thành cuộc
hôn nhân của chàng cho lắm. Bề ngoài tuy lão vẫn coi chàng như con rể,
nhưng hình như chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng. Nhất là ông ta cứ một
mực tin vào cái môn nhân tướng khỉ gió gì ấy,,, thì làm sao ông ta chịu
truyền nghề. Chàng nghĩ mãi, chưa kịp tìm ra cách để lấy lòng ông bố
nuôi của vợ thì bỗng xảy ra một việc làm đôi lứa phải đột ngột chia
lìa.
Đêm ấy như thường lệ, sau cuộc mây mưa, chàng bỗng cảm thấy
cái đầu chõ gang của mình bị kẹp mạnh một cách khác thường. Nó kêu răng
rắc như muốn vỡ tung làm trăm mảnh. Mắt chàng nổ đom đóm tung tóe. Xưa
nay chàng chưa từng có cảm giác như thế bao giờ. Kẻ làm cái việc ấy vẫn
là cô vợ Mộng Nhi của chàng đấy thôi. Nhưng hôm nay sức mạnh của cặp
đùi ấy bỗng như được tăng lên gấp vạn lần. Nguyễn Văn Tẹo cảm thấy
hoảng hốt. Thế này thì toi đời rồi. Chàng cố vùng vẫy mà vẫn không sao
thoát ra khỏi hai cái đùi cột đình ấy. Chàng muốn kêu lên nhưng mồm mũi
đã bị bịt kín. Trong nỗi tuyệt vọng, nước mắt chàng trào ra. Chàng nghĩ
đến những kẻ suốt đời phải lảm nhảm: “con lạy bà, con lạy bà...“ ở cái
làng Kinh kia mà chết lặng người. Đúng là đi đêm lắm cũng có ngày gặp
ma. Đến lượt chàng, ngờ đâu cũng đến lúc phải rơi vào cảnh ấy. Ôi! số
kiếp của một kẻ làm đàn ông, của một đấng trượng phu như chàng, rốt
cuộc lại bẹp dí dưới một trận cuồng tình lãng xẹt như thế này ư?...
Mãi gần sáng, Nguyễn Văn Tẹo mới lờ mờ tỉnh lại. Chàng cảm
thấy cái đầu của mình vẫn đang nằm gọn giữa hai khối thịt nóng hôi hổi,
nhưng có vẻ đã nhẹ nhõm, dễ chịu đi rất nhiều. Thần trí chàng dần dần
khôi phục. Có vẻ chàng đã thoát nạn. Chàng thử xoay nhẹ cái đầu. Thật
hú vía. Cặp đùi quả đã nới lỏng ra. Chàng mừng rỡ như mở cờ trong bụng,
vội vã đưa hai tay chống xuống hai khối thịt đó rồi hết sức thận trọng,
từ từ rút đầu ra. Căn phòng vẫn tối om om, tiếng thở của cô vợ Mộng Nhi
trong giấc ngủ nghe hồng hộc như ống cống. Run rẩy như vừa trải qua một
cơn sốt, chàng bò ra khỏi giường, lẩy bẩy lần tới cái công tắc điện gắn
trên tường...
Đèn bật sáng và... Nguyễn Văn Tẹo choáng người. Trước mắt
chàng không phải cô vợ Mộng Nhi yêu quí, mà lù lù... một con bò cái vĩ
đại. Một con bò vàng ươm, với cặp sừng ngắn ngủn, cái bụng tổ bố đang
phập phồng. Con bò nằm xếp bốn cẳng ngủ say sưa, đít vẫn còn ướt nhoe
nhoét. Dưới cái mõm đen sì của nó, bọt mép đang đùn ra cả đống.
Không còn hồn vía nào nữa. Nguyễn Văn Tẹo quay ngoắt người, tung cửa
chạy ra ngoài. Cũng chẳng kịp nhớ rằng mình chưa mặc quần áo, chàng cứ
thế tồng ngồng chạy một mạch đến bờ sông, rồi nhảy ùm xuống, cuống
cuồng bơi sang bờ bên kia. Leo lên bờ, chàng tiếp tục chạy, chạy không
dám ngoái cổ lại. Chàng sợ con bò cái kia thức dậy, không thấy chàng nó
lồng lên đuổi theo thì kể như xong đời. Cái hình ảnh trần truồng thất
thểu của chàng lúc ấy nom thật thảm hại. Chàng chạy mãi, chạy mãi. Chạy
về đến làng Kinh rồi mà vẫn còn tim đập chân run. Dân làng Kinh ngớ ra.
Đàn bà con gái lấy tay che mặt. Mấy anh bại não chỉ trỏ, cười hềnh hệch
kháo nhau: “Nó về rồi. Nó về kia rồi...” Thế là kết thúc một tua tình
ái khủng khiếp, ê chề. Nguyễn Văn Tẹo thề từ nay xin cạch đến già,
không dám tơ tưởng đến gái làng Cả nữa.
Về làng một thời gian, Nguyễn Văn Tẹo luôn bị lũ trai làng
Kinh dè bỉu, châm chọc. Nghĩ cũng phải thôi. Trai làng Kinh xưa nay thò
mặt ra ngoài đường kiếm tiền, kiếm danh phần lớn đều bị thất thế. Nhưng
chưa có ai trở về làng bằng cái kiểu tối thảm hại như chàng. Chàng
không cảm thấy nhục, chỉ thấy tức. Dần dần, nỗi khủng khiếp về cái vụ
ngủ với bò cái ấy cũng tạm nguôi ngoai. Bấy giờ, chàng mới chợt tỉnh
ngộ ra một điều. Rằng đích thị cái sự kiện quái gở ấy là do lão thầy
Ngô làm ra. Lão ta có nhâm cầm độn toán, lại sai khiến được cả âm binh,
thì khó gì mà lão không yểm bùa, biến cô Mộng Nhi thành bò cái để dọa
chàng. Chắc chắn việc đó có liên quan đến cái môn tướng số khỉ gió gì
ấy của lão. Lão sợ cô con gái nuôi của mình vì mải gắn bó với chàng mà
bất đắc kì tử, cho nên đã bày ra trò ấy để chia uyên rẽ thúy. Lão chỉ
cốt sao tống khứ chàng, tránh họa cho Mộng Nhi. Đã thế thì chàng phải
trả mối hận này. Chàng sẽ đâm chết lão, sẽ bắt chính lão phải bất đắc
kì tử cho bõ tức...
Lại nói chuyện ông thầy Ngô. Bấy giờ đã là một người có vai vế
vào loại nhất nhì ở làng Cả. Chỉ còn mỗi cái ngôi tiên chỉ tót vời là
ông còn phải tranh chấp với một lão gọi là Tả Khôn. Lão Tả Khôn cũng có
nhiều lâu la, thần thế chẳng kém gì ông thầy Ngô. Dân làng Cả một nửa
theo ông thầy Ngô, một nửa theo ông Tả Khôn. Nhưng dù theo ai, thì cả
làng, già trẻ lớn bé ra đường gặp ông nào cũng phải cúi đầu lạy Cụ.
Những ngày giỗ chạp, tết nhất... dân làng đều phải đội lễ đến lễ ở nhà
cả hai ông. Ông thầy Ngô vốn không khoái gì cái trò phải chia sẻ những
món lễ lạt ấy. Đã thế, lão Tả Khôn lại thường xuyên công khai tỏ thái
độ coi thường ông ra mặt. Sau nhiều phen hiệp thương không thành, ông
thầy Ngô quyết định phải dùng đến âm binh để trừ khử lão Tả Khôn.
Ngờ đâu lão Tả Khôn cũng là một tay không vừa. Xung quanh nhà
lão từ lâu đã yểm bùa kín vòng trong vòng ngoài. Lũ âm binh của ông
thầy Ngô sai tới mấy phen đều bị dội ngược ra, không sao xâm phạm tới
gần lão ta được. Ông thầy Ngô quyết không bỏ cuộc. Ông tìm cách mua
chuộc hai đứa Ất, Giáp, vốn là tay chân thân tín, vệ sĩ của lão Tả
Khôn. Hai thằng Ất, Giáp xuất thân trộm cướp lưu manh, mua chuộc chúng
chẳng khó khăn gì, muôn đời chỉ cần dùng rượu ngon và gái đẹp. Thằng Ất
nhanh chóng cắn câu, nó đã sẵn sàng bán đứng chủ nó. Nhưng thằng Giáp
thì có vẻ hơi ngần ngừ vì nó đang mê cô con gái út của lão Tả Khôn, nó
muốn bắt cá hai tay. Ông thầy Ngô đã có cách. Ông đưa thằng Ất mấy đạo
bùa trên đó viết một chữ “khai” (mở), sai nó bí mật đem dán từ ngoài
cổng vào đến buồng ngủ của lão Tả Khôn. Tối hôm ấy, đám lâu la của ông
thầy Ngô đánh thuốc mê, lừa bắt cô gái út của lão Tả Khôn về phủ. Ông
cho gọi thằng Ất, đồng thời dụ cả thằng Giáp tới.
Ông thầy Ngô mở tiệc chè chén suốt đêm với thằng Ất và thằng
Giáp. Cô con gái út lão Tả Khôn cũng bị trói vứt lăn lóc ở đấy. Cô đã
là một vật được ông thầy Ngô hứa tặng cho thằng Giáp lúc xong việc. Quá
nửa đêm thì cô tỉnh dậy. Thấy mình đang bị trói trong phủ của ông thầy
Ngô, bên cạnh là Ất và Giáp đang say sưa chè chén, cô hiểu ngay tai họa
đang giáng xuống đầu cha mình. Giờ này chắc lũ âm binh của ông thầy Ngô
đang thỏa sức hành hạ, chửi bới và cắt tiết lão Tả Khôn. Không còn cách
gì cứu cha được nữa, cô bèn nghĩ kế trả thù...
Sáng hôm sau, mặt trời lên một gần con sào thì ông thầy Ngô
mới tỉnh dậy. Ông kinh hoàng nhìn cái bàn tiệc của mình hồi đêm, giờ đã
trở nên đẫm máu, sặc mùi tử khí. Cô con gái út lão Tả Khôn đã tự cắn
lưỡi chết từ lúc nào, đôi mắt ngây dại vẫn còn ánh lên một nét nhìn ma
quái, xung quanh miệng cô đỏ lòm máu tươi. Bên cạnh cô, hai thằng Ất
Giáp, mỗi thằng bị hai chiếc đũa ngọc xuyên xéo từ hai lỗ mũi, lòi đầu
đũa ra phía sau thái dương. Thằng nào thằng nấy lưỡi thè lè, hai mắt
lồi ra ngoài đầy vẻ ngạc nhiên. Chúng cũng nằm chết thẳng cẳng trong
vũng máu. Ông thầy Ngô lập tức hiểu mọi chuyện đều do cô gái đó gây ra.
Cô đã giả vờ quy phục, rồi dùng sắc đẹp của mình mê hoặc, chuốc rượu
cho cả ông và hai thằng lưu manh kia say mèm. Nhưng điều làm ông thầy
Ngô hoảng sợ nhất chưa phải ở chỗ đó.
Làng Cả náo động vì cái tin lão Tả Khôn bị cắt tiết, nằm chết
cứng trên giường. Từ trong phòng lão ra đến cổng, la liệt những hình
nhân làm bằng giấy bản, sơn loè loẹt đứng ngồi xiêu vẹo. Chúng hiện
nguyên hình là những vật vô tri vô giác, nom nguệch ngoạc và cẩu thả
đến phát buồn cười. Đây chính là điều mà ông thầy Ngô hoảng sợ nhất.
Ông đã không kịp bắt quyết thu lũ âm binh ấy về trước khi mặt trời mọc,
để chúng phải hiện thân dưới ánh mặt trời. Đó là một điều tối kị. Rồi
chính ông sẽ phải trả giá cho sự sơ xuất đó. Ông biết mình sẽ không
thoát khỏi bị trừng phạt. Đêm nay, chắc chắn âm binh sẽ quay lại vật
chết ông. Đó là luật, một cái luật ghê rợn mà những kẻ chuyên sử dụng
âm binh sẽ không thể tránh được nếu để xảy ra sơ xuất.
Ông thầy Ngô đờ đẫn cả người vì sợ, vừa sợ vừa tiếc. Cuộc đời
ông đến lúc ấy có thể nói đã kịp lẫy lừng làng nước, xưa nay chưa chịu
kém ai lấy mảy may. Vậy mà bây giờ, ông sắp phải mất mạng trước một
điều sơ đẳng, trước cái mưu gậy ông đập lưng ông của chính cô con gái
kẻ kình địch với mình. Biết không thể tránh khỏi cái giờ tận số oan
nghiệt ấy. Nhưng dù sao thì ông cũng thử bấm một quẻ cuối cùng cho
mình. Ông gieo quẻ và giật mình, lạnh sống lưng khi quẻ bói cho biết
vào giờ tí đêm ấy, âm binh sẽ tìm đến ông để vật chết. Trước đó vài
khắc, ông sẽ bị rút hết nguyên khí, trở thành một kẻ tầm thường, vô
dụng, không còn chút khả năng kháng cự nào. Chợt ông chăm chú vào sáu
câu cuối bài kệ của quẻ bói. Hình như có điều lạ? Hình như ông còn chút
cơ may?
Sáu câu ấy như sau: “Hồng lạp leo lét / Lệ máu đầy chân / Cố giữ qua tí / Đích thị quí nhân / Từ phương Nam lại / Vượng khứ vượng lai”.
Có phải sẽ có quí nhân từ phương Nam lại phò trợ? May ra ông sẽ qua
được tai kiếp này. Khi đó, vượng khí vừa mất đi sẽ quay trở lại với
ông? Nhưng quí nhân đó là ai?
Không bao giờ ông thầy Ngô có thể ngờ rằng quí nhân đó lại
chính là Nguyễn Văn Tẹo, gã con rể mà ông đã lập mưu tống khứ ngày
trước. Bởi Nguyễn Văn Tẹo, kẻ mang mối hận với ông đã có mặt ở làng Cả
từ mấy ngày trước. Cũng đúng đêm hôm đó, chàng quyết định tìm đến ông
thầy Ngô để trả thù.
Nhờ những kinh nghiệm hoạt động bí mật trong các cuộc mò gái
ngày trước. Đêm đó, Nguyễn Văn Tẹo dễ dàng đột nhập vào phủ ông thầy
Ngô. Gần tới giờ tí thì chàng đã áp sát cửa buồng ngủ của ông thầy,
trong tay lăm lăm một ngọn đoản kiếm. Đang dừng lại một chút để nghe
ngóng động tĩnh, chàng bỗng giật thót người khi phát hiện có mấy bóng
đen vừa từ dưới ao bèo đi lên, đang tiến về phía chàng. Chàng vội vàng
lùi nhanh vào một hốc cột để ẩn nấp. Mấy bóng đen lừ lừ đi qua chỗ
chàng. Đứa nào đứa nấy nom lùn tịt, bụng tròn ủng, to dễ thường bằng
cái vại dưa. Trên đầu chúng ngất ngưởng một chiếc nón rộng vành trông
rất kì quái. Từ người chúng toả ra một thứ mùi nồng nặc, như thể mùi
bèo tây trộn lẫn với mùi bùn. Chúng tiến về phía cửa buồng ngủ của ông
thầy Ngô rồi chia ra đứng hai bên, loi choi như sắp sửa tiến hành một
việc gì. Nghĩ đây là mấy tay vệ sĩ oắt con của ông thầy Ngô đã bố trí
sẵn để hù doạ mình, cơn giận trong đầu Nguyễn Văn Tẹo bỗng ngùn ngụt
bốc lên. Chàng nắm chặt thanh đoản kiếm, bất ngờ xông tới tập kích vào
giữa mấy bóng đen lùn tịt ấy.
Sau phút bất ngờ, mấy bóng đen kia bắt đầu chống trả kịch
liệt. Hai bên huỳnh huỵch quần nhau. Có vẻ như võ nghệ của cái lũ tanh
hôi ấy cũng chẳng cao cường gì cho lắm. Nguyễn Văn Tẹo đã thọc được
ngọn kiếm vào bụng mấy tên. Nhưng điều làm chàng kinh ngạc là hình như
chúng tỏ ra chẳng hề hấn gì, chỉ nghe thấy đánh sột một tiếng, lưỡi
kiếm rút ra vẫn lạnh ngắt, không hề cảm thấy có máu nóng trào theo. Mấy
bóng đen vẫn quây lấy chàng như đèn cù. Những thân hình lủn củn của
chúng vừa thi nhau nhảy nhót loạn xạ, vừa phất những vành nón kì lạ kia
lên cổ, lên mặt làm chàng rát như phải bỏng, toàn thân lên cơn ngứa
ngáy dữ dội. Đánh đấm được khoảng nửa giờ thì chàng bắt đầu tối tăm mặt
mũi, không còn biết giữ miếng, giữ thế gì nữa, chỉ còn cách tay nọ vung
quyền, tay kia xỉa lưỡi kiếm ra phía trước, lúc đâm, lúc chém loạn xạ.
Đánh nhau từ đầu đến cuối giờ tí, sắp sửa bước sang giờ sửu.
Có vẻ như không bên nào dám dừng tay trước vì sợ sẽ lập tức bị bên kia
hạ gục. Nguyễn Văn Tẹo rốt cuộc cũng kiệt sức, sắp sửa buông xuôi. Trên
người chàng bị vô số vết trầy xước, quần áo tả tơi. Vừa lúc ấy, bỗng có
tiếng đập cánh của con gà ô nhà ông thầy vẫn đậu đâu đó trên cành cây,
rồi tiếp theo, một tiếng gáy cất lên dõng dạc. Chỉ tích tắc sau đó, lũ
gà trong xóm cũng bắt chước nối theo nhau gáy ầm ĩ. Nguyễn Văn Tẹo lúc
này đã quị xuống, đang chuẩn bị chờ chết. Song chàng vẫn kịp nhận ra sự
hoảng hốt của những bóng đen kia khi nghe thấy tiếng gà gáy. Chúng chợt
đứng sững cả lại, những vành nón cụp hẳn xuống. Chúng cuống cuồng bấu
víu vào nhau, có vẻ như muốn chạy trốn. Chàng cố gắng gượng dậy để xem
chuyện gì đã xảy ra mà không thể nào gượng được. Trước khi ngất đi,
chàng còn kịp nhìn thấy những bóng đen ấy cũng đồng thời đổ vật xuống
quanh chàng.
Ông thầy Ngô đêm đó tin vào quẻ bói, cố vớt vát chút hy vọng
mỏng manh về một vị quí nhân cứu mạng. Ông cho nghỉ hết đám lâu la, vệ
sĩ, lại sai mở toang cổng để chờ đợi. Trước giờ tí, ông vào phòng đóng
cửa lại, run rẩy thắp lên một ngọn hồng lạp (nến đỏ) cắm trên bàn, rồi
ngồi im trước ngọn nến ấy như một pho tượng sống. Vào đúng giờ tí, ông
thầy Ngô bỗng cảm thấy cơ thể mình như bị vắt kiệt hết nguyên khí, chỉ
còn là một cái xác thoi thóp. Ngọn hồng lạp cắm trên bàn không hề có
gió bỗng lay động dữ dội, cơ hồ muốn tắt đến nơi. Ông thầy Ngô vận hết
chút sức tàn còn lại, rướn người lên cố giữ cho ngọn lửa nhỏ khỏi tắt
ngấm. Một dòng nến nóng chảy đỏ rực như máu, chảy dọc thân cây nến
xuống mặt bàn, rồi từ mặt bàn nhỏ xuống chân ông từng giọt, từng giọt
nóng bỏng. Ông thầy Ngô cảm thấy từ bàn chân đến tận tâm can như đang
bị thiêu đốt ngùn ngụt bởi cái thứ lệ máu đáng sợ ấy. Nhưng ông vẫn
không dám động đậy, bởi chỉ cần tạo thêm xung quanh ông một sự lay động
không khí cực nhỏ nữa, ngọn nến sẽ bị tắt ngay tức khắc. Cứ như thế,
ông cố giữ cho qua giờ tí. Vừa đúng lúc ông kiệt sức, bắt đầu ngất đi,
thì cũng là lúc ngọn nến trên bàn chợt bùng lên trước khi tắt ngấm. Ánh
sáng bùng lên từ ngọn nến lọt qua khe cửa sổ, chiếu thẳng vào mắt con
gà ô đang đậu bên ngoài. Con gà giật mình tỉnh giấc, tưởng trời sáng,
nó vội vàng đập cánh mấy cái rồi cất tiếng gáy...
Ông thầy Ngô tỉnh dậy thì trời đã sáng. Cảm thấy hơi thở điều
hoà, nguyên khí sung mãn, khác hẳn với trạng thái kiệt quệ hồi đêm. Ông
biết mình vừa thoát khỏi cơn đại nạn, điều hầu như chưa từng xảy ra đối
với những kẻ chuyên sử dụng âm binh bị rơi vào hoàn cảnh tương tự. Một
bàn chân ông vẫn nặng chịch bởi một đống lệ nến đỏ quạch, đã khô cứng
phủ kín bên trên. Ông muốn biết ngay lập tức, kẻ quí nhân cứu mạng mình
hồi đêm kia là ai. Ông đứng lên, quay người đi về phía cửa phòng. Ông
mở toang hai cánh cửa và... cái kết cục của cuộc chiến hồi đêm đập ngay
vào mắt. Dưới chân ông, chàng Nguyễn Văn Tẹo đang nằm co quắp, áo quần
tả tơi, mặt mũi bầm tím. Chàng có vẻ chưa hồi tỉnh, một tay nắm vẫn
chặt ngọn kiếm nhỏ, hơi thở chỉ còn thoi thóp. Xung quanh chàng, ngổn
ngang những quả bèo cái cánh bị rách bươm. Có quả còn bị một lỗ thủng
toang hoác giữa bụng, lòi cả một mẩu ruột xốp màu trắng bên trong ra.
Trên nền nhà vẫn còn vương đầy những vệt bùn nuớc chưa kịp khô hẳn, kéo
dài đến tận bờ ao.
Cỗ máy của Tạo hoá quả chứa đầy huyền cơ. Liên tiếp có những sự ngẫu
nhiên, ngẫu nhiên đến mức tưởng như có bàn tay ai đó sắp đặt từ trước,
chính xác đến từng li. Chính những cái ngẫu nhiên đó đã cứu ông thầy
Ngô thoát chết. Tiếng gáy của con gà ô phát ra vừa đúng lúc, sớm một tí
cũng không được mà muộn một tí cũng không được. Ông không mất mạng vào
tay Nguyễn Văn Tẹo thì cũng mất mạng với lũ âm binh. Ông thầy Ngô quát
người nhà vực ân nhân Nguyễn Văn Tẹo vào giường, lấy cao thoa khắp
người chàng, đổ thuốc hồi sức vào miệng chàng, mặc cho chàng bộ quần áo
tử tế... Chàng tỉnh dậy và hết sức kinh ngạc khi thấy mình nằm giữa phủ
ông thầy Ngô, xung quanh toàn những kẻ hầu người hạ trong nhà ông thầy.
Chàng nghe giọng ông thầy trầm trầm rót vào tai:
“Ta biết anh tới đây vì việc gì rồi. Song oán thù nên cởi, chứ không
nên buộc. Sự việc đêm qua âu cũng là cái duyên trời định để anh gặp
được ta. Ta sẽ đích thân truyền cho anh mấy món công phu. Anh sẽ được
rạng rỡ mà trở về làng. Rồi đám đàn ông mạt hạng ở cái làng Kinh ấy sẽ
phải thần phục anh. Khó gì mà không rửa sạch được cái nỗi nhục ngày
trước”. Được lời như cởi tấm lòng. Nguyễn Văn Tẹo lập tức tỉnh ngộ, từ đó chàng nhất nhất tuân theo ông thầy Ngô chỉ bảo.
Thấm thoắt đã mấy năm Nguyễn Văn Tẹo thọ giáo ông thầy Ngô làng Cả. Ông
thầy dạy cho chàng nhiều môn, kể cả thuật sử dụng âm binh. Không ngờ
Nguyễn Văn Tẹo mê âm binh cũng tựa như mê gái vậy. Song chàng cũng
thích cả môn phong thuỷ. Nói của đáng tội, thì ra xưa nay chàng chỉ
thiên tài mỗi cái khoản cua gái mà thôi. Giờ phải động đến những thứ
nào là ngũ hành, can chi, nào là âm dương, bát quái, rồi thì sao nọ,
sao kia... làm đầu óc chàng lắm lúc rối như canh hẹ. Tuy nhiên, nhờ một
số phẩm chất bẩm sinh, nhất là nỗi đam mê được hơn người mà những bài
giảng của ông thầy Ngô, mười phần chàng cũng tiếp thu được sáu bảy.
Song dù chàng có là kẻ thông minh, mẫn tiệp mấy đi nữa thì ông thầy Ngô
cũng chẳng đời nào lại truyền hết bí quyết cho chàng. Điều này ông thầy
Ngô giữ kín trong lòng. Ông vẫn e ngại cái tướng đại quý của Nguyễn Văn
Tẹo. Nhỡ sau này nó làm nên cơm cháo gì ở làng Kinh thì có khi nó khinh
cả mình. Không những thế, sau lần may mắn thoát khỏi cái đại nạn bị âm
binh đến bắt tội ấy, ông thầy Ngô biết rằng trên thế gian hiện chỉ có
đúng hai người, chính là ông và Nguyễn Văn Tẹo, hai người từ đây có khả
năng “miễn dịch” hoàn toàn với âm binh. Ông biết ở cái xứ sở chỉ bao
gồm chó sói với cừu non này, con người còn lắm u mê. Kẻ nào nắm được âm
binh, kẻ đó sẽ ở trên tất cả. Vận số của ông quả đúng với câu “vượng
khứ, vượng lai” trong quẻ bói. Phúc phận này không dễ mà có được. Khả
năng “miễn dịch” siêu phàm đó sẽ cho phép ông có thể sử dụng âm binh
thế nào tùy ý, thậm chí bắt chúng hiện hình giữa ban ngày ban mặt, có
thể sai chúng vật chết cả làng, song không bao giờ chúng quay lại vật
ông. Thế thì người duy nhất có thể trở thành một tên đại kình địch mới
với ông sau này (biết đâu) lại chính là cái gã Nguyễn Văn Tẹo làng Kinh
này thì sao? Ông thầy Ngô biết rõ và đã sớm liệu trước điều đó.
Rồi cũng đến lúc Nguyễn Văn Tẹo có thể đường hoàng trở về làng
Kinh với tư thế của một kẻ đã học thành tài. Đặc biệt, thuật sử dụng âm
binh của chàng chắc chỉ tạm thời kém ông thầy Ngô một bậc. Chàng không
những thuộc lòng những khẩu quyết do ông thầy Ngô truyền miệng, mà còn
thành thạo tất cả các thủ đoạn, từ ngậm sáo, nhả cờ đến thu hồn, đoạt
vía... Có thể chỉ súc vật thành hình nhân, chỉ hình nhân thành súc vật.
Từ bèo bọt, cỏ cây cho đến những vật vô tri vô giác, lúc nào chàng cũng
có thể làm cho rùng rùng đứng dậy, tầng tầng lớp lớp như một biển
người. Đến cái thuật khó nhất là thuật điểm nhãn, chàng cũng rất am
tường. Bởi phàm kẻ đã biết dụng âm binh, thì đây là điểm mấu chốt. Âm
binh có thể tạo nên từ bất cứ cái gì, kể cả biến những con người đang
sống cũng có thể trở thành một thứ âm binh. Song chúng chỉ là những
hình nhân vô dụng, tuyệt đối chưa dùng được vào việc gì. Dù có cố lắm
cũng chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ. Chỉ đến khi nào được điểm nhãn,
thì những hình nhân ấy mới lập tức trở nên ghê gớm, mới biến thành một
sức mạnh, tựa như chúng có linh hồn hẳn hoi mà thôi. Cái thuật này ông
thầy Ngô chỉ truyền cho chàng một cách nửa vời, rõ ràng là có ý e ngại.
May nhờ sự láu cá cộng với lòng say mê bẩm sinh, rốt cuộc chàng cũng đã
luyện được.
Nhưng riêng môn phong thủy thì Nguyễn Văn Tẹo không làm cách
nào khai thác được những bí quyết của ông thầy Ngô. Mặc dù chàng cũng
đã học hết ngũ quyết gồm long, mạch, sa, thủy, hướng, thuộc lòng các
loại kinh, luận, pháp... lúc nào cũng có thể đọc vanh vách như cháo
chảy. Nhưng phàm kẻ giỏi phong thuỷ, thì lý thuyết chỉ sử dụng trong
lúc rèn luyện cái bản lĩnh cảm nhận của mình mà thôi. Bản lĩnh ấy một
khi đã luyện được, sẽ không khác gì một thứ phản xạ tự nhiên, có thể
xem mọi huyền cơ phong thuỷ đang bày trước mắt như trong lòng bàn tay
vậy, không cần phải tra cứu nữa. Vì thế, kẻ có được cái bản lĩnh ấy rồi
thì thậm chí còn phải quên cả lý thuyết đi. Bởi phong thủy ví như cơ
thể con người, chuyển vận chẳng khác gì cơ thể con người. Chẳng hạn
xương cốt là núi đồi, da thịt là đất đai, lông tóc là cây cỏ, mạch máu
là sông suối... Lại cũng chia ra thượng đình, trung đình và hạ đình,
cũng có hệ kinh lạc trùng điệp hoặc luồn vào nhau, hoặc chạy xa nhau
tạo nên các huyệt vị... Người giỏi phong thuỷ cũng ví như thầy thuốc
giỏi xét đoán mạch. Có thể cảm nhận những thay đổi, chuyển vận cực kì
tinh vi của các kinh mạch trong cơ thể. Có khi chỉ cần nhìn sắc diện,
là đã biết rõ những biến động của kinh mạch bên trong. Từ đó suy ra tâm
lý, trạng thái, bệnh tật... Cũng giống như phong thủy, ngẩng lên nhìn
dáng cây, hướng núi, cúi xuống xem màu đất, sắc cỏ, xét dòng nước chảy
quanh co... Giữa đất bằng vẫn phân biệt cao thấp, dù chỉ là chênh lệch
mảy may... Từ đó biết rõ những long mạch đang ẩn mình dưới lòng đất.
Những long mạch ấy chạy từ đâu tới, uốn lượn tiếp đi đâu, đến chỗ nào
thì kết huyệt, huyệt chủ về việc gì? cát hay hung?... Lại còn phải kết
hợp với thiên văn. Chỗ nào thiên tinh tụ hội, chỗ nào phân tán... Trên
trời có quần tinh (nhiều sao), dưới đất tất có quần mạch (nhiều long
mạch). Sao nào long ấy, phối hợp ra sao, chủ những vận hạn gì... nhất
nhất đều bày ra trước mắt người giỏi phong thuỷ, giống hệt như đọc một
trang sách vậy. Nguyễn Văn Tẹo nói chung chưa có được cái bản lĩnh ấy,
mặc dù về lý thuyết thì chàng thuộc lòng. Ông thầy Ngô sở dĩ chỉ dạy
chàng như thế là đã có chủ ý.
Nguyễn Văn Tẹo lần này về làng như một người mới được lột xác. Chàng vẫn nhớ lời dặn của ông thầy Ngô trước lúc chia tay:
“Nay anh là người có khả năng thu hồn đoạt vía của người ta, khiến
người ta phải tôn anh là thánh sống. Song trên đời không có gì là tuyệt
đối cả. Thế nào cũng có kẻ vẫn ngầm chống lại anh. Dù anh có sử dụng
bao nhiêu âm binh thì cũng không bao giờ đè nén cho hết được. Hơn thế
kiếp người có hạn, giữ được đời anh rồi, đến đời sau đã biết thế nào.
Có khi còn bị người ta đào mả lên mà băm vằm ra nữa. Vậy muốn tránh
điều đó thì phải nhờ đến phong thuỷ, phải tìm được huyệt tốt thì mới
giữ được vận số lâu dài, con cháu dẫu có lưu manh, hoặc ngu dốt cỡ nào
cũng vẫn được ăn trên ngồi trốc, tên tuổi của anh sẽ được lưu danh muôn
thuở...”. Nguyễn Văn Tẹo thấm thía điều đó lắm. Song chàng tự biết
rằng cái món thực hành phong thuỷ thì mình cũng chẳng giỏi giang gì cho
lắm. Vả lại việc này vô cùng nguy hiểm, không khéo lại lẫn lộn cát hung
thì có khi lợi bất cập hại, vận số đâu chưa thấy, đã rước họa vào thân
thì sao. Vì vậy việc đầu tiên là chàng dạo khắp phong thuỷ làng Kinh,
vẽ thành một bức họa đồ chi tiết, có ghi chú rõ ràng rồi mang sang làng
Cả, trình ông thầy Ngô.
Ông thầy Ngô xem bức họa đồ làng Kinh thì giật nảy mình. Không
ngờ đất làng ấy lại có nhiều long mạch đến thế. Thể nào cũng phải nghĩ
cách triệt hết đi mới được. Việc ấy thư thả rồi ông sẽ tính. Giờ phải
bấm cho tay học trò kiêm quí nhân cứu mạng này một chỗ huyệt tốt cái
đã. Ông xác định vị trí sao, đối chiếu phương vị, xem xét sông lạch...
Rồi ông giảng cho Nguyễn Văn Tẹo rằng có một long mạch xuất phát từ núi
Hòn Cà phía tây bắc, Gọi là núi tổ tông của làng Kinh. Long mạch ấy
chạy đến cánh đồng Đông Độ, ngay đầu làng thì kết huyệt. Đó chính là
huyệt tổ tông. Còn các huyệt khác do các chi long, bàng long... tạo nên
thì nhiều vô số. Ông thầy Ngô đánh dấu vào chỗ cái huyệt tổ tông ấy rồi
bảo Nguyễn Văn Tẹo:
“Cái huyệt này cực tốt. Tiếc là lại do một nộn long (long mạch non) kết
thành. Phải ba kỉ dư (một kỉ dư mười ba năm, ba kỉ dư là ba mươi chín
năm) nữa thì mới thành lão long (long mạch già), bấy giờ mới tiêu tán
hết khí hung. Nay hãy giả vờ đem mả bố mà táng vào đấy, rào giậu cho kĩ
càng, đừng để trâu bò dẫm đạp hay ỉa đái lên đấy. Cúng tế cho cẩn thận
rồi khắc có linh nghiệm”. Nguyễn Văn Tẹo nghe thầy Ngô nói thì ớ người ra. Bởi xưa nay chàng không hề biết mả bố mình hiện lưu lạc nơi đâu. Ông thầy bảo: “Ta biết thừa anh làm gì có mả bố. Vậy nên mới bảo anh phải giả vờ. Tóm lại hãy làm một cái mả suông”.
Mả suông là mả không có hài cốt, là cái mả giả vờ. Mả chỉ nhằm để giữ
chỗ, chiếm huyệt, không cho ai táng vào đấy. Đó sẽ là một sự giả vờ xưa
nay chưa từng có bao giờ. Rồi tên tuổi kẻ chủ nhân của cái sự giả vờ ấy
sẽ được lưu danh, con cháu sẽ được hưởng phúc, vinh hiển muôn đời.
Ông thầy Ngô quả là người chu đáo với anh học trò. Ông tự tay
vẽ kiểu ngôi mả suông rất chi là lộng lẫy, kì vĩ. Mả có đủ cả tam cấp,
mái che. Chia làm năm gian theo ngũ hành, có tám cửa hợp với phương vị
của bát quái hậu thiên. Từ trên xuống dưới gồm đủ ba tầng theo Thiên,
Địa, Nhân. Bên trên gắn sáu chữ đúc bằng vàng ròng: “Đại Trí Đại Nhân
chi mộ”. Thật là một kiểu mả độc nhất vô nhị, chưa ai từng trông thấy
bao giờ. Nguyễn Văn Tẹo đem bản thiết kế về làng nhất nhất thi hành,
không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào. Kể ra cũng có một vài sự cố xảy ra
lúc bắt đầu xây mả. Chắc là do cái huyệt tổ tông ấy quá linh
chăng(?).Ấy là khi đào xuống khoảng một trượng, bỗng gặp một dòng suối,
nước đỏ quạch như máu phun ra ầm ầm, trào lên cả mặt đất. Đám thợ đấu
sợ xanh mắt, không anh nào dám đào nữa. Mấy tiếng sau, hai con trâu
mộng to nhất làng bỗng vặn gẩy dóng chuồng làm bằng thân tre đực, lao
ra giữa cánh đồng húc nhau, quần nát cả một đám ruộng. Mọi người không
ai dám can, chỉ đứng từ xa chứng kiến mà lạnh gáy. Húc nhau một hồi,
hai con trâu điên lăn kềnh ra, chết lòi cả mắt. Chưa hết. Ngôi đình
làng tồn tại đã mấy trăm năm, đang giữa trưa bỗng bốc cháy dữ dội. Sức
nóng hầm hập khiến không ai dám tới gần để dập lửa. Trong đám cháy,
người ta nghe rõ ràng có tiếng thở dài đánh sượt một cái của ai đó,
chắc là ông Thành hoàng. Dân làng Kinh từ đó vừa mất đình vừa mất vía
mà chẳng hiểu tại sao.
Rốt cuộc, ngôi mả suông “Đại Trí Đại Nhân chi mộ” cũng được
hoàn thành. Cứ theo như lời ông thầy Ngô thì nó trấn đúng vào giữa
huyệt vị tổ tông của làng Kinh. Sau này có người bảo Nguyễn Văn Tẹo đã
sử dụng âm binh để xây. Có nhẽ thế thật. Bởi cái đó vốn là nghề của
chàng. Nguyễn Văn Tẹo còn sử dụng âm binh vào vô số những việc khác. Về
làng một thời gian thì hầu hết dân làng đều coi ông (từ đây xin gọi
Nguyễn Văn Tẹo là ông) như thánh sống. Đám trai làng, kể cả những anh
bại não đã không còn dè bỉu, coi thường ông như trước kia nữa. Ông
nhanh chóng hút hết cả hồn vía dân làng để chiếm ngôi tiên chỉ. Ông
thầy Ngô quả có con mắt tinh đời. Tài thu hồn đoạt vía của Nguyễn Văn
Tẹo đúng là không biết đâu mà lường được. Xung quanh ông lúc nào cũng
sẵn sàng một đám đệ tử, hầu hết đều xuất thân bần tiện, nếu không thì
cũng trộm cướp lưu manh, vậy mà từ lúc nào, họ đã trở thành những con
dân ưu tú, những đại diện trung thành... của làng Kinh, cùng với ông
thống trị cả làng. Gái làng Kinh thay nhau phục vụ ông. Song phần lớn
ông đều sử dụng theo kiểu tàu nhanh, chỉ “xài” một hai lần, thỏa mãn
rồi thì quẳng xuống cho đám lâu la hưởng sái. Thế mà còn là may phúc
cho các nàng đấy. Bởi cũng có vài cô muốn ngấp nghé chuyện lâu dài với
ông, song tất cả đều bị bất đắc kì tử. Có khi bị xe kẹp cho toác đầu
phọt óc, có khi chết trôi ngửa tênh hênh dưới sông... Cái tướng sát thê
của Nguyễn Văn Tẹo mà ông thầy Ngô đã phán ngày trước quả không phải
chuyện đùa. Từ đó không cô nào dám mơ tưởng được thành vợ thành chồng,
được ăn ngủ công khai, minh bạch với ông nữa.
Làng Kinh của ông Nguyễn Văn Tẹo vốn là một cái làng rất lạ.
Có lúc nó cô đơn, chết lặng như thể một mình trôi lạc lõng trong vũ
trụ. Có lúc nó nhợt nhạt, ngơ ngác như tập hợp một lũ người chỉ biết có
a dua. Tiên chỉ Nguyễn Văn Tẹo ngửa mặt nhìn bầu trời. Bầu trời tối om
như một cái sọ vĩ đại, rỗng tuếch và mê muội. Mặt trời bắt đầu ló ra ở
phía Đông như một chiếc đĩa lửa đỏ lòm, nhìn chòng chọc xuống mặt đất,
thèm muốn mọi thứ. Càng lên cao, nó càng chói chang và rắn đanh lại.
Bây giờ thì những chiếc lưỡi lửa của nó đã vươn xuống khắp mọi nơi.
Nguyễn Văn Tẹo nắm chặt hai hòn đá cuội to tướng trong tay. Ông nghiến
răng bóp nát chúng thành bụi rồi vung lên. Những hạt bụi bay trắng xóa,
phủ kín những mái nhà, những mảnh vườn và cả những lối đi trong làng.
Chốc lát, những hạt bụi rùng rùng đứng dậy, biến thành những âm binh.
Hằng hà sa số âm binh kéo đến vây quanh ông, cúi đầu chờ lệnh. Ông quơ
tay tóm lấy chúng, ném thẳng vào những cái lưỡi lửa kia của mặt trời,
liên tục, hết lớp này đến lớp khác. Tiếng âm binh cháy xèo xèo như một
bản hòa âm quái đản, vừa quái đản vừa vĩ đại. Mùi âm binh cháy thơm
lừng như đang trong một bữa tiệc hoành tráng. Máu ộc ra, không kịp chảy
thành dòng. Đầu rời cổ, không kịp rơi xuống đất. Tất cả đều bị những
lưỡi lửa kia liếm sạch. Dân làng Kinh ngóc đầu lên từ đống tro than.
Những gương mặt lem luốc nhe răng cười hềnh hệch, những nụ cười vô hồn.
Chốc lát, cả làng Kinh biến thành từng đoàn, từng đoàn ma đói bắt đầu
diễu hành, tay giương cao những biểu ngữ nhuộm đỏ loét. Miệng gào lên
những ngôn ngữ mới học được của quỉ dữ. Nguyễn Văn Tẹo thỏa trí hét
lên, say máu. Không ngờ đời ông lại có những giây phút tuyệt đỉnh thế
này. Chợt có mùi đàn bà ập vào khứu giác. Cái mùi tanh tanh luôn làm
ông rạo rực. Ông quờ tay vớ lấy một thân thể nóng hổi, trần truồng áp
vào mặt mình. Ngoài trời, sấm sét đang sầm sập đổ xuống khắp làng.
Ngôi mả suông ba tầng năm gian tám cửa, do Nguyễn Văn Tẹo dựng lên giữa
cánh đồng Đông Độ ấy, từ lúc nào đã trở thành một biểu tượng tín ngưỡng
của làng Kinh. Có lẽ trừ Nguyễn Văn Tẹo và chính ông thầy Ngô, người vẽ
kiểu ra, chẳng ai lại dám nghĩ rằng đó chỉ là một cái mả giả vờ. Ông
thầy Ngô đã từng giảng cả một triết học về cái sự giả vờ ấy cho Nguyễn
Văn Tẹo nghe. Đại khái theo đó thì mọi sự trong cuộc đời, xét đến cùng
đều là giả vờ hết. Cả nhân loại lớn bé, đời nào cũng chỉ gồm toàn một
lũ giả vờ. Giả vờ sống, vờ yêu thương, vờ ghét... Kẻ càng khéo thuật
giả vờ, càng được người ta tin. Đến cái mả cũng giả vờ nốt thì cả làng
có thể nói đã coi mình là thật, là thánh trăm phần trăm rồi. Nguyễn Văn
Tẹo say mê cái triết học ấy lắm, nhất cử nhất động của ông đều thi
triển theo đúng thuật giả vờ. Chẳng thế mà dân làng Kinh không biết từ
lúc nào, đã luôn tràn ngập một niềm tự hào, hạnh phúc vì cái mả vĩ đại
của mình. Vì cái mả đó, mà hầu hết già trẻ lớn bé trong làng đều tranh
nhau, tự nhận mình là con cháu của ông Nguyễn Văn Tẹo trứ danh. Hăng
hái và trung thành nhất lại chính là mấy anh mắc chứng bại não. Hạng
người này ở làng Kinh, không hiểu sao từ ngày có cái mả Đại Trí Đại
Nhân ấy, lại không ngừng tăng lên theo cấp số nhân. Thế mới biết, môn
phong thuỷ của ông thầy Ngô quả là vô cùng hữu hiệu. Nhưng cuộc đời vốn
không có cái gì được coi là tuyệt đối. Vẫn có kẻ hoặc ngấm ngầm, hoặc
ra mặt nghi ngờ cái ngôi mả giả vờ ấy. Họ còn phát tán những câu ca
dao, những bài văn có nội dung rất chi là báng bổ. Song rốt cuộc, những
kẻ ấy nếu không bị chết thảm thương thì cũng rơi vào cảnh sống tối tăm,
thậm chí còn biến thành súc vật, cuộc đời kết thúc chẳng ra gì. Chỉ xin
kể ra mấy vụ sau đây làm ví dụ:
Bấy giờ ở xóm Đông có một tay tên Thổ, biệt danh Thổ câm.
Không phải mồm mép anh ta có vấn đề gì đâu. Sở dĩ gọi như thế bởi anh
ta vốn là kẻ chỉ thích câm như hến. Xưa nay, Thổ câm có tiếng là kẻ
ngang tàng liều mạng, coi cái thuật âm binh của vị tiên chỉ Nguyễn Văn
Tẹo chỉ là những trò bịp bợm, vô đạo đức mà thôi. Ngay cả ngôi mả Đại
Trí Đại Nhân kia, Thổ câm cũng hết sức khinh thường, xem nó như cỏ rác.
Không những thế, anh ta còn tuyên bố thẳng thừng rằng đó chẳng qua chỉ
là một cái mả giả vờ, đừng có dại mà tin vào những gì gọi là mầu nhiệm
của nó. Hăng tiết lên, Thổ câm chuẩn bị một cái thuốn bằng sắt dài hơn
hai mét, một đầu đánh nhọn hoắt, một đầu uốn tròn tròn làm chỗ tay cầm.
Gã quyết thọc cái thuốn ấy xuống chính giữa ngôi mả để chứng minh rằng
chẳng có gì chôn ở dưới đó cả. Dân làng Kinh sợ xanh mắt, nhất tề bịt
chặt tai lại, chẳng ai dám nghe chứ đừng nói đến chuyện chứng kiến. Mà
Thổ câm làm thật. Cái thuốn quả đã hoàn thành phận sự của nó. Bên dưới
ngôi mả lộng lẫy, uy nghi đó toàn thị là đất sét. Để có bằng chứng cho
việc làm của mình, gã Thổ câm còn chụp một bức ảnh, phóng rõ to hình
ảnh ngôi mả với cái thuốn cắm phập ngay chính giữa. Gã lồng bức ảnh
trong một khung kính cẩn thận, dự định trưng nó cho cả làng xem. Mọi
người hồi hộp chờ đợi điều gì sẽ xảy đến với Thổ câm. Cũng có người tỏ
ra lo lắng cho gã. Một hôm, chẳng hiểu có việc gì mà gã nổi hứng chở
bức ảnh ấy đi rong trên đường làng. Lúc ấy vừa đúng giữa trưa tròn
bóng. Xe gã đang bon bon bỗng như đâm sầm phải một bức tường vô hình.
Cả người và xe đổ nhào xuống giữa đường. Chiếc khung bằng gỗ bị gẫy tan
làm tấm kính cũng vỡ tung thành nhiều mảnh. Bức ảnh bung ra ngoài, trùm
lên ngực gã. Khi mọi người chạy tới thì một cảnh tượng kinh hoàng bày
ra trước mắt. Gã bị một mảnh kính nhọn hoắt đâm lút giữa ngực. Cú đâm
thấu đến tim làm máu tuôn xối xả. Vị trí của lỗ thủng vừa vặn trùng với
vị trí cái thuốn sắt trong bức ảnh phủ trên ngực, nom tựa như gã bị
chính cái thuốn ấy đâm.
Cái chết ghê rợn của gã Thổ câm làm dân làng lắc đầu lè lưỡi.
Có mấy người khẳng định việc ấy là do âm binh làm, bởi chính họ đã nhìn
thấy lũ âm binh bất ngờ đội đất xông lên, chặn đứng chiếc xe của gã
lại. Nhưng âm binh nào lại dám ra tay vào giữa trưa tròn bóng, khi mà
cái khí dương vừa đạt đến cực thịnh thế này? Mọi người vẫn còn bán tin
bán nghi thì lại xảy ra vụ lão Thị điếc. Lão Thị điếc nhà ở xóm Đoài.
Vốn cũng nằm trong số những kẻ nghi ngờ sự mầu nhiệm của ngôi mả. Song
giá lão cứ nhốt kín sự nghi ngờ ấy vào trong bụng thì không sao. Đằng
này, đi đâu lão cũng bô bô rằng đó chẳng qua chỉ là hiện thân của sự
dối trá. Rằng làng Kinh đang ở vào thời kì quỷ dữ sống lẫn với con
người, nó có thể biến cả con người thành một thứ âm binh. Song lão lại
gào lên bảo với dân làng rằng chẳng có âm binh âm biếc gì ráo. Chính là
con cháu các người đấy. Quỷ dữ không chỉ thèm khát xương thịt ở đời
này, mà còn nhai trước xương thịt của những đời sau. Chúng vay trước
máu xương của mấy đời sau để ném vào những lưỡi lửa của Mặt Trời. Các
người rồi sẽ bị què cụt hết giống nòi cho mà xem. Không tin ư? Lão thà
bị chó cắn cho đứt lưỡi, còn hơn biết rõ sự thật mà cứ im thin thít.
Lão thề độc như vậy. Nhưng cả làng nghe thấy cũng như không. Tức quá,
lão nhảy xuống ao bèo, lặn xuống đáy rồi trồi lên giữa ao. Lão đội bèo
mà diễn thuyết, diễn thuyết giữa đám bèo ken dày đặc xung quanh. Lão
đâu biết rằng những cái tai bèo trùng trùng điệp điệp kia từ lâu, vốn
cũng điếc đặc như cặp tai của lão.
Cái sự thật hoang đường của lão Thị điếc thật khó mà tin được.
Rồi cũng đến lúc lão phải khép miệng lại vĩnh viễn. Hôm ấy lão đi ăn
giỗ Tổ ở nhà ông trưởng họ. Đám giỗ làm bằng thịt chó. Làng Kinh vốn
nghèo nên không biết kiêng kị. Người ta làm giỗ bằng bất cứ thịt gì có
thể kiếm được. Vào cuối bữa, khi rượu đã ngà ngà, thịt trên mấy cái đĩa
đã sạch nhẵn, lão quờ đũa vào nồi sáo măng, vớ được một cục xương bèn
cầm cả hai tay, đưa lên mồm gặm. Không ngờ đó chính là một mảnh xương
hàm dưới của con chó, trên đó còn dính nguyên mấy chiếc răng chó lởm
khởm. Lão vừa gặm được một nhát thì bỗng cấc. Cục xương chó gãy đôi
khiến mồm lão lỡ đà bập xuống. Mảnh xương cong cong bị lật mạnh một góc
nhỏ, làm mấy chiếc răng chó nhọn hoắt gắn trên đó đâm ngọt xớt vào đám
động mạch nằm ngay dưới lưỡi lão. Nguyên mặt dưới lưỡi người ta có một
đám động mạch cung cấp máu cho cái lưỡi. Nhất là lúc đang ăn thì máu
được tập trung tới chỗ đó tối đa để tăng cường khả năng cảm thụ vị
ngon. Lão Thị điếc bị răng chó làm đứt đúng cái động mạch ấy. Lập tức,
máu từ mồm lão phun thành tia ra xa hàng mét, nhuộm đỏ lòm người ngồi
đối diện, tuôn xối xả xuống mâm như mưa rào. Cả đám giỗ hoảng loạn. Mọi
người kinh hoàng chứng kiến cảnh lão bị phun hết máu cứ đờ dần ra, rồi
trợn mắt đổ vật xuống mà không có cách gì cứu được. Bấy giờ cũng vừa
đúng giữa trưa.
Rốt cuộc lão Thị điếc đúng là bị chó cắn cho đứt lưỡi mà chết.
Sự kiện này làm làng Kinh thêm một lần mất vía. Người ta đã biết khiếp
sợ cái sức mạnh vô hình vẫn ngự trị đâu đây. Ngôi mả Đại Trí Đại Nhân
của ông tiên chỉ Nguyễn Văn Tẹo quả thực không ai được phép nghi ngờ.
Đến mấy cái răng chó chết cũng biến thành âm binh để cắt lưỡi kẻ báng
bổ giữa ban ngày ban mặt thì đúng là ghê thật. Hỏi rằng từ đó, ai còn
dám ho he gì nữa. Tin đồn về âm binh của làng Kinh hoành hành, cắt tiết
người ngay dưới ánh mặt trời loang ra các làng xung quanh, truyền đến
tai ông thầy Ngô. Ông thầy Ngô biết ngay trên đời này ngoài ông ra, kẻ
làm được việc đó chỉ có thể là Nguyễn Văn Tẹo. Đám lâu la Tí, Sửu, Dần,
Mão... của ông thầy Ngô lo rằng một ngày kia, Nguyễn Văn Tẹo có thể qua
mặt cả ông thầy của mình thì sao. Ông thầy Ngô vuốt râu cười khẩy mà
trấn an họ: “Các người yên tâm, cứ việc gối cao đầu mà ngủ. Việc này ta
đã tính trước rồi. Cái long mạch gọi là tổ tông mà ta chọn cho nó ngày
trước ấy, đời nào đúng thực là tổ tông. Đó chỉ là một loại tiện long
(long mạch xấu) mà thôi. Nó thuộc nhóm Ngọ Long phối với sao Dương
Quyền. Long mạch ấy chủ về bạo phát, bạo tàn. Nó lên cũng nhanh nhưng
tàn cũng chóng. Hết kì hạn là tự nó sẽ suy thôi, không cần đến các
ngươi hay bất kì ai phải ra tay tác động”.
Điều ông thầy Ngô tính toán chứa đầy những huyền cơ xảo diệu
bên trong, kẻ tầm thường không thể nào biết được. Cái mà ông ngại chính
là những long mạch ghê gớm khác của làng Kinh mà Nguyễn Văn Tẹo đã
trình lên ông trong bức địa đồ ngày trước. Kể từ khi Nguyễn Văn Tẹo về
làng, ông đã liên tục phái cái đám lâu la Tí, Sửu, Dần, Mão... trên kia
hoặc ngấm ngầm, hoặc công khai, dưới danh nghĩa sang giúp Nguyễn Văn
Tẹo khai Long, dưỡng huyệt... thực chất là yểm cho tịt hết những long
mạch ấy đi. Thật là nhất cử lưỡng tiện. Cái đám chuyên đi trấn áp huyệt
đạo ấy không ngờ lại khuân về cho ông khối vàng bạc, châu báu được chôn
giấu từ những đời nảo đời nào. Duy có cái huyệt Tổ tông đích thực kia
của làng Kinh thì ông đã yểm bao nhiêu lần rồi mà vẫn thất bại. Huyệt
đó nằm trên một long mạch đích thực là chân long, xuất phát từ ngọn núi
Tổ tông có tên là Tản Sơn. Núi Tản Sơn nằm ở phía tây làng Kinh. Ông
thầy Ngô biết rõ long mạch ấy thuộc Tân Long, lại có sao Âm Toàn phối
hợp. Nó mà phát thì con cháu làng Kinh sẽ được quí hiển, văn hiến sẽ nở
rộ, rực rỡ không biết đâu mà lường được. Thậm chí ngay làng Cả của ông,
xưa nay vốn có tiếng là một làng văn hiến, rồi cũng phải kính nể. Không
trấn áp được cái long mạch ấy, ông thầy Ngô ăn ngủ không yên. Ông đã
dùng đủ mọi cách, kể cả việc sử dụng đến “tam uế” (ba thứ uế tạp) là
“huyết hồng cẩu” (máu chó hồng), “tinh trường kê” (cứt gà tí) và “thuỷ
niệu hầu” (nước đái khỉ). Hy vọng sẽ làm cho nó ô uế, dù có kết huyệt
cũng chẳng ra gì. Vậy mà những thứ đó cũng vô tác dụng, không hề phạm
được vào một cọng rễ của cái long mạch ghê gớm ấy.
Song sở dĩ đến lúc này, ông thầy Ngô đã có thể vuốt râu cười
khẩy, là vì ông đã tình cờ phát hiện ra một vật, sau này có thể dùng để
trấn áp cái long mạch quý đó của làng Kinh. Chỉ duy nhất cái vật ấy mới
trấn yểm được mà thôi. Vấn đề là phải biết chờ đợi. Vật ấy sẽ xuất hiện
đúng vào lúc kết thúc một vận số. Ông đã bấm chính xác cái thời khắc ấy
từ trước, nhất nhất không thể sai lệch.
Ông tiên chỉ làng Kinh Nguyễn Văn Tẹo đã lên nhanh như ngựa
nhờ có ngôi mả suông ngự trên cái long mạch Ngọ Long ấy. Thấm thoắt đã
bước sang kỉ dư thứ ba được mấy năm. Ông tiên chỉ cũng đã ngoài thất
thập. Song càng già, đức ông càng sáng. Nói phải tội, xảy ra những vụ
bất đắc kì tử rợn người ấy ở làng Kinh, người ta cứ hay thêu dệt cho nó
ly kì. Chứ chả có ai chứng kiến ông tiên chỉ dính vào vụ nào. Không
những thế, mọi việc diễn ra đều có vẻ rất ngẫu nhiên, tình cờ, tựa như
có số vậy. Nhưng cũng phải công nhận rằng kể từ khi ông từ làng Cả trở
về, cùng với việc ông dựng lên ngôi mả ấy, đã có nhiều việc quái gở xảy
ra ở làng Kinh. Nếu không tính đến những cái chết rùng rợn kiểu như đã
kể ở trên, thì việc xuất hiện cả một đàn lừa trong sân nhà ông là việc
quái gở nhất.
Số là trước khi Nguyễn Văn Tẹo trở về làng để leo lên ngôi
tiên chỉ, làng Kinh vẫn có khối anh cũng bi bô chút chữ nghĩa nọ kia.
Những anh này khi thì thơ thẩn một mình, khi thì túm năm tụm ba xướng
họa, thi phú nhập nhằng. Có lúc hứng lên còn rủ nhau vẽ nhăng vẽ
cuội... Đại khái cũng có dở có hay. Dân làng Kinh đa phần chân lấm tay
bùn, quanh năm chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho giời. Thế mà vẫn
có được cái đám thơ phú ấy thì kể cũng hay hay, bộ mặt của làng cũng đỡ
đi phần nào thô tục. Song cái số đa phần úp mặt ngửa lòng kia xưa nay
chỉ biết bảo sao nghe vậy, người khác khen cũng không biết mà chửi cũng
không hay. Chỉ có cái đám chữ nghĩa ấy là còn tỏ ra có hiểu biết, sĩ
diện đôi chút. Ghê gớm như ông Nguyễn Văn Tẹo mà cũng từng bị họ nói
thầm, nói vụng sau lưng.
Nguyễn Văn Tẹo trở về làng được một thời gian thì, không hiểu
sao cái đám chữ nghĩa ấy cứ dần dần mất tích từng anh một. Mất không để
lại dấu vết gì, cứ như thể họ bốc thành hơi bay đi vậy. Bạn bè, vợ con
những nhà ấy nháo nhào. Thế mà chưa kịp lần ra dấu vết anh này thì lại
nghe tin anh khác vừa mất tích. Có một điều lạ là cứ một anh biết chữ
bị mất tích, thì trong sân nhà ông tiên chỉ lại xuất hiện thêm đúng một
con lừa. Những con lừa mũm mĩm béo quay, vừa đẹp đẽ, vừa hiền lành,
ngoan ngoãn không để đâu cho hết. Giá như bảo chúng còn thông minh lanh
lợi nữa thì chắc không ai tin. Nhưng quả thật những con lừa ấy không
những văn chương, thi phú đầy mình, mà chúng còn biết suốt ngày ca hát
véo von. Đến khi trong sân nhà ông tiên chỉ là cả một đàn lừa hùng hậu
thì làng gần như đã mất sạch những kẻ biết chữ. Trùng hợp đến như thế
mà cũng chẳng ai dám nghĩ rằng những kẻ biết chữ kia đã bị biến thành
lừa. Bởi con lừa với con người rõ ràng khác hẳn nhau. Mặt mũi chân tay
có thể còn có chỗ giông giống, chứ còn cái đuôi thì ở đâu ra? Thử hỏi
trên đời có thứ pháp thuật nào lại ghê gớm đến thế?
Khỏi phải nói đến sự kinh ngạc và thán phục của thiên hạ dành
cho cái đàn lừa tinh khôn tuyệt đỉnh ấy của ông tiên chỉ làng Kinh. Các
gánh xiếc, gánh hề, các đám hát rong khắp nơi đổ đến chiêm ngưỡng, đặt
hàng. Đâu đâu cũng muốn tậu vài chú về để làm trò vui tiêu khiển. Song
ông tiên chỉ nhất định không bán. Ông chỉ sai lâu la tống khứ những con
hoặc bị điên hoặc khuyết tật, những con mất giọng hoặc mắt mờ chân
chậm, những con ngớ ngẩn hoặc yếu sinh lý... mà thôi. Đàn lừa càng ngày
càng được chọn lọc, huấn luyện kĩ càng. Chúng càng lúc càng trở nên
nghênh ngang, đắc chí, lại còn căn cứ vào sở trường, sở đoản mà chia
thành nhóm nọ, nhóm kia. Rốt cuộc con nào con nấy cũng đều có danh, có
tiếng cả. Dân làng Kinh đâm ra tự hào với đàn lừa vĩ đại của mình, coi
chúng như một thứ kì quan, mà quên béng cả cái đám thi phú chữ nghĩa
hồi nào.
Dẫu sao thì việc tăng giảm tỉ lệ nghịch giữa đàn lừa thông
minh trong sân nhà ông tiên chỉ, với những kẻ biết chữ trong làng cũng
là một sự kiện lạ lùng. Liên tiếp mấy thế hệ như vậy. Càng biết chữ thì
càng dễ biến thành lừa. Các nhà nghiên cứu sau này bảo cái sự lạ ấy chỉ
chấm dứt khi cả làng đều biến thành lừa hết. Khi đó mọi việc sẽ trở
thành bình thường. Đơn giản vì không cần thiết phải phân biệt đâu là
lừa, đâu là người nữa. Cả làng là một đàn lừa thì nghĩa là chẳng có ai
bị mất tích đi đâu. Tiếc rằng chưa đến cái lúc ấy thì ông tiên chỉ
Nguyễn Văn Tẹo bất ngờ lăn đùng ra chết.
Lúc đó vừa vặn kết thúc cái kỉ dư thứ ba, đúng ba mươi chín
năm kể từ khi Nguyễn Văn Tẹo trở về làng. Ông thầy Ngô quả đã biết
trước mọi huyền cơ. Không những thế, tận làng Cả, ông còn biết rõ giờ
chết của vị tiên chỉ làng Kinh. Ông gọi đám lâu la Tý, Sửu, Dần, Mão...
tới và bảo: “Các ngươi hãy sang ngay làng Kinh. Cái vật tuyệt vời dùng
để trấn áp long mạch đã xuất hiện rồi đấy. Hãy làm sao cho bên ấy người
ta chôn nó vào đúng cái long mạch ấy, thì làng Kinh từ đây sẽ đời đời
mạt kiếp, không bao giờ ngóc đầu ngóc cổ lên được nữa”. Đám lâu la Tý,
Sửu, Dần, Mão... nhận mật kế, trong bụng nhẩm thuộc lòng bài “kệ” do
ông thầy Ngô truyền khẩu: “Bảy thước ba tấc / mày xấc râu dài / trán quá mang tai / nằm không nhúc nhích / đích thị thần thi”.
Tuy vậy, đám Tý, Sửu, Dần, Mão... kia vẫn chưa hiểu cụ thể cái vật trấn
yểm long mạch ấy, rốt cuộc là cái gì. Sang đến làng Kinh cũng vừa kịp
lúc nghe tin ông tiên chỉ Nguyễn Văn Tẹo mới chết. Đám ấy liền xin vào
viếng. Đứng cúi đầu cạnh thi hài ông tiên chỉ, họ mới giật mình. Tiên
chỉ Nguyễn Văn Tẹo khi chết cao đúng bảy thước ba tấc, mày xấc, râu
dài... Bấy giờ họ mới hiểu ra thâm ý của ông thầy Ngô. Tưởng gì, hoá ra
cái bùa yểm long mạch ấy lại chính là xác chết của vị tiên chỉ. Chữ
“thi” cuối cùng trong bài kệ lúc đầu ai cũng tưởng nhầm là “thi sĩ”,
nay mới hiểu thì ra là... “thi hài”.
Ông tiên chỉ Nguyễn Văn Tẹo nằm đó, không bao giờ nhúc nhích.
Hồn ông phiêu bạt tận tây phương cực lạc. Từ trong cái thân xác phàm
tục của ông tỏa ra một mùi thơm ngào ngạt. Thơm đến nỗi làm điếc đặc
mũi cả làng. Ông tiên chỉ quả là chết vẫn còn ghê. Những người làng
Kinh sau này hoặc ở làng hoặc đi ra thiên hạ, sở dĩ ai cũng mắc chứng
điếc mũi, không phân biệt nổi thơm với thối nữa chính là vì thế. Nghe
nói chứng bệnh này y học bó tay. Đàn lừa nhung nhúc trong sân nhà ông
rống lên những tiếng kêu não nuột rồi phóng ra cổng, chạy khắp làng như
những con chó dái. Chúng cũng biết khóc lóc, kể lể hệt như người vậy.
Có con khóc hăng quá làm hai mắt đỏ ngầu, sưng tấy. Hàng chục năm sau
vẫn còn thấy những con lừa ấy khóc, khóc chán rồi lại hát véo von. Đến
ông Trời cũng mưa như trút nước xuống làng. Lũ con cháu vị tiên chỉ
ngẩn ngơ, đám lâu la hốt hoảng như rắn mất đầu. Cả làng Kinh được một
phen nhao nhác. Chợt tất cả mừng rỡ khi nghe cái đám Tý, Sửu, Dần,
Mão... kia truyền đạt lời ông thầy Ngô. Thì ra ông thầy đã chọn sẵn cho
vị tiên chỉ của họ một cái huyệt tốt để an giấc ngàn thu. Huyệt ấy mới
đúng là huyệt Tổ Tông của làng Kinh. Chôn vị tiên chỉ vào đấy, làng
Kinh sẽ phát không biết đến thế nào. Thật là nham hiểm không để đâu cho
hết, ghê gớm thay bụng dạ lão thầy Ngô. Còn cái mả Đại Chí Đại Nhân chi
mộ? Cứ để nó đấy. Dẫu nó mãi mãi chỉ là một cái mả giả vờ, giả vờ đến
muôn năm. Dân làng Kinh luôn phải cúng tế nó, cúng tế mãi muôn đời.
Ông tiên chỉ làng Kinh ra đi. Thế gian chỉ còn lại duy nhất một người
miễn dịch với âm binh, có thể sử dụng âm binh giữa ban ngày ban mặt là
ông thầy Ngô. Tuy vậy mấy năm sau, ông thầy Ngô cũng lăn ra chết nốt.
Không biết ông có truyền nhân nào trong cái đám Tý, Sửu, Dần, Mão...
kia mà truyền nghề lại hay không? Hình như có đấy, bởi những việc động
trời do âm binh thực hiện thỉnh thoảng vẫn diễn ra đâu đây, khi thì ở
làng này, khi thì ở làng khác. Con người đã bắt đầu coi những việc đó
là chuyện bình thường.
Rốt cuộc làng Kinh có chôn ông tiên chỉ Nguyễn Văn Tẹo xuống
cái huyệt Tổ Tông ấy hay không? Kế hoạch yểm bùa của ông thầy Ngô kết
quả thế nào? Con cháu vị tiên chỉ về sau ra sao? Tất cả đều thuộc về
một câu chuyện khác. Hy vọng mọi người rồi sẽ được chứng kiến. Câu
chuyện này xin kết thúc ở đây. Dẫu có ai trách rằng cái kiểu kết thúc
như thế này là không có hậu thì cũng đành vậy. Chỉ biết rằng làng Kinh
và làng Cả vẫn là những láng giềng bất đắc dĩ. Và cái sự giả vờ Đại Chí
Đại Nhân chi mộ ấy ở làng Kinh, đến bây giờ vẫn còn. Không những thế,
nó càng ngày càng khẳng định vai trò là một biểu tượng tín ngưỡng của
làng Kinh. Dân làng Kinh hầu như không có sự lựa chọn nào khác, ngoài
việc sùng bái nó còn hơn sùng bái cả tổ tiên của mình.
4/2006
Copyright @ DCVonline 2006