Theo Đàn Chim Việt - Phạm Lưu Vũ - 01-07-2006
Có thơ rằng:
“Quá khứ nào buồn bã rêu phong
Thời gian nào dọc ngang tơ nhện...”
Vậy quá khứ có mùi gì? Thời gian có mùi gì? Không biết! Chỉ biết kẻ
thức giả khuyên rằng bất luận thế nào thì cũng nên đóng cho kín quá khứ
lại, đừng có dại mà mở nó ra. Ví dụ như một câu chuyện dân gian sau đây:
Chuyện kể rằng ở vùng nọ có ông quan rất to tên Mỗ. Vốn là người học
hành đỗ đạt, cũng thỉnh thoảng thi phú lăng nhăng. Song lại là người
nổi tiếng đểu cáng, bất nhân bất nghĩa, bất chấp liêm sỉ, ăn của dân
không từ cả manh khố rách. Mỗ tự mình đặt ra luật lệ, thả cho lâu la
nhân danh pháp luật để ăn cướp đã đành, lại còn rao giảng tuyên ngôn,
đạo đức hết ngày này sang ngày khác. Chữ nghĩa, học thuyết... phun ra
phì phì. Mỗ muốn nói xuôi, nói ngược gì thiên hạ cũng đều phải nghe,
đều phải cho là chân lý. Kẻ khác muốn nói cái gì nhất nhất đều phải uốn
lưỡi theo ý Mỗ, Mỗ cho nói thì được nói, bắt câm là lập tức phải câm...
Vì thế những kẻ tử tế, có chút liêm sỉ trong thiên hạ lúc nào cũng nhất
tề im lìm như một đàn hến, lặng ngắt như một đám tang. Kẻ ngoài nhìn
vào tuy vẫn thấy ầm ĩ đấy, nhưng tất cả chỉ vo ve độc một giọng Mỗ mà
thôi.
Có lẽ vì cái đểu cao ngất ấy mà trời phạt. Mặc dù Mỗ có vô số vợ rải
khắp thiên hạ, nhưng lại đẻ ra rặt những giống chó lợn, nếu không thì
cũng hao hao cầy cáo... chẳng đứa nào được ra cái hồn người. Gần sáu
chục tuổi, Mỗ vẫn chưa có đứa con nào khả dĩ có thể nối được cái “đức”
của mình. Nghe người ta đồn nơi có mả Chúa là một chốn rất thiêng, có
thể cầu gì được nấy, thiên hạ vẫn ngày ngày xếp hàng đến vái đông như
trẩy hội. Mỗ bèn huy động lâu la quét dọn đường sá, chuẩn bị lễ vật.
Lại sai tìm thuê bằng được một lão thày cúng cao tay ấn rồi tiền hô hậu
ủng, đích thân tới mả Chúa để cúng tế, cầu đẻ được một đứa con cho ra
cái giống người.
Bữa ấy tế xong về ngủ, đến khoảng canh ba mơ màng nghe có gió lạ thổi
vào trong màn, bất chợt lẫn trong bóng trăng khi mờ, khi tỏ, Mỗ nhìn
thấy Chúa dắt một đứa bé ngắn độ hai tấc, tròn xoe, mũm mĩm như thiên
thần đến bên màn mà bảo:
- Cúng cáp ghê quá, làm cho ta muốn lờ đi cũng không được. Nhưng ta chỉ
là nhà môi giới đầu thai thôi đấy. Có gì các ngươi tự thương lượng với
nhau.
Nói xong, Chúa biến mất. Còn lại đứa bé, nó khoanh tay lễ phép nói với Mỗ:
- Ông muốn có con hay để sáng mãi cái đức của mình. Phải cái thời buổi
này, từ các thiên tinh, đồng tử cho đến những vong hồn, quỷ sứ... đều
không ai muốn đầu thai làm người cả. Nay nể Chúa mà tôi phải thí thân
đó thôi. Vậy tôi chịu làm con cho ông ba mươi năm được không?
Mỗ ngắm đứa bé thì thích lắm, lại nghe nó nói thế thì mới đầu mừng rỡ. Song nghĩ lại thấy có chỗ không ổn, bèn trả lời:
- Ba mươi năm ngắn quá. Ta còn muốn sống đến trăm tuổi nữa kia. Chẳng lẽ ta phải chôn con trước rồi mới đến lượt ta hay sao?
Đứa bé lại nói:
- Vậy năm mươi năm được không?
Mỗ trả lời:
- Đời người năm chục tuổi vẫn còn là chết non. Ta không muốn con ta lại có cái số kiếp ấy.
Đứa bé tiếp tục nhượng bộ:
- Thôi thì bẩy mươi năm vậy.
Đến đây Mỗ mới gật đầu bằng lòng. Liền đó một trong số vợ bé của Mỗ có
mang, đủ chín tháng mười ngày quả sinh ra một đứa bé bụ bẫm, giống hệt
đứa bé Mỗ gặp trong giấc mộng ấy.
Đứa bé lớn lên, một tuổi biết đi, hai tuổi biết nói, ba tuổi bắt đầu
học chữ, bốn tuổi đã đọc thông viết thạo. Mỗ mừng lắm, quý như cục
vàng, sai người chuẩn bị kinh sách, tự mình bịa ra truyền thống, xuyên
tạc gia phả... cốt sao dạy nó sau này đểu hơn cả mình. Năm mười ba
tuổi, đứa bé dường như đã thấu hết tình đời, kiến thức không thua gì
người lớn. Một hôm nó ôm lấy mẹ mà bảo:
- Bố té ra là hạng người không ra gì. Con nghe lời Chúa, đầu thai đã là
cái sự ngu, không ngờ lại thác sinh vào chốn đểu, cố được đến ngày hôm
nay cũng là bởi vì thương mẹ. Song con cũng phải tìm nơi khác mà làm
người thôi. Mẹ đừng buồn, sau này nếu thấy ở đâu có đứa trẻ lên ba
không biết nói, một bàn tay nắm chặt giữ một vật gì, thì xin mẹ hãy tìm
đến. Đó chính là con đấy.
Nói xong, nó nằm lên giường, nhắm mắt lại rồi không bệnh mà chết. Mỗ
đau đến chết đi sống lại, bấy giờ Mỗ đã già, sinh khí tiêu hết không
còn đẻ được nữa, đành bấm bụng chọn trong số đám con cầy cáo kia lấy
một đứa làm người kế nghiệp. Duy người mẹ không khóc lóc gì, chỉ kiểm
lại thì thấy mất cái trâm gài đầu, không biết trong lúc hỗn độn đánh
rơi mất ở đâu. Từ đó cứ lặng im ghi nhớ những lời trăng trối của nó rồi
kiên nhẫn nghe ngóng, chờ đến ngày gặp lại đứa con.
Được khoảng một năm, lão thầy cúng ngày trước Mỗ thuê mò tới tâu:
- Thằng bé ấy không phải tầm thường. Sở dĩ nó bỏ Ngài là vì số Ngài và
nó có chỗ xung khắc. Nay cái tinh linh của nó vẫn còn lẩn quất đâu đây,
tôi đã có cách tra ra chỗ trú của nó. Nếu Ngài có được cái tinh ấy mà
dùng làm con tin với cả quỷ thần thì cơ đồ của Ngài sẽ bền vững đến
muôn đời.
Mỗ nghe nói mừng quớ lên, vội hỏi:
- Làm cách nào để tóm được nó?
Lão thầy cúng khúm núm:
- Tôi sẽ vì Ngài huy động cả “nhâm, cầm, độn, toán” mà chiếu ra phương vị của nó, lại dùng phép để yểm thì nó có chạy đằng trời.
Mỗ mừng lắm, lập tức thưởng trước cho lão thầy cúng một số tiền lớn,
đoạn sai lão lập tức đi tìm bắt cho bằng được linh hồn của thằng bé đem
về...
Hôm ấy, lão thầy cúng giở tay bấm độn. Biết cái tinh kia hiện đang trú
trong một viên sỏi nhỏ nằm ngay trước cổng một làng nọ, lão vội vàng
chiếu đường tìm đến. Viên sỏi nhẵn thín có linh hồn thằng bé trú vào từ
đêm hôm trước, nằm hờ hững ngay giữa đường làng, lẫn vào vô số những
viên sỏi khác, người bình thường không thể nhận ra. Nhưng đối với lão
thầy cúng cao tay này thì nó đừng hòng ẩn thân vào đâu được. Không ngờ
khi lão ta tìm được tới nơi thì viên sỏi đã biến mất, cứ như thể nó có
chân? Hay có kẻ nào vừa nhặt mất rồi? Quả có như vậy thật, nhưng đó là
kẻ nào? Lão thầy cúng không chịu bỏ cuộc, bèn bấm lại phương vị, rồi
đuổi theo cái kẻ nào đó vào tận trong làng.
Số là trước đấy vài khắc, có người làng dắt trâu đi qua chỗ ấy, tình cờ
thế nào, con trâu đang đi bỗng đứng lại, ỉa một bãi trùm đúng lên viên
sỏi. Lát sau, một người khác trong làng mang rổ ra hót bãi phân, định
đem về đổ vào chuồng lợn. Bãi phân vô tình dính cả viên sỏi vào đấy.
Lão thầy cúng cũng vừa kịp đuổi tới nơi, bèn túm ngay lấy kẻ đó, đòi
đắt mấy cũng mua cho bằng được bãi phân. Người kia nghe lão thầy cúng
nói thì tròn mắt kinh ngạc, xưa nay chẳng thấy ai đòi mua đắt cứt trâu
bao giờ, vì thế cho là lão thầy cúng điên, thành ra cứ ôm khư khư cái
rổ cứt. Lão thầy cúng sốt ruột xông tới quyết giằng cho bằng được. Hai
người đang co kéo, bất ngờ cái rổ bị lật nghiêng làm cứt đổ ra văng
tung tóe. Lão thầy cúng thấy thế vội vàng bỏ cái rổ, rồi bất chấp bẩn
thỉu, bò cả người vào đám cứt để lần tìm.
Bỗng có một người đàn bà đi làm đồng về ngang qua, thấy lão thầy cúng
đang bò lóp ngóp, mải miết bóp nặn từng mẩu cứt thì ngạc nhiên lắm, bèn
đứng lại xem một lúc rồi chép miệng, cho là lão ta lên cơn điên nên
nhìn cứt hoá vàng, rồi bỏ về. Người đàn bà ấy lại vô tình dẫm đúng phải
chỗ cứt có dính viên sỏi. Lão thầy cúng cuối cùng cũng tìm thấy, nhưng
nó chỉ còn là một viên sỏi hoàn toàn bình thường, chẳng có chút tinh
linh nào trú trong đó cả. Lão biết mình đã thua, đã gặp ngay phải cái
tinh láu lỉnh. Có biết đâu rằng cái tinh ấy đã kịp theo người đàn bà
kia về nhà bà ta mất rồi.
Lão thầy cúng thất bại ôm đầu về chịu tội với Mỗ. Tuy nhiên lão vẫn cố vớt vát:
- Tôi dẫu không bắt được nó, song chắc chắn nó còn trốn trong vòng ảnh
hưởng của Ngài. Cứ như quẻ bói của tôi thì nay mai nhất định nó sẽ lại
đầu thai vào một nhà khác. Xin Ngài để ý nghe ngóng, biết đâu đến lúc
ấy mà bắt được nó về làm con thì thế nào cũng được đại phúc.
Sau đó gần bốn năm, nghe đồn rằng làng ấy có vợ chồng một nhà nông phu
nghèo đẻ một đứa con trai đẹp như thiên thần. Nhưng không hiểu sao đã
lên ba tuổi mà nó tuyệt không mở miệng nói ra tiếng nào, một bàn tay
luôn luôn nắm chặt như giấu vật gì, không sao bắt được nó xoè ra. Người
vợ bé của Mỗ nhớ tới lời dặn, biết con mình ngày trước đã đầu thai trở
lại, bèn bí mật tìm đến xin gặp. Mẹ của đứa trẻ ra mở cổng đón vào,
chính là người đàn bà đã dẫm phải cứt trâu ngày trước.
Điều kì lạ đã diễn ra. Đứa trẻ đang nằm im thin thít trên giường, thấy
vợ Mỗ tới thì bỗng ngồi nhỏm dậy, mở miệng cất tiếng nói đầu tiên, gọi
“Mẹ” rồi xòe nắm tay ra. Mọi người kinh ngạc nhìn thấy trong lòng bàn
tay ấy có một cái trâm gài đầu, giống y hệt cái trâm ngày xưa của vợ
Mỗ. Biết đích xác đứa trẻ này đúng là đứa con ngày trước của mình, vợ
Mỗ mừng lắm. Bèn kể lại mọi chuyện cho vợ chồng nhà nông phu kia nghe.
Vợ chồng nhà ấy cho là chuyện lạ, cũng hết sức vui vẻ mà đồng ý cho vợ
Mỗ đi lại thăm nom, coi như con đẻ. Đứa trẻ từ đó thành ra lại có hai
bà mẹ ruột, cùng săn sóc, yêu quý nó như nhau...
Đứa trẻ lớn lên, càng lớn càng sáng sủa, thông minh đĩnh ngộ, học một
biết mười. Năm nó được sáu bẩy tuổi gì đó thì Mỗ biết chuyện. Bèn sai
lâu la dò xét, biết rõ nơi ở của nó rồi, Mỗ đích thân mò tới nom trộm,
quả nhiên thấy nó giống hệt thằng con quí của mình ngày trước. Bấy giờ
Mỗ đã già, đường con cái chẳng đứa nào được ra cái giống người, thiên
hạ lắm kẻ cứ nhè vào cái nỗi đau ấy mà chửi thầm, chửi vụng. Mỗ nghĩ
bụng thôi thì có đứa con khôi ngô, giỏi giang như thế cũng đỡ được phần
nào sĩ diện. Không những thế, lại ứng vào cái điềm đại phúc như lão
thầy cúng nói ngày trước. Thế là Mỗ lập tức giao cho lâu la tìm cớ dựng
chuyện, vu oan giá họa nọ kia... rồi dùng quyền hành bắt đứa trẻ về,
công bố nó là con của mình bị thất lạc.
Vợ chồng nhà nông phu kia bị mất con thì ức lắm song thân yếu thế cô,
trước quỷ dữ biết làm thế nào. Ngay cả người vợ bé của Mỗ cũng phản
đối, không muốn có con theo cái kiểu ăn cướp ấy. Nhưng Mỗ đã muốn là
phải được. Từ khi bắt được đứa trẻ về làm con, Mỗ hết sức sung sướng và
hãnh diện với thiên hạ vì mình rốt cuộc cũng có được một đứa con thực
cho ra cái giống người.
Một hôm, Mỗ dẫn đứa trẻ đến lạy trước bàn thờ tổ tiên. Chẳng hiểu hướng
dẫn nó lạy lục thế nào, chỉ thấy nó giơ một ngón tay ra, trỏ một cái
vào giữa bàn thờ như kiểu người ta làm phép giải toả. Lập tức, từ nơi
đó xông ra một mùi gì hăng hắc, khăn khẳn, y hệt mùi cứt trâu tươi. Mùi
đó mới đầu còn tụ một chỗ, sau lan ra nồng nặc khắp nhà trên, nhà dưới,
tràn ra cả bên ngoài, làm người ăn, kẻ ở lẫn dân chúng quanh vùng không
ai chịu nổi, cứ thi nhau khạc nhổ om sòm. Thằng bé kia quả nhiên cũng
có chỗ khác người. Nhưng cái mùi ấy thì rõ là từ chỗ bàn thờ nhà Mỗ mà
xông ra, cứ như thể xưa nay nó đã ngự trị sẵn ở nơi đó rồi, có điều
chưa ai ngửi thấy mà thôi.
Mỗ hoảng hốt không hiểu tại sao thằng bé này lại giải phóng được cái
mùi đó ra khỏi cỗ bàn thờ cổ kính và trang nghiêm của nhà mình. Trong
đầu chợt nhận ra một điều rằng nuôi nó trong nhà sẽ chẳng khác gì nuôi
ong tay áo. Mỗ vội vàng quát lâu la tống cổ thằng bé ra ngoài đường rồi
đóng chặt cửa nhà thờ lại, cố tìm cách giam kín cái mùi ấy trong phạm
vi nhà thờ cho khỏi làm ô nhiễm môi trường... Thất vọng vì giấc mơ đại
phúc không thành, từ đó Mỗ không xuất hiện ở đâu, không rao giảng điều
gì với thiên hạ nữa. Phần vì Mỗ đã già, công việc thừa kế đã có đám con
cái chó lợn, cầy cáo kia cai quản, phần vì Mỗ phải tự mình canh giữ cái
mùi khủng khiếp ấy trong nhà thờ, không cho nó bốc hơi ra bên ngoài để
còn giữ thể diện với thiên hạ cho đến hết đời.
Đứa trẻ rốt cuộc lại được trở về với vợ chồng nhà nông phu kia, được
tiếp tục sống trong vòng tay yêu thương của hai bà mẹ. Không biết kết
cục đời nó về sau thế nào, câu chuyện không thấy đề cập tới. Chắc nó
cũng thành một người tử tế bình thường, rồi chìm lẫn vào giữa chốn dân
gian, mặc cho các nhà viết sử cứ việc hoài công tìm kiếm, đến nỗi phải
bịa tạc nọ kia... Câu chuyện còn kể rằng cái nhà thờ ấy của nhà Mỗ đến
bây giờ vẫn còn. Nhưng nó luôn luôn được đóng chặt. Phải có tới mấy lần
cửa trong cửa ngoài, kín mít như bưng. Bao nhiêu đời nay không ai dám
mở, chỉ sợ cái mùi gì ấy từ cỗ bàn thờ nó lại thoát được ra...
2005
Copyright @ DCVOnline 2006