Người
xưa dạy phải chờ đến khi “đóng nắp quan tài” lại (cái quan) mới phê
bình con người ta (luận định). Không hẳn một người xấu, sẽ xấu mãi cho
đến khi qua đời; một người tốt, cũng có thể như vậy chăng. Một tên ăn
trộm biết sửa mình, sẽ thành một vị thánh hoặc một người mang một cái
vỏ bọc khá đẹp, mãi đến khi chết rồi người đời mới biết ông ta mặc áo
giả.
Theo
cách nhìn đó của người xưa, bây giờ người đời đã có thể phê phán ông
Nguyễn Xuân Oánh rồi đó. Riêng bản thân tôi, tôi không ưa làm chuyện
phê phán người nào, dù là ông Oánh hay là ai. Nhưng với một nhân vật
lớn miền Nam, từng được nhiều người biết đến, tại sao ta lại không thể
đi tìm một cái nhìn cho thật, nhận chân việc làm của ông trong quá khứ
có hậu quả trực tiếp, gián tiếp cho biết bao nhiêu người như thế nào?
Ông
ta “mê” và cưới Thẩm Thúy Hằng, một người nổi tiếng, sau khi cô nầy ly
dị chồng. Đời có lắm chuyện buồn cười! Khi tôi ở trong trại cải tạo,
một người bạn tù là bạn thân chồng cũ TTH. Anh ta kể: “Hai đứa” (TTH và
Anh chồng cũ) ở chung một đường ở Long Xuyên, và là bạn học, yêu nhau
từ hồi ấy. Rồi cưới nhau. Khi TTH nổi tiếng thì người chồng là thiếu tá
Hải quân. Một hôm, TTH từ Pháp về, giới nghệ sĩ, báo chí Saigon kéo
nhau đi đón rần rần thì anh chồng đi... nhậu. Hỏi anh ta sao không đi
đón vợ, anh ta chỉ cười. Người bạn kết luận: “Thằng ấy mất vợ là phải!”
Sao gọi là phải? Có cái “phải” nào trong chuyện mất vợ về tay ông lớn?”
Thế rồi vì chuyện đời tư, chẳng ai bàn sâu nữa làm chi.
Khi
ông Nguyễn Xuân Oánh cưới cô TTH, báo chí Saigon hồi đó cũng bàn ra tán
vào loạn xà ngầu cả lên, còn gọi Nguyễn Xuân Oánh là “me xừ mông TTH”.
Đó cũng là chuyện đời tư, nhưng báo chí vốn dĩ ưa xông vào đời tư người
khác để câu độc giả vì độc giả không thiếu kẻ tò mò. Mới đây, đài BBC
(?), nhân dịp loan tin về cái chết của ông Nguyễn Xuân Oánh, có nói
thêm tháng Tư/1975, ông ta ở lại Saigon, không di tản vì TTH có hoạt
động cho Cộng Sản nên muốn ở lại và Nguyễn Xuân Oánh “theo vợ”. Nói thế
có hồ đồ chăng? Khi Cộng Sản Việt Nam đổi mới, Nguyễn Xuân Oánh xông ra
làm cố vấn thì báo chí lại “phán” rằng Nguyễn Xuân Oánh ở lại vì chịu
ảnh hưởng bố ông. Bố ông là một người từng ủng hộ Nam Bộ Kháng Chiến.
Mộng bất thành, bố truyền lại cho con nên cả hai bố con đều thiên tả.
Đó là lý do thứ hai.
Còn lý do thứ ba?
Năm 1980, tôi ở
chung đội với Anh Trịnh Xuân Ch. trong trại cải tạo Xuân Lộc, Trịnh
Xuân Ch. là một con người đặc biệt, không những chỉ ở cái dáng dấp, thể
hình anh ta mà còn ở cá tính nữa. Hồi ấy, nhìn chung, hầu hết ở tù đã 5
năm, nên có nhiều người trốn trại. Phần đông người ta trốn khi đi làm
khổ sai ngoài bãi, nhất là lợi dụng lúc trời mưa. Ngoài bãi không có
vòng rào, không có tuần phòng, chỉ có công an đi theo canh chừng. Có
người trốn được, có người bị bắn chết. TXC thì khác. Nửa đêm, anh ta
cạy vách nhà giam, leo hàng rào kẽm gai trốn đi. Thế rồi được vài
tháng, anh ta bị bắt lại, vào “cát-xô” cũng vài tháng.
TXC tốt
nghiệp Đại Học Sư Phạm Saigon, cử nhân Văn Chương Pháp, từng được biệt
phái về Việt Nam Thông Tấn Xã, và cuối cùng là chuyên viên bậc 2, Phủ
Tổng Thống, Văn Phòng Phụ Tá Ngoại vụ. Anh ta kể:
“Trước 30 tháng Tư/75 một tuần lễ, Phụ Tá Ngoại Vụ của Tổng Thống là Nguyễn Phú Đức chuẩn bị rời Việt Nam. Tôi hỏi “xếp”:
- “Ngày mai ông Phụ Tá đi rồi, còn anh em chúng tôi thì sao?”
NPĐ nói:
- “Những người như các anh nên ở lại giúp nước.”
Và rồi người ở lại đóng tiền đi ở tù.
Có
phải đây là lời phỉnh gạt của ông NPĐ đối với nhân viên thân cận của
ông? Hay ông ta cũng như rất nhiều người Miền Nam bị Cọng Sản Hà Nội
phỉnh gạt? Hay người ta biết chắc chắn một ngày kia, người Cộng Sản
phải dùng chất xám của những người chế độ cũ ở miền Nam để cứu họ?
Ngay
khi tiếp thu Saigon, sau 30 tháng Tư, tại hãng kem đánh răng “Kol” trên
đường Nguyễn Trãi, Saigon đã có chuyện ấy rồi. Bà Minh Nguyệt vợ tướng
Việt Cộng Trần Văn Danh mới nhận chức giám đốc hãng nầy. Bà ta hỏi từng
người:
- “Cũ hay mới?”
Nếu mới (từ ngoài Bắc “chi viện” cho miền Nam thì “đi chỗ khác chơi”).
Anh Pham Xuân Tài, bạn tôi, trả lời:
- “Tôi được lưu dung” (người cũ, dung tha và lưu lại dùng).
- “Tôi cần biết cũ hay mới. Không có lưu dung. Tôi không dùng từ ấy.” Bà Giám đốc nói.
Rồi anh bạn tôi được ở lại làm việc.
Đó là nhân vật đầu tiên.
Nhân
vật thứ hai đã cứu Saigon thoát khỏi nạn đói hồi đầu thập niên 1980 là
Bà Ba Thi. Nhưng toàn bộ ban tham mưu của Bà Ba Thi là “dân Saigon”
cũ, đứng đầu là một người đã tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh.
Ở
Saigon, sau 30 tháng Tư, người ta cũng đồn rằng Giáo Sư Nguyễn Ngọc
Huy, từ hải ngoại, có gởi cho Lê Duẫn một bức thư khuyên Duẫn nên xử
dụng trí thức miền Nam. Tiếc rằng trình độ một anh “Tổng Bí Thư Sơ Học
Yếu Lược” (tốt nghiệp lớp ba bậc tiểu học) không thể nào lãnh hội được
lời “giáo huấn” của một Giáo Sư Đại Học. Muốn vào học đại học ít ra
phải đậu tú tài.
Trong “ý đồ” để lại toàn bộ gia sản miền Nam
cho Cộng Sản (nhà máy, cầu đường, xe cộ, tàu bè, v.v... mọi thứ đều y
nguyên khi quân Cộng Sản vào Saigon) của “bàn tay lông lá” có phải có
cả chất xám của trí thức miền Nam, để ngày sau, những chất xám nầy giúp
Cộng Sản “đổi mới”?
Có người nói: “Giúp Cộng Sản tồn tại lâu hơn
là có tội với dân tộc”. Lại có người nói: “Trước phải vun xới cho cây
mít mạnh khỏe, xanh tốt đã, dù cây tầm gửi trên cây mít cũng được hưởng
lây. Mai mốt người ta sẽ chặt cây tầm gửi mà vất đi.”
Trở lại việc ông Nguyễn Xuân Oánh ở lại Saigon là nhằm trong trường hợp nào? Vì “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”
hay mù quáng theo cha, hay “nằm vùng” do sự sắp đặt của “bàn tay lông
lá” nào đó? Đầu thập niên 1960, khi ông NX Oánh du học về nước thì có
vụ Nhất Linh tự vẫn. Có lẽ ông Oánh có nghe di chúc của Nhất Linh: “Đời
tôi để lịch sử xử.” NXO có hy vọng gì chăng khi lịch sử xử một người có
bằng cấp cao, một người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp kinh tế tại
Havard, (một đại học danh tiếng của nước Mỹ), một người từng giữ chức
vụ Quyền Thủ Tướng sau khi Bác Sĩ Phan Huy Quát từ chức?
Cuối
cùng, ông NXO làm cố vấn cho Võ Văn Kiệt (thủ tướng) và Nguyễn Văn Linh
(Tổng bí thư). Hai tay nầy theo gương người xưa mà “chiêu hiền đãi sĩ”
để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân chăng? Hay họ chỉ muốn cứu bản thân
họ và cứu đảng của họ? Theo cách nhìn đó thì ông NXO có tội khi ra tay
cứu “bọn cướp ngày” sống lâu thêm theo cách nói của người xưa rằng:
Con ơi nhớ lấy câu nầy,
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.
Ai bảo đây không phải là “Quan Cách Mạng.”
Đào
Duy Từ là con nhà đào hát. Ở Bắc Hà, ông không được đi thi nên không
được làm quan, có nghĩa là không có cơ hội thi thố tài năng giúp vua,
cứu dân nên bỏ vào Đằng Trong. Ông từng đi chăn trâu - (nhưng tự ví
mình như Ninh Thích). Cuối cùng, người ta cũng khám phá ra tài năng của
ông, đem ông dâng cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn đang “chiêu hiền đãi sĩ”
xây dựng Nam Hà thành một xứ giàu mạnh, giữ cho ngôi vị được bền lâu
như câu nói của Trạng Trình “Vạn đại dung thân”.
“Sau khi được sự chấp thuận của chúa Sãi, cách mấy tháng sau, Trần Đức Hòa cùng đi với Duy Từ ra công phủ chờ đợi. Đức Hòa sắm mũ chầu cho Duy Từ đội để cho đầy đủ nghi thức tiến dẫn, nhưng Duy Từ gạt đi:
- “Có chức thì mới có mũ đội, không có chức thì không dám đội.”
“Rồi cứ để đầu trần đi vào phủ chúa.
“Bấy
giờ chúa Sãi đang ngồi trên điện, nghĩ ngợi tìm cách thử tài Duy Từ.
Chúa mặc áo trắng, đi hia xanh, tay cầm long trượng, vai khoác túi vải.
Khi thấy Duy Từ tiến vào, bèn ra ngoài cửa đứng chờ, nét mặt vui vẻ,
rạng rỡ. Duy Từ khẻ hỏi Đức Hoà:
- “Người nầy là ai vậy, thưa cha?”
“Quan khám lý khẽ đáp:
- “Vương thượng đấy, con mau đến lạy chào.”
“Duy
Từ nghe nói thế chỉ cười nhạt, không chịu đến chào, rồi rảo chân quay
bước lui ra, gần ra khỏi sân, Đức Hòa đuổi kịp kịp trách rằng:
- “Chúa ngự ra đây để đợi, sao con không lạy chào. Con không chịu lạy thì tội tất qui vào ta mà thôi.”
“Duy Từ đáp:
-
“Đây là tư thế của Vương Thượng lúc sắp đi dạo chơi với bọn con gái,
không phải là nghi lễ tiếp khách đãi hiền. Nếu con lạy chào tức là phạm
tội khi quân, vì thế không dám lạy, có tội gì đâu?”
“Khám
lý nghe vậy phát gắt, thúc dục đến lạy chào nhưng Duy Từ vẫn đứng yên
một chỗ. Thế là Sãi Vương biết ý, trở vào trong phủ sửa sang áo mũ,
lên ngồi ở công đường sai nội giám lấy áo mũ quan văn ban cho Duy Từ
rồi mời vào sảng đường bái yết.”
(Kể chuyện 9 Chúa, 13 vua triều Nguyễn - Tôn Thất Bình)
Sau khi bàn đủ mọi chuyện, cả chuyện giúp chúa xây dựng xứ Đằng Trong, tiễn Đào Duy Từ ra về, chúa nói:
- “Ta lấy làm tiếc gặp “Thầy” quá trễ!”
Từ cuộc gặp gỡ đó, chúa Nguyễn gọi Đào Duy Từ bằng Thầy. Thầy là thầy giáo, thầy dạy, là bậc sư của chúa.
Muốn
phát triển Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng phải nối 6 trường thành ở phương
bắc lại thành “Vạn Lý Trường Thành” để ngăn chận các cuộc xâm lăng của
bọn rợ phương bắc.
Muốn phát triển phương Nam, Đào Duy Từ cũng
cho đắp lũy “Trường Dực” ở Đồng Hới để ngăn chận các cuộc xâm lăng của
quân Trịnh ở phía bắc. Lũy Trường Dực, tục gọi là “Lũy Thầy”.
Ở
lại miền Nam, NXO “được” cải tạo tại chỗ 9 tháng. Không biết hôm Võ Văn
Kiệt, Nguyễn Văn Linh gọi NXO tới cho làm cố vấn, hai ông nầy có tiếp
NXO “đủ lễ” như chúa Nguyễn tiếp anh chăn trâu Đào Duy Từ hay họ cũng
chỉ “áo bà ba khăn rằn vắt vai”.
Từng vào ra Nam Bắc nhiều lần,
nếu đi bằng máy bay thì chẳng thấy gì, nhưng nếu đi bộ thì thế nào họ
cũng đi qua “Lũy Thầy”. Họ học được gì ở lịch sử khi đi ngang qua đó,
hay họ cho rằng những gì Mác-Lênin dạy mới là “kinh điển”, còn những gì
của lịch sử dân tộc là phong kiến hủ lậu, chỉ đáng đem bỏ thùng rác.
hoànglonghải (tuệchương)