Cây biết đi, mặt trời xoay quanh trái đất (II)
Theo Đàn Chim Việt - Minh Võ - 18-05-2006
Phần II -Tiếp theo phần I, ngày 18/05/2006
Một số người khác cũng đưa ra những sự việc sau đây để biện minh cho cùng lập luận đó. Họ bảo:
I. Ông Hồ đã giải tán đảng cộng sản rồi lập chính phủ kháng chiến gồm đủ mọi thành phần yêu nước;
II. Sau khi tuyên bố độc lập, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã không được Liên Xô công nhận.
III. Hai bản hiến pháp (1946 và 1959) ban hành trong thời gian ông Hồ
còn sống (theo đó quốc hiệu là VNDCCH) đều là những bản hiến pháp có
tính dân tộc, dân chủ. Chỉ khi ông đã chết rồi đàn em của ông mới tu
sửa hiến pháp hai lần (1980 và 1992) theo mô hình quốc tế cộng sản, với
điều 4, giống điều 6 của hiến pháp Liên Xô, giành độc quyền chuyên
chính của đảng cộng sản. Như vậy nếu ông Hồ còn sống cho đến ngày ông
chiếm trọn cả nước thì Việt Nam vẫn là một nưóc dân chủ cộng hòa, chứ
không theo mô hình “xã hội chủ nghĩa”, như ngày nay.
IV. Và còn rất nhiều luận cứ tương tự. Chúng tôi chỉ nêu thêm một luận
cứ chót: Ông Hồ đã tỏ thiện chí muốn tách ra khỏi ảnh hưởng và áp lực
của Liên Xô và Trung Cộng khi ông ngỏ ý với chính quyền Ngô Đình Diệm
muốn lập một “liên bang Nam Bắc Việt Nam”.
 |
Ông Hồ và Georges Bidault, Tổng thống Pháp (1946) — Nguồn: voltairenet.org
|
Tất
cả 4 vấn nạn trên đều được giải đáp dễ dàng nếu ta biết ông Hồ là cán
bộ cao cấp của Quốc Tế cộng sản và đặt cuộc chiến mà ông Hồ chủ trương
vào trong khuôn khổ chiến tranh giai cấp của cộng sản như đã nói trên (trong phần 1 của bài).
Mặc dù nhiều lần ông Hồ chối mình không phải cộng sản (khi còn ở Hoa
Nam, trà trộn trong các tổ chức của người Việt quốc gia), và ngày
2/9/1945, khi ra mắt tại Hà Nội chính phủ đầu tiên thành lập ở Tân
Trào, báo Độc Lập 4/9/1945 có ghi rõ “Hồ Chí Minh: chủ tịch, thuộc đảng
”Quốc Gia”,
ngày nay ai cũng biết ông Hồ là cán bộ cao cấp của quốc tế 3 trước khi
ông nhận nhiệm vụ thành lập và thống nhất đảng cộng sản Đông Dương.
Trong một bài bài Ai giết Hồ Chí Minh chúng tôi cũng đã nói qua rồi.
I. Sở dĩ ông ta phải miễn cưỡng giải tán đảng cộng sản vào ngày
11/11/1945, chỉ hơn hai tháng sau khi “cướp chính quyền” (ba từ “cướp
chính quyền” này là do các báo của Việt Minh dùng những ngày đó) là vì
tình thế bắt buộc. Và đây hoàn toàn là giả vờ, chứ không có thật. Hội
nghiên cứu Mác- xít lúc ấy chính là đảng cộng sản. Và sau này, 1951,
cho ra đời đảng Lao Động, thì đảng này chính là thối thân của đảng cộng
sản và hội nghiên cứu Mác- xít.
Tại sao lại nói vì tình thế bắt buộc? Vì cái chính phủ đầu tiên của ông
có đến hai phần ba là đảng viên cộng sản không được dư luận hoan
nghênh. Hơn nữa đã bị các đảng phái quốc gia như Việt Cách (Việt Nam
Cách Mệnh Đồng Minh Hội) Việt Quốc (Việt Nam Quốc Dân Đảng) mới theo
đoàn quân của Trung Hoa Quốc Dân Đảng về nước kịch liệt chống đối. Vì
họ đã từng sinh hoạt với Hồ Chí Minh ở Hoa Nam và biết rõ tung tích của
nhóm Hồ Chí Minh, hơn nữa còn từng bị nhóm của ông Hồ phản bội bán đứng
anh em của họ. Một lý do nữa là vì Mỹ đứng đầu Đồng Minh mà trước kia
đã từng có liên hệ với du kích quân của ông Hồ về việc cứu phi công Mỹ
bị Nhật bắn rơi cũng bắt đầu nghi ngờ về lý lịch và hành tung của ông
Hồ, nên không tích cực ủng hộ. Ông Hồ rất nhạy cảm trong vấn đề này,
nên ông bó buộc phải tuyên bố giải tán đảng của ông để làm dịu sự bất
mãn của các đảng quốc gia và mua chuộc cảm tình của Đồng Minh. Hơn nữa
như đã nói, đó chỉ là giải tán giả vờ mà thôi. Nói cách khác đó chỉ là
một bước lùi: lui vào bí mật “theo thoái trào cách mạng” (chiến lược,
sách lược của Stalin).
II. Sở dĩ Liên Xô chưa vội nhìn nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dưới
quyền chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ 1945-1946, cũng chỉ vì lúc ấy ông Hồ
còn đang rất yếu thế phải khóac áo dân tộc giả hiệu, chưa có thể lộ
liễu ta đây nằm trong khối xã hội chủ nghĩa được. Tóm lại Việt Nam đang
ở trong giai đoạn sách lược “giải phóng dân tộc”. Cho đến khi Cộng Sản
toàn thắng ở trung Hoa rồi, ông mới sang Liên Xô để xin công nhận. Vì
lúc đó đã mạnh nhờ có người bạn khổng lồ ở bên. Đến lúc đó thì ông đã
dám ăn thua đủ, vì hy vọng được viện trợ dồi dào từ cả hai đàn anh vĩ
đại.
III. Cũng vì đang còn ở trong giai đoạn sách lược “giải phóng dân tộc”
nên hiến pháp chưa thể rập theo khuôn mẫu các nước cộng sản đưọc. Phải
mang nhãn hiệu dân chủ.
Năm 1946 trong quốc hội lập hiến còn có một số trí thức yêu nước cũng
có ảnh hưởng phần nào đến việc soạn thảo hiến pháp. Cho nên nó nói
nhiều và rõ hơn về các quyền công dân. Ví dụ điều một có ghi: “Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, khộng phân
biệt nòi giống, trai gái, giầu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Đến năm 1959, khi ông Hồ đã chiếm được nửa nước rồi. Quốc hội toàn
những đảng viên cộng sản, hoặc do đảng cộng sản chọn qua mặt trận Tổ
Quốc, cho nên người ta đã thấy xuất hiện những từ mà chỉ có hiến pháp
các nước cộng sản mới có. Tuy nhiên (văn bản) nó vẫn còn dân chủ, cởi
mở hơn hai bản hiến pháp 80 và 92, mặc dù đã xuất hiện mấy tiếng “tập
trung dân chủ”, như trong câu: “Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và
các cơ quan nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc “tập trung dân chủ”.
Đây là một lối chơi chữ để khỏi phải nói đến chuyên chính hay “phi dân
chủ”. Hãy nghe ông Hồ giải thích 4 chữ này, theo lời tường thuật của
Nguyễn Văn Trấn, một cán bộ cao cấp cộng sản miền Nam phản tỉnh với
cuốn “Viết gửi mẹ và quốc hội”:
“Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó thì các cô các chú là
chủ, đó là dân chủ. Các cô các chú không biết giữ, tôi giữ giùm cho.
Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại, và bỏ chìa khóa vào túi tôi
đây. Đó là tập trung.” (Xin xem “Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư” của Minh Võ trang 369-370).
Có thể cán bộ “i-tờ” hồi đó hài lòng về lối giải thích đó. Nhưng ngày
nay đọc lại ta thấy ngay sự lố bịch và trắng trợn của ông Hồ. Thì đúng
dân chủ kiểu đó cho nên người dân chẳng còn chút chủ quyền nào. Vì đảng
và lãnh tụ đảng đã bỏ vào rương, khóa lại, và giữ luôn chìa khóa rồi.
Đúng là lý luận của kẻ cướp. Không biết ngoài Nguyễn Văn Trấn có còn ai
được nghe lời giải thích này còn sống không? Sợ có người sẽ bảo ông
Trấn bịa ra để chọc quê “bác Hồ” của ông ta.
Ở trên chúng tôi nói hiến pháp dân chủ, hay quốc hiệu Dân Chủ Cộng Hòa
chỉ là nhãn hiệu là vì thực sự nó chỉ là cái nhãn bên ngoài. Hiến pháp
đối với cộng sản chẳng hơn gì mớ giấy lộn. Vì tên nước là dân chủ, hiến
pháp ghi đủ mọi quyền dân chủ tự do. Nhưng trên thực tế dân có được làm
chủ không? Có quyền tự do nào ghi trong hiến pháp được thực thi cho
người dân không? Không phải bây giờ, mà cả trong thời Hồ Chí Minh còn
sống cũng vậy. Nếu trong thời Hồ Chí Minh có dân chủ thì đã không có
đấu tố. Không có sửa sai để giăng bẫy bắt bỏ tù các nhà văn, nhà trí
thức.
Nhưng dầu sao thì cái vỏ, cái nhãn cũng đánh lừa được nhiều người. Nhờ
có nó mà cộng sản có thể hô to “Vì đảng vì bác tiến lên”, lẫn với những
tiếng hô “vì tổ quốc tiến lên”, để đẩy hàng triệu dân Việt vào cuộc
chiến tranh 30 năm đằng đẵng. Để cuối cùng được cái gì? Một cái bánh
vẽ. Còn mọi quyền lợi, quyền hành đều tập trung vào trong một số cán bộ
cộng sản, không đầy một phần trăm dân số.
 |
Ông Hồ trong giai đoạn sách lược “giải phóng dân tộc” — Nguồn: geocities.com
|
Cũng
vì đang còn ở trong giai đoạn sách lược “giải phóng dân tộc” nên hiến
pháp chưa thể rập theo khuôn mẫu các nước cộng sản đưọc. Phải mang nhãn
hiệu dân chủ.
Năm 1946 trong quốc hội lập hiến còn có một số trí thức yêu nước cũng
có ảnh hưởng phần nào đến việc soạn thảo hiến pháp. Cho nên nó nói
nhiều và rõ hơn về các quyền công dân. Ví dụ điều một có ghi: “Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, khộng phân
biệt nòi giống, trai gái, giầu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Đến năm 1959, khi ông Hồ đã chiếm được nửa nước rồi. Quốc hội toàn
những đảng viên cộng sản, hoặc do đảng cộng sản chọn qua mặt trận Tổ
Quốc, cho nên người ta đã thấy xuất hiện những từ mà chỉ có hiến pháp
các nước cộng sản mới có. Tuy nhiên (văn bản) nó vẫn còn dân chủ, cởi
mở hơn hai bản hiến pháp 80 và 92, mặc dù đã xuất hiện mấy tiếng “tập
trung dân chủ”, như trong câu: “Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và
các cơ quan nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc “tập trung dân chủ”.
Đây là một lối chơi chữ để khỏi phải nói đến chuyên chính hay “phi dân
chủ”. Hãy nghe ông Hồ giải thích 4 chữ này, theo lời tường thuật của
Nguyễn Văn Trấn, một cán bộ cao cấp cộng sản miền Nam phản tỉnh với
cuốn “Viết gửi mẹ và quốc hội”:
“Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó thì các cô các chú là
chủ, đó là dân chủ. Các cô các chú không biết giữ, tôi giữ giùm cho.
Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại, và bỏ chìa khóa vào túi tôi
đây. Đó là tập trung.” (Xin xem “Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư” của
Minh Võ trang 369-370).
Có thể cán bộ “i-tờ” hồi đó hài lòng về lối giải thích đó. Nhưng ngày
nay đọc lại ta thấy ngay sự lố bịch và trắng trợn của ông Hồ. Thì đúng
dân chủ kiểu đó cho nên người dân chẳng còn chút chủ quyền nào. Vì đảng
và lãnh tụ đảng đã bỏ vào rương, khóa lại, và giữ luôn chìa khóa rồi.
Đúng là lý luận của kẻ cướp. Không biết ngoài Nguyễn Văn Trấn có còn ai
được nghe lời giải thích này còn sống không? Sợ có người sẽ bảo ông
Trấn bịa ra để chọc quê “bác Hồ” của ông ta.
Ở trên chúng tôi nói hiến pháp dân chủ, hay quốc hiệu Dân Chủ Cộng Hòa
chỉ là nhãn hiệu là vì thực sự nó chỉ là cái nhãn bên ngoài. Hiến pháp
đối với cộng sản chẳng hơn gì mớ giấy lộn. Vì tên nước là dân chủ, hiến
pháp ghi đủ mọi quyền dân chủ tự do. Nhưng trên thực tế dân có được làm
chủ không? Có quyền tự do nào ghi trong hiến pháp được thực thi cho
người dân không? Không phải bây giờ, mà cả trong thời Hồ Chí Minh còn
sống cũng vậy. Nếu trong thời Hồ Chí Minh có dân chủ thì đã không có
đấu tố. Không có sửa sai để giăng bẫy bắt bỏ tù các nhà văn, nhà trí
thức.
Nhưng dầu sao thì cái vỏ, cái nhãn cũng đánh lừa được nhiều người. Nhờ
có nó mà cộng sản có thể hô to “Vì đảng vì bác tiến lên”, lẫn với những
tiếng hô “vì tổ quốc tiến lên”, để đẩy hàng triệu dân Việt vào cuộc
chiến tranh 30 năm đằng đẵng. Để cuối cùng được cái gì? Một cái bánh
vẽ. Còn mọi quyền lợi, quyền hành đều tập trung vào trong một số cán bộ
cộng sản, không đầy một phần trăm dân số.
IV. Tôi chưa được đọc tài liệu nào chính thức của chính quyền đệ nhất
Cộng Hòa hay của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam về việc hai chính
quyền Nam Bắc có mật ước hay những cuộc tiếp xúc kín đáo với nhau. Tuy
nhiên có rất nhiều sách báo Việt ngữ và ngoại ngữ nói về cành đào của
ông Hồ Chí Minh kèm theo danh thiếp đề tặng tổng thống Ngô đình Điệm
gửi từ Hồng Kông đến Sài Gòn trưng bày trong phòng khánh tiết dinh Độc
Lập vào địp tết Tân Mão (1963). Hay những cuộc tiếp xúc mật của đặc
phái viên của ông Hồ là Phạm Hùng với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Hay cuộc
tiếp xúc công khai giữa ông Ngô Đình Nhu với nhà ngoại giao Ba Lan
Mieczyslaw Maneli trong buổi tiếp tân của ngoại trưởng Trương Công Cừu,
có sự hiện diện của đại sứ Cabot Lodge, v.v…
Tôi đã phân tách sự kiện trên trong cuốn Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng
Chê (đã in 3 lần: tháng 5 và tháng 10 năm 1998, và tháng 2/2002). Ở đây
xin thêm vài ý liên quan đến vấn đề sách lược.
Có người cho rằng chính vì hai ông Diệm Nhu muốn bắt tay với cộng sản, bán đứng miền Nam, cho nên mới chết thảm.
Lại có người cho rằng phải chi hai ông không bị giết, thì có lẽ Việt
Nam đã có hòa bình, hay ít ra cũng tránh được một cuộc chiến tàn khốc
từ 1965 dến 1975, và Mỹ cũng không phải mất 58.000 sinh mạng.
Vì thiếu văn kiện chính thức, nên chúng tôi không dám phê phán hay bình
luận thêm về sự việc trên. Chỉ xin trả lời thắc mắc của một số người
cho rằng vì ông Hồ Chí Minh đã tỏ thiện chí muốn tránh chiến tranh, cho
nên có thể coi ông là người có tinh thần dân tộc hơn là cộng sản.
Trước hết, có thể đây chỉ là cái bẫy ông Hồ giăng ra cho anh em ông
Diệm mắc vào để cho Mỹ lấy cớ đó trừ khử đi, Ông Hồ khỏi mất công đối
phó với một địch thủ đáng gờm. Nếu đó là sự thực, thì ông Hồ đã thành
công. Nhưng nó cũng chứng tỏ ông ta xảo quyệt và độc ác. Chứ không
chứng tỏ được là ông ta có tinh thần dân tộc.
Nhưng cũng rất có thể là ông Hồ lúc ấy đang bị áp lực mạnh từ cả Liên
Xô lẫn Trung Cộng, khiến nảy ra ý kiến muốn thương lượng với chính
quyền miền Nam, để mè nheo với các đàn anh.
Nếu ông Hồ thực bụng và nếu Ông Diệm không bị hại và cuộc thương lượng
đi dến kết quả thì ảnh hưởng của khối cộng trên Bắc Việt sẽ nhẹ đi, và
ông Hồ còn nhận được gạo và nhiều nông phẩm khác của miền Nam đổi than
đá và một số kim loại để cho dân miền Bắc bớt đói và chế độ vững mạnh
hơn lên.
Tuy nhiên không thể vì thế mà bảo ông Hồ thôi không còn là cộng sản
nữa, và cũng không thể thoát khỏi sự điều khiển, chi phối của các đàn
anh. Vì ông cùng với các đồng chí của ông và cả cái guồng máy chính
quyền miền Bắc đã lọt vào qũy đạo cộng sản từ lâu rồi.
Vả lại, muốn thương lượng thành công với miền Nam, ông cũng phải được
sự tán thành hay chấp thuận có điều kiện của Liên Xô, chứ không dễ dàng
như ta tưởng.
Dầu sao khi đã nằm trong qũy đạo cộng sản thì không thể không làm tròn
nhiệm vụ đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản. Anh có thể tạm ngừng nghỉ hay
thụt lùi trong một thời gian, do tình thế đòi hỏi, nhưng rồi cũng phải
tiếp tục con đường đã vạch sẵn. Nếu không anh đã không phải là cộng
sản.
Trở lên là 4 thắc mắc điển hình mà chúng tôi đã giải đáp bằng cách mời
bạn đọc đặt chúng vào trong bối cảnh chiến tranh giai cấp trường kỳ của
chủ nghĩa cộng sản. Nhưng những thắc mắc loại đó thực ra còn rất nhiều
và hầu hết đều có thể giải đáp bằng các phân tích trên.
San Diego, 18/05/2006
Copyright © 2006 by DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: