Dù viết gì chăng nữa, thì nước Chiêm Thành suốt dòng lịch sử, đã chắc
chắn có một lãnh thổ gồm các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô và
Châu Lý (nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên). Vùng
Amaravati với kinh đô Indrapura (Đồng Dương) cùng các thánh tích nổi
tiếng tại Mỹ Sơn và Trà Kiệu (Simhapura). Miền này nay thuộc Quảng Nam
và Quảng Ngãi. Vùng Vijaya với kinh đô Chà Bàn, nay là tỉnh Bình Định.
Vùng Kauthara có thánh tích Po Nagar (Tháp Bà), nay là Khánh Hòa. Châu
cuối là Panduranga, bao gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
Người
Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ
thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có
nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại
sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử
học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất
giấy.
Đó cũng vì tất cả quyền lực trong nước đều là độc quyền
của một nhóm thiểu số, thuộc giai cấp quý tộc và tăng lữ Bà La Môn cùng
Hồi giáo nắm giữ. Ở đây không nói tới nhóm sắc tộc bị trị tại cao
nguyên Trung phần từ năm 1150-1471, mà chỉ đề cập tới người Chàm, là
sắc dân chính thống của vương quốc sống dọc vùng duyên hải. Do tính
chất đa sắc tộc và trở ngại địa lý, nên nước Chiêm Thành gần như không
bao giờ thực hiện được trọn vẹn chính sách trung ương tập quyền, dù
trên lý thuyết đã hợp nhất thành một nước nhưng thực tế những sắc tộc
lại chia thành thị tộc, các làng đầy dị biệt và thường đem quân bản địa
tàn sát lẫn nhau, không ai cản được.
Tìm hiểu lịch sử Chiêm
Thành thật nhiêu khê vì tất cả một chuỗi dài lịch sử phải nối khoen
bằng những tài liệu vụn vặt góp nhặt từ những ghi khắc trên bia ký còn
trong đền tháp, qua những huyền thoại truyền khẩu dân gian và mớ sử
liệu hỗn tạp loạn ngầu trong các sách sử của những quốc gia liên hệ như
Đại Việt, Trung Hoa, Chân Lạp, Mã Lai. Người Pháp sau này cũng từ những
nguồn gốc trên mà đặt ra giả thuyết để ước đoán một sự kiện bị chìm đắm
theo những kẻ nắm quyền đã ngủ yên trong mồ.
Một dân tộc rất
giỏi nghề đi biển và cũng từng là những hải tặc khét tiếng suốt vũng
biển Thái Bình Dương cho tới vịnh Thái Lan. Trong nước ruộng đất bề bề,
đã có kỹ thuật canh tác và biết lập hệ thống dẫn điền, có nền tiểu công
nghệ tiến bộ và hữu ích trong đời sống hằng ngày như làm gốm, dệt chiếu
vải, đan, điêu khắc và xây cất nhà cửa, dinh thự, đền đài.
Vậy
vì sao nước Chiêm Thành phải suy thoái và diệt vong? Một câu hỏi cần
phải làm sáng tỏ, để tránh những ngộ nhận cho các thế hệ hôm nay và mai
sau trong một quốc gia hợp chủng VN.
Như ta biết, cộng đồng dân
tộc (communauté), theo định nghĩa pháp lý, thì đó là một xã hội có
nhiều người cùng nhau chia xẻ một thân phận trong mọi hoàn cảnh, dù là
ý thức hay vô ý thức. Đất nước nào trên thế giới xưa nay, cũng bao gồm
nhiều cộng đồng xã hội khác nhau, nhưng lại cùng sống trong một lãnh
thổ, tạo thành cấu trúc bất khả phân của một quốc gia và theo pháp lý,
tất cả các cộng đồng này đều bình đẳng về quyền lợi cũng như trách
nhiệm, bổn phận. Trên bình diện quốc gia lại duy nhất chỉ có một dân
tộc mà thôi.
Cho nên không thể gọi người Chàm, người Hoa, người
Khmer hoặc các bộ tộc vùng cao là dân tộc thiểu số như chúng ta đã lạm
dùng sai sót trong quá khứ và VC đang sử dụng để mị dân. Theo đúng
nghĩa của phương tây, danh từ Dân Tộc (nascere), đã được Isodore de
Séville, sống trong thế kỷ thứ VII (STL), định nghĩa là một cộng đồng
sắc tộc, gồm những nhóm người có chung nguồn gốc, hay nhiều nhóm khác
nhau qua thời gian pha trộn, đã cùng sinh hoạt chung trên một mảnh đất
nhất định. Sau này danh từ Dân Tộc được đồng nghĩa với Tổ Quốc
(Patria), để gọi tất cả mọi người đang sống chung trên một lãnh thổ.
Tóm lại Dân Tộc VN ngày nay có ba họ chủng tộc khác nhau cấu thành. Đó
là người Kinh, người Hoa và tập hợp những sắc tộc miền cao, kể cả người
Chàm và Khmer ở Nam Phần.
Hội nhập và đồng hóa là hai vấn đề
hoàn toàn khác nhau. Ngoại trừ người Thượng Bắc phần hay Cao nguyên
Trung phần, từng được chính quyền VN bao đời coi như dân bản địa. Các
sắc dân Chàm, Khmer và Minh Hương đã hội nhập trong dân tộc VN nhưng
không hề bị đồng hóa, như một vài người mang thù hận truyền kiếp, đã cố
tình bóp méo vấn đề, bằng cách viết nói lẫn lộn để cho người khác phải
hiểu sai, rồi kết luận người VN bao đời đều dùng chính sách đồng hóa để
phát triển cộng đồng.
Từ những dẫn chứng thực tại của quốc gia
hợp chủng VN mà quyền hành bao đời vẫn theo trung ương tập quyền, dù
triều đình, chính phủ, nhà vua có đóng ở Thăng Long, Thuận Hoá hay Gia
Định, tất cả cũng đều do lệnh vua ban truyền, tuy nói chơi "lệ làng hơn
phép vua".
Nhưng Chiêm Thành thì sao? Vẫn có tập quyền nhưng chỉ
thu gọn trong một thiểu số làng mạc cùng chung thị tộc hay gần gũi với
chính quyền mà thôi. Điều này cũng đâu lạ, vì Chiêm Thành ảnh hưởng sâu
đậm An Độ giáo cũng như phỏng theo nền chính trị của nước này. Bởi vậy
xã hội Chàm gồm bốn giai cấp: Brahman (tăng lữ Bà La Môn), Kshatriya
(quý tộc), Vaishya (thường dân bao gồm thương gia, điền chủ, những
người giàu có) và Shudra (tiện dân).
Ngoài ra vì là một dân tộc
hợp chủng nhưng thay vì chịu chấp nhận là một dân tộc duy nhất Chiêm
Thành, để phục vụ cho tổ quốc, người Chiêm do tính chất cách biệt địa
lý, nguồn gốc, ngôn ngữ, nên họ đã coi lệ làng hơn phép nước trong mỗi
sắc tộc, thị tộc riêng lẽ. Chỉ riêng người Chàm cũng đã chia rẽ gay
gắt, nhất là giữa hai thị tộc mạnh nhất Cây Cau (Kramukavamca) thống
trị miền nam tại 2 châu cũ chiếm của Phù Nam là Kauthara và Panduranga.
Còn thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở phiá bắc tại châu Indrapula.
Do
trên ta có thể khẳng định là các bộ tộc sinh sống trên cao nguyên,
trong đó có người Churu, Roglai, Rhadé, Jara .tuy cùng sử dụng chung
ngôn ngữ Malayo-Polynésien với người Chàm, nhưng luôn luôn tự trị,
chống đối Chiêm Thành, kể cả ba thế kỷ bị đô hộ.
Nói chung nội
bộ nước Chiêm Thành luôn luôn ẩn chứa những mầm phản loạn, và vì vậy
khi vua chúa nào bị thua trận hay thất sủng, là bị quyền thẩn giết ngay
để dành ngai vua và đất nước, kể cả vị vua anh hùng nhất của nước này
là Chế Bồng Nga, cũng không được ngoại lệ. Tình trạng mạnh được yếu
thua này rất phổ quát trong thời phong kiến và quân chủ, ngay tại Trung
quốc và Đại Việt cũng từng có nhưng chỉ là họa hoằn, chứ không gần như
là cơm bữa tại quốc gia này.
Trong thượng tầng kiến trúc chính
quyền, trung tâm đầu não của quốc gia, thời nào cũng chỉ dành riêng cho
thiểu số tăng lữ và quý tộc nhưng họ luôn chỉ nghĩ tới quyền lợi của
dòng họ và tộc đẳng mình mà thôi. Chiếm tỷ lệ dân số đông đảo trong
nước, vẫn là hai thành phần thường dân và tiện dân, nhưng họ chỉ là
những công cụ của thiểu số cầm quyền, phải đi lính, sản xuất, xây cung
điện, đền đài khắp nơi để thờ phụng đủ thứ thần linh trong nguồn tín
ngưỡng mà vua chúa chấp nhận.
Thay vì, dùng nguồn lợi của quốc
gia để lo cho đời sống dân chúng, cải tiến nhân sinh xã hội, đem nền
văn minh văn hiến của dân tộc thu nhập, phổ biến, giáo dục cho mọi
người, mọi thế hệ, để họ cùng mở mang kiên thức, thăng tiến trong dòng
văn minh lịch sử nhân loại để ai cũng có quyền lợi hưởng và nhận chịu
trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, cần tới.
Nhưng Chiêm Thành
thì hoàn toàn đi ngược lại, tiền bạc chỉ dùng để xây kinh đô, thánh
địa, mua sắm quân cụ vũ khí để đánh nhau. Bắt dân đi lính không phải để
bảo vệ tổ quốc, mà là giúp vương triều mở rộng lãnh thổ, thu chiến lợi
phẩm cùng tù binh, tạo thêm ưu thế cho tộc đẳng đương quyền.
Bởi
vậy, dân chúng trong nước chỉ thấy mình làm nô lệ cho vua quan mà thôi,
chứ khồng hề nghĩ tới dân tộc, tổ quốc, nên khi có chuyện thì bỏ chạy
và ít lo tới chế độ mình đang hiện hữu.
Đây chính là nguyên nhân
nội tại, khiến Chiêm Thành bị suy thoái vì chia rẽ sắc tộc, thế cấp và
rắn mất đầu mỗi khi có biến loạn, mà lần cuối cùng vào thế kỷ XV, vua
Lê Thánh Tôn chiếm kinh đô Chà Bàn, chia ba Chiêm quốc, khiến cho giới
tri thức, khoa bảng lãnh đạo bị tan rã vì chết, trốn ra ngoại quốc,
trong nước thiếu nhân tài để tiếp tục lèo lái con thuyền quốc gia đang
trong cơn bão tố, sóng dữ sắp chìm.
Cũng phải nói tới thể diện
con người, ta biết người Chàm theo chế độ mẫu hệ, quyền hạn trong gia
đình đều do phụ nữ chi phối và nắm giữ, người đàn ông luôn cảm thấy
mình mất tự do. Ngoài xã hội, tuyệt đại dân chúng thuộc giai cấp tiện
dân, bị áp bức bóc lột. Nên gặp lúc được tự do, ho đã dễ dàng hướng
ngoại, làm cho đất nước càng lúc càng thiếu nhân lực.
Trong nước
lúc nào cũng có chiến tranh, đất ruộng vườn tược giao phó cho đàn bà và
những người lớn tuổi, nên họ làm sao kham nổi, bởi vậy lãnh thổ hầu hết
như bị bỏ hoang. Ngân sách, tài nguyên đều dùng để xây cất cung điện,
thánh tích và quân sự.
Những lần thắng trận thì lấy chiến lợi
phẩm đã cướp, để bù đắp hoặc tổ chức những đám cướp biển. Nhu cầu này
cũng cạn kiện dần mòn khi đế quốc Hồi giáo hùng mạnh, khống chế toàn bộ
con đường tơ lụa trên An Độ Dương và biển Đông, đã bị các nước phương
tây làm sụp đổ. Từ đó quyền lợi kiếm được từ nguồn hải khấu của Chiêm
Thành cũng chấm dứt, vì thuyền nước này nhỏ bé, vũ khí lại thô sơ, làm
sao chọi nổi với thương thuyền to chắc của Bồ, Y Pha Nho, Pháp, Anh Cát
Lợi, Hòa Lan...có trang bị hỏa lực hùng hậu.
Về những trách
móc, thù hận hay dư luận cho rằng Đại Việt tiêu diệt Chiêm Thành để
cướp nước, qua hiện tượng biểu kiến của cuộc Nam Tiến. Sự kiện này ngày
nay đã được giải tỏa ẩn ức, không phải do người Việt Nam tự biện bạch
để chạy tội, mà chính là những trang lịch sử còn lưu lại của các nước
Đông Nam Á, có liên hệ tới Chiêm Thành.
Nói theo kinh Phật, thì
tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng
nuôi hận thù trong tâm, nên thường đem quân khi thì đường bộ, lúc dùng
thuyền bè, tấn công hết nước này tới xứ khác, và ngược lại họ cũng phải
bị nạn nhân trả thù, chống chọi để giữ mạng, giữ nước.
Với Phù
Nam thì cướp hai châu và tấn công luôn Chân Lạp, tàn phá Đế Thiên, Đế
Thích (Angkor Wat, Angkor Thom) vào năm 1177 bởi vua Chàm là Jaya
Indravarman IV. Sau đó Chân Lạp phản công, đô hộ Chiêm Thành, cũng tàn
phá hết các công trình xây dựng từ kinh đô cho tới thánh tích. Tháp Bà
Po Nagar tại Kauthara, bị Chân Lạp phá huỷ nhiều lần, cho tới khi châu
này thành tỉnh Khánh Hòa của Đại Việt vào thế kỷ thứ XVII, mới được
người di dân VN, bảo quản và giữ gìn cẩn trọng cho tới hôm nay.
Ngoài
ra, Chiêm Thành cũng bị người Tàu tàn phá hai lần vào năm 605 và 1282,
người Nam Dương cướp phá vào các năm 774, 787 nhưng tàn bạo nhất vẫn là
những sự trả thù dã man của Chân Lạp trên đất Chiêm Thành vào những năm
950, 1190 và thời gian chiếm đóng từ 1203-1220.
Nói chung theo
sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của
người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa,
suốt dòng lịch sử, luôn tấn công công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không
còn lựa chọn nào hơn, là phải chống lại để tự vệ và giữ nước.
Gây
hấn rồi nhường đất chuộc mạng, bắt đầu từ thời vua Chế Củ dâng nhà Lý
ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, được các sử gia coi đó là một sự
kiện lịch sử quan trọng của Chiêm Thành, mở đường cho vua chúa Đại Việt
sau này, coi đó như một yếu tố tất thắng đối với kẻ chiến bại.
Trong
30 năm cầm quyền, Chế Bồng Nga năm nào cũng đánh phá chém giết người
Việt tận tuyệt, luôn cả kinh thành Thăng Long cũng bị tàn phá trong ba
lần lửa máu. Bởi vậy khi Chàm suy yếu, Đại Việt lại trả thù phục hận.
Đó cũng là nguyên cớ, đã khiến cho các triều đại VN về sau tỉnh ngộ,
quyết ngăn chận Chiêm Thành, để không còn xảy ra tai họa khủng khiếp
trong dĩ vãng.
Về cuộc Nam Tiến,cũng được thi hành ôn hòa qua kế
hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống
hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương mễ
theo đường lối "ngụ binh ư nông" mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ
khi thu hồi được độc lập.
Tóm lại, Chiêm Thành suốt 17 thế kỷ
trường tồn, chỉ chú trọng nền ngoại thương, lại coi thường nông nghiệp.
Mặt khác chính quyền Chàm lại không có kế hoạch phòng thủ khi bế tắc,
nên lúc việc buôn bán với nước ngoài không còn thuận lợi, muốn quay lại
nông nghiệp thì đã muộn màng.
Ngoài ra cái thời người Chàm cứ bỏ
đất hoang, để dân Việt tới khai phá gây dựng, rồi họ trở lại tấn công
đoạt lại hay để kiếm lương thực và chiến lợi phẩm, cũng đã cáo chung,
vì từ thế kỷ thứ XVI, khi Nguyễn Hoàng vào tọa trấn Thuận Quảng, ngoài
việc xây dựng một quân đội hùng mạnh, còn thành lập những xã thôn trù
phú nơi biên thùy, vừa là tiền đồn cũng là tiền dinh ngăn chặn các cuộc
tấn công. Rốt cục chiến tranh có xảy ra, cũng chỉ gây tang tóc cho cả
hai bên mà thôi và càng tạo thêm cớ để Đại Việt nam tiến mà thôi.
Qua
dòng lịch sử nước nhà, hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ
các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói tới sự tàn ác dã man
của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm. Sự việc
đã xảy ra suốt dòng lịch sử, khi người Việt trên con đường nam tiến,
tới đâu cũng tận tình bảo quản những di tích lịch sử của người Chiêm để
lại, đồng thời hòa đồng với họ khi đã sống lẫn lộn, tôn trọng tôn giáo
riêng tư của kẻ khác, cho nên nói người Chiêm sau khi mất nước phải hòa
đồng vào dân tộc VN là đúng, nhưng bảo người Việt đã diệt chủng và đồng
hóa Chiêm Thành như đã xảy ra dưới thời vua Minh Mạng, là một bịa đặt
không ai tin được.
Câu hỏi cuối cùng được đặt ra, là tại sao hơn
ba thế kỷ tiến hóa, tính từ niên lịch 1693 tới ngày nay, nhân số trong
cộng đồng sắc tộc Chàm, vẫn không thấy gia tăng quá con số 100.000
người, nếu so với người Minh Hương, Khmer hay cả với các sắc dân thiểu
số cao nguyên? Khó có thể giải thích vì người Chàm dù bị vong quốc, họ
vẫn tiếp tục sống với lối khép kín bao đời, theo bản làng thị tộc.
Ngoài
ra các giới lãnh đạo cộng đồng Chàm, vẫn còn đầu óc phân chia giai cấp,
nại lý do bảo tồn văn hóa truyền thống thị tộc, nghiêm cấm đồng bào
mình hướng ngoại và kết hôn với các thị tộc Chàm khác, dù đều là người
Chiêm Thành. Nay có dịp nghe lại ca sĩ Chế Linh hát "Hận Đồ Bàn" của
Xuân Tiên, mới biết rỏ vì sao, rừng hoang vu vùi lấp bao uất hận căm
thù, núi trầm cô tịch, đèo cao thác sâu, ngàn muôn tiếng ngân, âm thầm
hoà bài hận vong quốc ca.
Từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự
thù hận giữa hai dân tộc Chiêm-Việt, vẫn còn ẩn ức nơi hồn một thiểu
số, vì chính những người này, đã không biết tại sao mình phải suy tàn.
Tóm lại Chiêm Thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc nam tiến của
Đại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp.
Sự đụng
chạm nếu có trong quá khứ, chẳng qua vì cá nhân trong lúc cùng sống lẫn
lộn, hay trường hợp vua Minh Mạng đối xử gay gắt với cá nhân những
người Chàm tại Bình Thuận, có liên hệ tới cuộc phản loạn của Lê văn
Khôi năm 1851 tại thành Gia Định, đều là vấn đề ngoại lệ của lịch sử.
Ngày
nay Chiêm Việt hòa đồng, đồng bào Chàm chỉ mất có triều đình nhưng giữ
lại gần như đầy đủ các công trình sáng tạo tại các đền, chùa, thánh
tích nổi tiếng của dân tộc mình ở điện Ngọc Trản (Huế), thánh tích Mỹ
Sơn, Đồng Dương, Tháp Bà, Ninh Thuận và Bình Thuận.
Sau rốt nền
văn minh Chiêm Thành vẫn tồn tại qua mọi lãnh vực văn hóa, nghệ thuật,
kể cả tín ngưỡng của người Việt Trung Phần, đó không phải là một hãnh
diện hay sao? Thời VNCH (1955-1975), chính phủ có một bộ phát triển sắc
tộc, dành riêng cho các sắc dân thiểu số trong đó có người Chàm.
Ngay
từ thời Pháp thuộc, vua Bảo Đại có ban hành bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ
hộ luật, nhưng vẫn cố tránh làm đảo lộn nếp sống cổ truyền của đồng bào
thiểu số, trong đó có người Chàm, nên đả ban hành thêm đạo luật số 51
ngày 25-5-1943 với đặc ân cho người thiểu số, trong đó có Chàm khỏi thi
hành.
Vì vậy cho nên với pháp luật thời đó, chỉ áp dụng luật Chàm để xử họ và tôn trọng chế độ mẫu hệ bao đời.
Thời
VNCH (1955-1975), tại các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có đông người
Chàm cư ngụ. Trong sự tế nhị và nâng đỡ, chính phủ đã bổ nhiệm các quận
trưởng và phó quận, phần lớn là người Chàm, để dễ dàng hành sử với đồng
bào của họ, vì các Quận Trưởng Chàm đều kiêm nhiệm chánh án tòa sơ thẳm
trong vùng.
Ngày nay đọc lại danh sách các viên chức hành chánh
cao cấp của tỉnh Bình Thuận, tính đến ngày 30-4-1975, ta mới thấy tình
Chiêm-Việt thật ấm áp và cũng đầy ý nghĩa của một quốc gia VN hợp chủng:
- Quận Trưởng Phan Lý Chàm: Thiếu Tá Đặng Chánh Anh. Phó QT là đốc sự Ya Pha (còn sống tại VN).
- Quận Trưởng Hàm Thuận: Thiếu Ta Dụng văn Đối.
- Quận Thiện Giáo: Phó QT, đốc sự Nguyễn Trọng Chống (còn ở VN).
- Quận Hải Ninh: Phó QT, đốc sự Đắc Hữu Thiên (ở Mỹ).
- Quận Tuy Phong: Phó QT, đốc sự Lâm Quang Chân ( đã chết trong tù cải tạo VC).
- Quận Hải Long: Phó QT, đốc sự Mai Tường (ở Mỹ).
- Đác văn Kiết, Tham sự hành chánh, Trưởng Ty Phát triển sắc tộc Bình Tuy.
Ngoài
ra còn nhiều Sĩ Quan giữ các chức vụ quan trọng tại TK.Bình Thuận, Ninh
Thuận cũng như công chức, cán bộ và giáo chức..Tất cả những viên chức
trên đều là người Chàm.
Mạnh được yếu thua xưa nay là một qui
luật của cuộc đời, mà bất cứ quốc gia hay dân tộc nào trên trái đất
cũng đều chịu chung số phận. Đại Việt cũng vậy, hơn một ngàn năm từ thế
kỷ 1 Sau Tây Lịch , tới gần giữa Thế kỷ X, chỉ vì yếu kém nên đã phải
sống cảnh vong quốc lầm than, dưới ách nô lệ cùm gông của người Tàu.
Nắm 939 Ngô Vương Quyền Đại Đế đã đánh đuổi giặc Nam Hán ra khỏi bờ cỏi
Hồng Lạc và mở đầu, nền tự cường độc lập của VN, qua các thời đại Ngô,
Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn.
Đó là sự may mắn
của dân tộc Việt. Nếu không liệu chúng ta có thể tồn tại hay đã bị diệt
chũng ? chứ đừng nói tới di tích, văn hóa hay bất cứ thứ gì..có được
trên mặt đất, khi bị ngoại bang chinh phục.
Thật sự là vậy đó -/-
Xóm Cồn
Tháng 8-2006
Mường Giang