Trong
tác phẩm Trại Kiên Giam, tác giả Nguyễn Chí Thiệp có viết đến việc hình
thành và thực hiện tờ báo “chui” đầu tiên trại Kiên Giam Xuân Phước
A-20 là tờ Hợp Ðoàn vào năm 1981. Tuy nhiên, vì khi tác giả viết tác
phẩm này thì còn nhiều anh em cộng tác vẫn còn kẹt ở Việt
Tuy
nhiên, mãi cho đến năm 1987, PA-24 mới phát giác ra nguyên bản số 1 của
tờ Hợp Ðoàn. Nguyên do là một bạn tù trong nhóm chúng tôi đưa một bản
ra nước ngoài khi anh được thả ra và vượt biển nhưng bị bắt lại.
Phải
nói rằng trong cuộc đời tù đày của chúng tôi, đây là kỷ niệm lớn nhất
và nếu ai là người từng thích những cảm giác mạnh khi làm báo chui
trong hoàn cảnh khó khăn nhất, chắc cũng sẽ thích. Phải nói ngay rằng,
những người làm việc trong nhóm Hợp Ðoàn nay đã có mặt ở Hoa Kỳ như
Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp, Trần Bửu Ngọc, Phạm Ðức Nhì, Hải
“bầu”, Hải “cà”... và tôi cùng một số anh em trẻ khác từng lãnh phần
phát hành tờ Hợp Ðoàn. Tôi cần nói ngay, đây chẳng phải là chuyện gì to
tát, nhưng từ việc làm tờ báo “chui” trong một trại giam trong số những
trại giam hà khắc nhất Việt Nam (loại trại kiên giam) giúp cho chúng
tôi những bài học mà tôi nghĩ không có một trường lớp nào trên thế giới
này dạy.
Năm
1987, lúc chúng tôi đã trải qua 12 năm cải tạo, do bị phát giác ra được
chuyện này, cả đám chúng tôi bị đưa trở lại trại Phan Ðăng Lưu trước
chợ Bà Chiểu để bị thẩm cung và bị truy tố ra tòa. Họ đã hỏi cung và
lập cáo trạng kết chúng tôi án chung thân. Nhưng vào giờ phút chót,
chính quyền Cộng Sản ở Sài Gòn đã hủy bỏ vụ án và đưa chúng tôi trở lại
trại cải tạo Xuân Lộc Z-30A, cho đến một năm rưỡi sau mới thả chúng tôi.
Khi
làm tờ báo chui này, tôi áp dụng một nguyên tắc mà tờ Nhân Dân Nhựt Báo
của Mao Trạch Ðông đã áp dụng khi họ Mao còn hoạt động trong bí mật,
nghĩa là tờ báo chỉ có một bản duy nhất, viết tay. Chúng tôi có một ban
phụ trách truyền tay nhau xem và sau đó tìm cách chuyển ra bên ngoài,
chứ không dùng hộp thư chết như tờ Nhân Dân Nhật Báo lúc còn ở trong
bóng tối. Có nhiều nguyên nhân dẫn chúng tôi đến việc hình thành và
thực hiện tờ báo này, nhưng nguyên nhân chính vẫn là để thách thức
guồng máy an ninh và hệ thống ăng ten bao trùm trại kiên giam Xuân
Phước.
Chúng
tôi hiểu rằng, đã ở trong một trại Kiên Giam bốn bề vách núi dựng đứng,
chỉ có một con đường độc đạo băng qua khu rừng nguyên sinh từ Chóp
Chài, Tuy Hòa để vào trại, thì có cựa quậy gì cũng vô ích. Thế nhưng
hàng ngày, hàng giờ bọn an ninh trại sử dụng những phương thức tàn bạo,
khắc nghiệt đối với chúng tôi, thì ngược lại, chúng tôi cũng không cũng
không để cho họ yên vui bằng sự hành hạ mình được. Ngoài những vụ viết
khẩu hiệu, truyền đơn, vẽ cờ Việt Nam Cộng Hòa... chúng tôi bồi thêm
việc “xuất bản” tờ Hợp Ðoàn. Lý “lé”, cán bộ an ninh khét tiếng của
trại giam đã mất ăn ngủ về những chuyện này. Năm nào trại giam cũng
lãnh huân chương lao động chỉ vì A-20 là trại giam nổi tiếng về cho tù
ăn đói, làm việc nặng, ốm đau không có thuốc, kiệt sức rồi chết. Nhưng
kể từ khi khẩu hiệu và cờ Việt Nam Cộng Hòa được vẽ trong trại giam,
cộng thêm vụ trốn trại, các “ban” bị đổi liên miên, ngoại trừ tên trại
trưởng gốc lớn nên còn trụ lại cho đến 1986. Họ cũng không còn cơ hội
lãnh huân chương nữa.
Trong
rất nhiều năm, trại A-20 chỉ cho tù nhân cải tạo lãnh quà của gia đình
gởi qua đường bưu điện, mỗi gói chỉ nặng 3 kí lô và mỗi người chỉ cho
nhận 1 gói mà thôi. Sau những vụ đánh ăng ten, làm loạn trong nhà kỷ
luật và sau khi 7 sĩ quan cướp súng cán bộ trốn trại (6 sĩ quan này gồm
toàn cấp thiếu úy của các quân binh chủng Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục
Chiến, Nhảy Dù và Sinh Ngữ Quân Ðội), kỷ luật trại giam mới được nới
lỏng đôi chút vì ban quản trại muốn chọc thủng nồi nước sôi đậy nắp
kín. Sáu sĩ quan vừa kể trên đường đến gần Quảng Ðức thì bị Thượng Cộng
phục kích, bao vây và bắn chết 6 người. Riêng anh Lê Thái Chân, một sĩ
quan pháo binh Nhảy Dù trên đường trốn bị rắn cắn phải nằm lại và bị
bắt trở lại trại Xuân Phước. Anh bị đưa ra tòa án nhân dân kết án 10
năm tù. Có dịp tôi sẽ viết lại chuyện này. Chân đã bị mù trong thời
gian anh bị nhốt kiên giam do vụ trốn trại nói trên. Mấy năm trước đây,
quận Cam đã có dịp tiếp đón Lê Thái Chân, sau khi anh được thả và được
định cư ở Mỹ theo diện HO. Tuy nhiên, sau đó anh lại chọn New York để
định cư.
Trước
khi hiểu động cơ chính khiến nhóm chúng tôi làm tờ Hợp Ðoàn, và ra được
6 số, cần phải nhắc lại bối cảnh của trại Kiên Giam A-20 ở thung lũng
Xuân Phước, thường gọi là “Thung lũng tử thần”. Trại giam này chỉ cách
trại Dân Sự Chiến Ðấu Xuân Phước vài cây số. Trại Dân Sự Chiến Ðấu của
Mỹ này đã bị bỏ hoang từ lâu sau khi Hoa Kỳ không còn tài trợ cho các
trại biên phòng nữa. Xã Xuân Phước thuộc vùng thâm sơn cùng cốc của
quận Ðồng Xuân, Phú Yên. Người ta thường gọi Xuân Phước là vùng tiền
sơn của các buôn Thượng, sắc tộc H'Mong. Nó nằm sát đường mòn Trường
Sơn Tây. Trại được thành lập bởi nhóm cựu sĩ quan và cảnh sát Việt Nam
Cộng Hòa di tản sang Guam rồi lại biểu tình đòi về. Họ dùng chiếc tàu
Việt Nam Thương Tín để về nước. Khi vào đến Vũng Tàu thì không được nhà
cầm quyền Cộng Sản nhận, phải ra Nha Trang. Tất cả những người có mặt
trên tàu đều bị tạm giam tại Nha Trang, sau đó một phần được đưa về Chí
Hòa và phần còn lại bị đưa lên rừng Xuân Phước để thiết lập trại A-20.
Thành phần bị đưa về Chí Hòa cũng bị đưa ra Bắc, có người bị nhốt tận
trại Cổng Trời, ở chung với nhóm Biệt Kích Việt Nam Cộng Hòa được thả
ra Bắc thời chiến tranh.
Trong
tác phẩm Trại Kiên Giam, tác giả Nguyễn Chí Thiệp đã viết nhiều đến bối
cảnh sinh hoạt tại trại Xuân Phước Z-30A, nhưng điều mà tôi muốn nhấn
mạnh là trại này được thành lập cốt để nhốt những thành phần có án
chính trị nặng, từ 10 năm đến tử hình và những thành phần cựu sĩ quan,
công chức Việt Nam Cộng Hòa mà họ cho rằng “hết thuốc chữa” tức là
không thể cải tạo được. Những người được đưa về đây, nếu là tập trung
cải tạo thì đều bi liệt vào loại “hết thuốc chữa” theo cách nói nôm na
của những người tù như chúng tôi lúc đó. Một số lớn những anh em chúng
tôi, nếu bị đưa về đây theo Phương Án 4, thì họ sẽ không bao giờ được
xét tha nữa, trừ phi có những biến chuyển từ bên ngoài. Một số được đưa
về đây có thời hạn là để bị trừng trị vì những vụ rắc rối ở những trại
khác. Chẳng hạn như một nhóm tù cải tạo từ Bắc về trại Z-30D đã nổi
lọan năm 1983, bị đưa về nhốt ở Chí Hòa sau đó bị đưa ra trại Kiên Giam
Xuân Phước. Những cho đến 1985, họ cũng đã được thả cùng với những
người trong nhóm Việt Nam Thương Tín.
Trại
Xuân Phước vào những năm đầu của thập niên 1980 có tới 4 trại khác
nhau. Riêng trại A được kể là trại có “mã” nhất vì được xây bằng gạch,
vườn rau ao cá, thư viện, nhà văn hóa, hội trường. Trại nằm dưới bóng
dừa với vườn hoa cây kiểng, nên mới nhác trông người ta có cảm tưởng
đây là một tụ điểm du lịch. Nhưng phía đằng sau cái bề ngoài, Xuân
Phước là một “địa ngục trần gian” với một loại kỷ luật “hơn mười lần
Ðầm Ðùn”. Trước đây, khi nghe nói đến chuyện tù nhân ăn cả da bò phơi
làm mắt trống, người ta nghĩ chỉ là chuyện hoang đường. Nhưng ở Xuân
Phước, mức ăn của một người tù lao động bình thường là 9 kí lương thực
một tháng, những tù nhân bị kỷ luật chỉ được 6 kí lương thực và “thức
ăn” chỉ có nước muối hay rau muống nấu với nước muối mà chúng tôi
thường gọi là “canh đại dương” hay “canh dây thép gai”. Sở dĩ phải gọi
như vậy vì tiêu chuẩn của một đội 40 người là một bó rau muống nấu với
nước muối. Rau muống già đến nỗi phải nhai lấy nước và nhả bã. Cho nên,
chính tôi đã phải ăn trộm da bò phơi làm mặt trống. Bọn cán bộ trại
giam điên tiết, mở điều tra nhưng họ thất bại.
(Còn tiếp)
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |