Nằm
trong bóng tối ở hoàn cảnh cá chậu chim lồng, tôi nghĩ mông lung mãi về
đề tài 19 Tháng Sáu mà tôi dùng để viết lá thư tòa soạn. Viết một lá
thư thông thường, ca ngợi sự chiến đấu anh dũng của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa lúc đó thì quả là không thích hợp vì gần như cả quân lực chúng
ta đã nằm trong tù. Hồi chiều, hai nhóm bạn đồng tù của tôi tạo ra cuộc
tranh luận suýt nữa gây ẩu đả chỉ vì một bên đưa ra lập luận rằng trong
biến cố ngày 30 Tháng Tư năm 1975 “chúng ta thua từ bên ngoài” và một
bên cho rằng “tiên trách kỷ hậu trách nhân, chúng ta không làm đầy đủ
trách nhiệm của người lính nên thua”. Chúng tôi sống trong sự ngờ vực
về những gì đã xảy ra trước đó 6 năm nên không ngạc nhiên lắm về những
khắc khoải ấy của thế hệ anh em chúng tôi. Vì thế tôi nghĩ rằng mình
phải chuyển đề tài, khởi đầu cho một cái nhìn thực thà về chính mình.
Từ
ngày bước vào những trại tù Cộng Sản, ngoài việc tranh đấu để chống lại
cái bao tử của mình, có nhiều dịp chúng tôi ngồi để duyệt lại sự thất
bại của Việt Nam Cộng Hòa. Không kể một số sĩ quan còn quá trẻ, đầy
nhiệt huyết nhưng non nớt trong suy nghĩ chính trị, phần lớn các cựu sĩ
quan tuổi gần bốn mươi đều có nhiều ưu tư đến nguyên do dẫn đến thất
bại của một quân lực hùng mạnh kể vào hàng thứ tư của thế giới. Cá nhân
tôi, đã có thời gian ngắn tù chung với cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát ở
Chí Hòa. Qua câu chuyện trao đổi hàng ngày, tôi mới được biết ông chính
là bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đầu tiên trong Nội Các Chính Phủ Quốc Gia,
có nhiệm vụ nhận chuyển giao các đơn vị Việt Nam trong Quân Ðội Liên
Hiệp Pháp cùng những trang bị để thành lập Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam
và chuyển vào trong Nam. Vậy mà những năm trước ngày 30 Tháng Tư năm
1975, mỗi khi kỷ niệm Ngày Quân Lực không ai nhớ tới ông cả, có lẽ chỉ
vì những nghi kỵ nhau về chính trị hoặc là người ta muốn tẩy rửa hình
ảnh của người Pháp đối với những đơn vị đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa
trong Nam chăng. Thực ra, đây chỉ là vấn đề của lịch sử đã bị khai thác
biến nó thành vấn đề chính trị. Cái đau là trong cuộc chiến tranh tương
tàn ở Việt
Suốt
cả đêm, tôi không hề chợp được mắt, phần vì đói và phần vì những biến
chuyển tâm lý cũng như những suy nghĩ về số phận của bản thân mình cũng
hàng trăm ngàn đồng đội của tôi lúc đó trong hàng chục ngàn trại giam
trên khắp lãnh thổ Việt
Sau
khi điểm số, vào buồng giam, tôi hội ý với Ngọc ngay. Ngọc bảo tôi:
“Alpha khoan hãy viết, anh ngồi viết một cái thư về địa chỉ em cũng
được. Một giờ đồng hồ nữa anh mới bắt đầu viết báo. Nhưng ngay cả khi
đó, anh viết tờ nào, em sẽ phi tang tờ đó”. Tôi theo y lời khuyến cáo,
lấy giấy bút, ngồi dựa gốc cột và bắt đầu viết thư cho mẹ tôi dù biết
rằng tôi không bao giờ gởi lá thư này đi. Viết được nửa chừng, tôi nghe
có tiếng người bên ngoài hỏi vọng vào cửa sổ: “Anh kia, viết gì đấy,
đưa tôi xem”. Có tiếng người nằm ở gần cửa sổ sàn ngủ phía dưới hỏi:
“Cán bộ gọi ai”. Tôi nhận ra tiếng cán bộ Luật, trực trại: “Tôi gọi anh
đang viết gì đó ở trên kia kìa. Viết gì đấy, truyền đơn phản động hả”.
Tôi hiểu Luật muốn gì, nên vội leo xuống sàn dưới đưa lá thư đang viết
dở cho hắn coi. Xong hắn trả lại tôi và nói giọng đãi bôi: “Gia đình
các anh ở ngoài khó khăn lắm, viết thư xin nhiều như thế thì làm sao ở
ngoài họ lo nổi?” Tôi trả lời Luật cho qua chuyện: “Ðói quá cán bộ ơi,
xin thì cứ xin, nhà lo được gì thì lo”.
Câu
chuyện chỉ có vậy, nhưng rõ ràng những tin tức của Nhì là chính xác.
Biết như vậy, chúng tôi càng dễ hành động hơn. Trong buổi tối hôm đó,
tôi viết xong lá thư tòa soạn và phần chót của bản tổng kết tin tức
được đưa từ ngoài vào và coi như hoàn tất công việc đúng như dự trù.
Chỉ
còn bìa báo. Tối hôm sau, tức là tối Thứ Ba mà tù nhân được viết thư
cho gia đình, tôi hoàn tất giai đoạn chót chỉ trong vòng nửa tiếng đồng
hồ để dán hình bầy sếu bay về tổ, dán chữ Hợp Ðoàn và cái tít nhỏ ở
dưới “Từ Trại A-20 Xuân Phước” trên một bìa cứng đã cắt sẵn kích thước.
Sau khi đóng bìa, tôi đưa cho Ngọc chuyển đến nơi cất giấu và phát hành
đúng sáng ngày 19 Tháng Sáu.
Buổi
chiều ngày 18 Tháng Sáu, chúng tôi được “ăn tươi” để chuẩn bị sáng 19
Tháng Sáu nghỉ lao động học tập chính trị. Ăn tươi là từ ngữ mà trại
nào cũng sử dụng như một chỉ dấu cho biết là bữa cơm hôm đó chúng tôi
được thêm chút thịt hay cá, nghĩa là một miếng thịt mỡ hoặc miếng cá
đuối bằng hai ngón tay nấu với nước muối. Phần lớn các trại tù Cộng Sản
trong Nam đều biết rất rõ những ngày lễ trọng của Việt Nam Cộng Hòa
trước đây, chẳng phải họ cần nghiên cứu gì mà là để có những biện pháp
ngăn ngừa những chuyện bất trắc có thể xảy ra trong những ngày ấy. Xưa
kia, trong những trại tù binh và chính trị phạm ở Côn Sơn hay Phú Quốc,
tù binh cộng sản cũng thường lựa những ngày lễ của họ như 2 Tháng Chín,
20 Tháng Mười Hai, 3 Tháng Hai... để biểu tình hay nổi lọan trong trại
hầu gây tiếng vang. Nay ở vị trí của người thắng lợi, họ cũng sợ chúng
tôi trốn trại nên thường đi bước trước để kiểm soát tình hình.
Do
đã có sẵn quy ước với nhau, buổi sáng ngày 19 Tháng Sáu, tuy không phải
đi lao động, chúng tôi vẫn dậy sớm. Sau khi tháo mùng, gấp mền, tất cả
sạp ngủ trên đều bước xuống đất hết. Chúng tôi đứng nghiêm yên lặng để
chào quốc kỳ. Dĩ nhiên, chúng tôi chỉ hát thầm bài quốc ca. Có tiếng
khóc. Sau đó là mặc niệm các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc và những
người chết trên đường đi tìm tự do. Sau khi chúng tôi tan hàng ngồi hút
thuốc lào chuẩn bị chờ trực trại đến mở cửa, điểm số, tiếng Phạm Ðức
Nhì nói đổng, nhưng lớn giọng: “Ngày 19 Tháng Sáu là ngày sinh nhật của
tất cả những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Mong rằng sinh hoạt vừa
rồi không đến tai cán bộ. Trường hợp ngược lại, chúng ta sẽ tìm ra kẻ
sàm tấu và chúng sẽ bỏ ăn luôn đấy. Có cần khiếu nại vì thấy bất tiện,
cứ đến gặp ÐEN (Ðen là tên gọi thân mật của Ngọc)”.
(Còn tiếp)
Những Bài Liên Quan:
|
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |