Chuyện người lính chiến
Theo Đàn Chim Việt - Phương Duy - 16-05-2006
 |
Chiến sĩ: QĐNDVN, QLVNCH — Nguồn: morningstaronline.co.uk, kennerly.com
|
Vào
thời điểm này năm ngoái (2005), đã có cuộc tranh luận ồn ào trên một số
báo chí trong nước và hải ngoại về cuộc chiến Việt Nam. Có lẽ vì 2005
là một năm có cái mốc lich sử: 30 năm sau cuộc chiến. Con người vẫn
thường hay phô trương hay làm ầm ỹ những sự kiện vào những mốc thời
gian 5, 10, 15 20… năm. Điển hình,cuốn Khi Đồng Minh tháo chạy
của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã chọn thời điểm này để ra mắt độc giả.
Không ít những cây bút quen thuộcTrần Trung Đạo, Lữ Phương, Tiêu Dao
Bảo Cự… cũng lấy ba mươi năm làm chủ đề cho các bài viết. Nổi bật nhất
phải kể đến bài viết Ba mươi năm Gọi tên gì cho cuộc chiến của Lê xuân
Khoa trên BBC ngày 15/02/2005 đã gây nhiều phản hồi khá gay gắt. Sau đó
đúng 1 tháng, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của ĐCSViệt Nam ỏ trong
nước cho đăng bài Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật của Nguyễn
Hoà để kịch liệt phản bác những luận cứ của Lê Xuân Khoa. Trong khi LX
Khoa đòi đối chất với Nguyễn Hoà ngay trên trang báo Nhân Dân mà không
được, thì bài viết Gửi Nguyễn Hoà người đồng đội của anh Nguyễn Xuân
Đức đăng trên Talawas ngày 25/05/2005 đã thay thế LX Khoa trả lời làm
cho Nguyễn Hoà phải dịu giọng lại trong những bài viết sau . Ngay cả Võ
văn Kiệt, cựu thủ tướng, lúc đó cũng có nhận định rằng:trong cuộc chiến
có triệu người vui và triệu người buồn. Nhận xét kỹ, người viết bài này
tìm ra được một điều khá lý thú: hầu như đa số những người kể trên, nếu
không thuộc thành phần khoa bảng trí thức chưa từng cầm khẩu súng, chưa
biết đến gói lương khô, hoặc nếu đã từng thì cũng thường là người ở về
phía thắng trận, nơi họ nắm được hết toàn bộ báo chí và các phương tiện
truyền thông khác để tha hồ nói theo ý mình. Trái lại, những suy nghĩ
về thân phận người lính Việt Nam Cộng hoà, suốt mấy chục năm qua, chưa
bao giờ được lắng nghe và đối thoại một cách công bằng và trên căn bản
tôn trọng sự thật. Đã thế, hình ảnh của họ luôn bị tô vẽ, bóp méo, nhục
mạ một cách ác ý cho hợp với sự tuyên truyền về sự xấu xa của “nguỵ
quân ngụy quyền”, như thế mới đánh bóng được cái “sự nghiệp giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước”, cái “chính nghĩa chống Mỹ cứu nước” mới
có chỗ để che dấu cái ý đồ chính yếu của chế độ quyết tâm xây dựng “Xã
Hội Chủ Nghĩa” trên toàn cõi đất nước.Hậu quả là người dân Việt Nam cả
2 miền đã phải gánh chịu những hậu quả tàn khốc vì chính sách áp dụng
triệt để CNXH những năm sau chiến tranh.
Sự bóp méo hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hoà như một công cụ của đế
quốc Mỹ để cố tình hạ nhục đó, đau lòng mà nói, đã để lại những xuyên
tạc sự thật,không thua kém chính sách đầu độc tuổi thơ “trăm năm trồng
người” của Hồ Chí Minh. Để chứng minh điều này, người viết xin có vài
câu chuyện nhỏ, để chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của sự tuyên
truyền nhồi sọ tàn độc đến mức nào: Vài tháng trước đây, trong một lần
trò chuyện với một cô gái Việt Nam trẻ đã qua Úc khoảng 10 năm, khi
biết người viết từng là người lính Việt Nam Cộng hoà, cô đã hỏi: “Hồi
đi lính chú có lãnh lương không?” Tôi trả lời: “có chứ! không tiền lấy
gì sống”. Cô hỏi tiếp: “Vậy chứ Mỹ trả lương chú bằng đô Mỹ hay bằng
tiền Việt Nam?” Đến đây, tôi thực sự kinh ngạc, phải chi cô sinh ra và
lớn lên từ miền Bắc, đằng này, cô là một người miền Nam rặt, sinh
trưởng và lớn lên trong một tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long. Tôi bảo
cô miền Nam Việt Nam từng là một quốc gia riêng, có chính quyền và quân
lực riêng, tiền tệ riêng, pháp luật riêng, không trực thuộc Mỹ và không
do Mỹ trả lương. Việt Nam Cộng hoà nhận viện trợ Mỹ cũng giống như miền
Bắc Việt Nam nhận viện trợ từ Liên Xô, Trung Cộng và các nước CS Đông
Âu. Quân đội Mỹ cũng như các quôc gia khác như Nam Hàn, Thái Lan, Úc,
New Zealand, Philippines đến Việt Nam chiến đấu với tư cách Đồng Minh
hợp lực yểm trợ. Cho phép quân đội Mỹ và Đồng Minh vào trực tiếp chiến
đấu tại Việt Nam có thể là một chiến lược sai lầm của một vài cá nhân
lãnh đạo đất nước vì đã làm giảm đi chính nghĩa của Việt Nam Cộng hoà:
chiến đấu cho tự do dân chủ và hạnh phúc của đống bào chống lại chế độ
CS tàn ác vô nhân đạo, nhưng miền Nam Việt Nam không hề mất đi chủ
quyền và sự độc lập của mình. Tôi có hỏi lại cô rằng tại sao cô sống ở
miền Nam lại không biết những thực tế rõ ràng và tầm thường như thế. Cô
cho rằng vì ở thời điểm 1975, cô còn quá nhỏ, chỉ mới 2, 3 tuổi, và từ
đó đến nay, cô chỉ được học tập nghe nói lính miền Nam đánh thuê cho
Mỹ, được Mỹ trả lương. Ngoài ra, không biết gì hơn.
Một câu chuyện khác: chỉ mới đầu năm nay, khi có sự tranh luận bàn cãi
về những lời phát biểu của ông cựu phó TT Nguyễn Cao Kỳ, một anh chàng
trên dưới 40, từng là thuyền nhân vượt biển từ những năm 1979, 1980, đã
cho rằng: sở dĩ ông Kỳ có tiền mang về “quậy” ở Việt Nam là nhờ Mỹ vẫn
tiếp tục trả lương mấy chục năm thâm niên trong một lần (một việc không
đúng).
Có lẽ, chuyện cười ra nước mắt hơn hết là trường hợp người bạn của tôi,
1 sĩ quan Việt Nam Cộng hoà, định cư tại Úc sau một thờigian đi tù cải
tạo rồi vượt biên. Vì rất thương cha mẹ anh em trong gia đình còn kẹt
lại tại Việt Nam nên tại Úc, anh đã cố gắng làm việc tối đa, ăn tiêu
thật dè xẻn. Bao nhiêu tiền dành dụm,anh đem gởi về nước lo lắng cho
các em tìm đuờng ra đi. Cuối cùng, anh bảo lãnh cả gia đình gồm cha mẹ
và các em nhỏ qua Úc định cư. Hoàn thành các việc đó xong, anh mới kể
thực những khó khăn cơ cực mà anh và vợ con đã phải cố chịu đựng để có
thể giúp đỡ gia đình trong thời gian qua, nhưng chính cha mẹ anh lại
không tin. Có lần anh kể rằng ba anh bảo anh: “Nè! nói thiệt đi, tao
được biết là trong những năm mày đi cải tạo, qua đây thằng Mỹ nó tính
toán rồi trả lại lương đầy đủ, vậy mày lãnh được của nó bao nhiêu?”.
Anh bạn bảo rằng nói sao ông cũng nhất định không tin rằng cả đời anh
chưa bao giờ nhận lương của Mỹ, ngay cả khi anh nói với cha mẹ là chúng
ta đang sinh sống ở Úc chứ có phải ở Mỹ đâu?
Kể ra một vài chuyện nhỏ nhặt trên đây, tôi chỉ muốn nói: người lính
Việt Nam Cộng hoà cho đến bây giờ, chưa bao giờ có cơ hội được phác hoạ
hình ảnh của mình một cách trung thực, không phải chỉ do phía bên kia,
mà ngay cả bên hàng ngũ của người dân miền Nam tự do,người ta cũng có
cái nhìn về người lính Việt Nam Cộng hoà rất lệch lạc, đôi khi ngay vì
sự hờ hững, sơ sót của chính một số nhân sự trong tập thể quân lực Việt
Nam Cộng hoà. Một người bạn của tôi vừa tìm được trong thư viện địa
phương một dĩa DVD về cuốn phim Người tình không chân dung
(1971) do Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn và Kiều Chinh thủ vai chính. Tôi mượn
xem. Cuốn phim đã được quay trong thời chiến. Nay hơn ba mươi năm mới
có dịp coi lại. Nói coi lại vì là cuốn phim đã cũ, sự thực tôi mới coi
lần đầu. Trước đây chỉ nghe báo chí đề cập đến. Khi nó được trình chiếu
trong các rạp thành phố miền Nam, đời lính chiến xa nhà làm tôi lỡ dịp.
Cho dù có gặp đúng lúc đi nữa, chưa chắc tôi đã xem. Những ngày phép
ngắn ngủi phải dành cho gia đình, cho bạn bè, người yêu, không ai dại
chui đầu vào rạp hát cho phí những giây phút quý báu ấy. Dù sao,nghệ sĩ
Kiều Chinh cũng là một khuôn mặt lớn của nền điện ảnh non trẻ miền Nam.
Tôi đã gặp chị một lần vào giữa năm 1971, khi chị đi quay một cảnh cho
1 phim khác, dường như là cuốn Bão Tình,trong buổi lễ mãn khoá và đêm
dạ vũ của chúng tôi ở quân trường Nha Trang, chúng tôi vô tình đã trở
thành những diễn viên phụ cho chị trong cuốn phim đó. Nói như thế để
mọi người hiểu tôi rất quý mến và trân trọng tài năng của chị. Tôi cũng
biết rằng đây là một công ty điện ảnh tư nhân, sản xuất phim ảnh với
mục đích thương mại. Tuy nhiên vì phim lấy bối cảnh chiến tranh Việt
Nam làm nền chính và chuyện phim xoay quanh những người lính Việt Nam
Cộng hoà, lại được yểm trợ, giúp đỡ bởi một số đơn vị của quân lực Việt
Nam Cộng hoà, nên khi xem xong, tôi cảm thấy hơi phiền lòng. Tuy có nói
lên được những cay đắng nghiệt ngã của con người trong một cuộc chiến
khốc liệt, nhưng lại làm biến dạng khuôn mặt thật của người lính Việt
Nam Cộng hoà vốn dĩ đã mang nhiều vết hằn của bất hạnh,bất công qua
những sai lầm cơ bản trong cách làm phim. Bỏ qua những tình tiết kỹ
thuật, chuyện phim, tài nghệ, v.v… ở đây tôi chỉ nhìn vào vài khía cạnh
diễn tả hình ảnh những người lính mà tôi cho rằng đã đi quá xa sự thực.
Sau những ngày hành quân gian khổ, người lính Việt Nam Cộng hoà trở về
căn cứ, thành phố, họ có thể tụ tập nhậu nhẹt say sưa phá phách chút
đỉnh, cố quên đi những lúc kề cận với cái chết, còn cái hình ảnh người
lính trong phim sầu đời, ngồi uống một mình trong quán rồi tuôn ra một
lời chửi rủa hằn học: “hôm nay tao uống nhiều rồi, thằng nào lôi thôi
tao đánh bỏ mẹ”, theo tôi, đó không phải là phong cách thực của người
lính miền Nam. Họ không oán hận chiến tranh và tuyệt vọng cho số kiếp
đơì mình đến mức phải ngồi uống một mình và chừi đổng. Quán “U hồn
cốc”, trong đó đám lính ăn nhậu nhồm nhoàm bên dưới những bức tranh vẽ
tưởng nhớ đồng đội “vỡ đầu”rồi sủa lên như chó, có vẻ như muốn tạo ra
một chút vừa nghệ thuật vừa man rợ, thực ra chỉ có trong óc tưởng tượng
của người dựng phim không biết đến đời lính là gì, có lẽ ông (bà) ta
chịu ảnh hưởng của loại phim cao bồi “về miền viễn tây” của Mỹ? Đó
không phải là phương cách người lính Việt Nam Cộng hoà biểu hiện trong
sự tưởng nhớ đến những bạn đồng đội đã ngã xuống. Người Việt Nam thường
có những hành xử trang trọng hơn cho người đã khuất.
Điều làm tôi phiền lòng hơn hết là cách diễn tả tay đại úy Quyến trong
phim. Hình ảnh của tay này thật tồi bại, hắn nhìn đàn bà chỉ toàn là
một thứ đượi. Hắn thẳng tay hành hung đồng đội, như một côn đồ, thèm
khát dục tình như một con thú, nhưng lại len lén xách giầy rút lui chỉ
với cái nhìn lạnh lùng của người đàn bà? Không, cho dù là hư cấu, tôi
cũng không thể nào tưởng tượng tác phong của 1 người lính, lại là sĩ
quan quân lực Việt Nam Cộng hoà như thế. Cho dù có thật đi nữa, tại sao
lại đưa lên màn ảnh một vài cá nhân nhỏ nhoi, để nó biến thành nỗi nhục
cả một tập thể? Không lẽ phải làm quá đi như vậy thì mới ăn khách? Vả
lại, cuốn phim, đành rằng do một hãng tư nhân sản xuất, lại được sự hỗ
trợ mạnh mẽ về nhân vật lực của một số đơn vị quân đội, tôi không hiểu
những người khoác bộ đồ quân phục đã gíup hoàn thành cuốn phim nghĩ gì
khi nó làm sai lệch hình ảnh chiến sĩ của mình. Có người cho đó là biểu
hiện về mặt tiêu cực của chiến tranh, Tôi không nghĩ thế, xuyên tạc sự
thật thì đúng hơn Bây giờ, mấy mươi năm sau, thế hệ trẻ coi lại, họ sẽ
đánh giá QLViệt Nam Cộng hoà ra sao? Tôi xin dừng lại ở đây về cuốn
phim, nếu không sẽ quá dài.
Trở về với thực trạng hiện tại, ngày 30 tháng 4 năm nay, Việt Hồng
(DCVOnline) đã có 2 bài phỏng vấn một số những người lính của cả 2 miền
Nam Bắc. Tuy số lượng rất nhỏ nhoi, không thể là tiếng nói của toàn thể
quân nhân các cấp, nhưng đã được thể hiện cả trong và ngoài nước, có
thể phản ánh một ít suy nghĩ chung của những người một thời “súng là
vợ, võng là giường, vòm trời là mái, cây rừng là bạn”. Đa số người lính
cả 2 bên chiến tuyến còn sống sót đến ngày hôm nay dường như có chung
một ý nghĩ: Chúng tôi đã từng bắn giết nhau trên chiến trường,nhưng
chúng tôi vẫn là anh em, vẫn là người dân Việt chung một giòng máu.
Chúng tôi mỗi người từng yêu nước theo cách của chúng tôi. Chúng tôi
chỉ làm nhiệm vụ người lính là bảo vệ quê hương. Chúng tôi không hận
thù nhau và chúng tôi không muốn hận thù kéo dài từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Oán thù chỉ dành cho những kẻ đã gây ra cuộc chiến. Chỉ có một
điều: chúng tôi vẫn còn bất đồng về việc ai đã là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tàn khốc đó.
Với người lính Việt Nam Cộng hoà, cầm súng chiến đấu không phải đi làm
cách mạng. Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm là ba tiêu đề chính của tập
thể quân lực Việt Nam Cộng hoà, trong đó Tổ Quốc trên hết. Người lính
Việt Nam Cộng hoà bảo vệ Tổ Quốc và chỉ Tổ Quốc mà thôi ở trong bất cứ
chính quyền hợp hiến hợp pháp nào. Người lính Việt Nam Cộng hoà để cho
đất nước theo dòng chảy lịch sử cùng với đà tiến triển nhân loại và thế
giới chứ không kìm hãm hay đi làm mới lịch sử. Chính với những suy nghĩ
đơn giản trên, người lính miền Nam chiến đấu và chấp nhận hy sinh, kể
cả hy sinh mạng sống với sự mặc nhiên, không có sự hận thù với người
lính miền Bắc. Nói về lý tưởng, người viết cũng đã từng bàn đến trong
một bài trước đây Gửi người bên kia chiến tuyến (Đàn Chim Việt online 14/07/2005) xin khỏi nhắc lại.
 |
Binh chi huynh đệ — Nguồn: gruntonline.com
|
Những
mất mát lớn lao trong cuộc chiến hầu như hiện diện trong mỗi một gia
đình người Việt Nam. Cụ thể bản thân gia đình người viết, đứa em trai,
cũng là một người lính Việt Nam Cộng hoà, đã hy sinh ở một chiến trường
nào đó mà cho tới nay, sau hơn ba mươi mốt năm, mới chỉ nhận được một
tin tức vào đúng ngày Tết Bính Tuất vừa qua từ một chiến hữu đã tự tay
chôn cất (tiện đây cũng xin cảm ơn báo DCV online đã cho đăng những lời
nhắn tin của tôi trước đó) để biết ngày cúng giỗ. Bạn bè thân thuộc nằm
xuống thì không sao kể hết. Có một thời sau chiến tranh, tôi cũng oán
hận vô cùng, vì “hoà bình rồi sao mắt mẹ chưa vui”. Mẹ tôi, một người
đàn bà quê mùa nghèo khổ, một đời lam lũ vất vả. Đôi chân gầy ống thấp
ống cao, chắt chiu dè xẻn từng cắc bạc để mua vườn tậu đất, vì theo ý
niệm đơn giản của bà, không có gì vững chãi hơn ruộng vườn đất đai để
lại cho con cháu. Đó chính là cơm ăn áo mặc, là sự bảo đảm tương lai.
Ấy thế mà những mảnh mồ hôi nước mắt đó, trong phút chốc không cánh mà
bay: chỉ một thời gian ngắn sau 30/4/75, ngoại trừ vuông đất nhỏ quanh
nhà, tất cả đất đai ruộng vườn của bà bị tịch thu, mang danh nghĩa xây
phòng y tế, dựng sân banh, xây nhà tình nghĩa. Thực tế, bệnh xá được
cất lên chỉ là một cái chòi nhỏ, cán bộ thỉnh thoảng đến phát cho dân
dăm ba viên thuốc dân tộc trị bá bịnh, sân banh thì không thấy đâu, chỉ
thấy đa số đất đai được cán bộ chia nhau xây nhà dựng cửa. Có hai thằng
con trai thì một đứa lên rừng cải tạo, đi mãi không về, đứa kia thì như
tan vào hư không, bặt vô âm tín. Mất trắng cả người lẫn của, bà chỉ
biết chép miệng thở dài: “Gặp thời thế thế thì phải chịu chứ biết làm
sao?” Đây chỉ một mảnh đời nho nhỏ của gia đình tôi, bức tranh của toàn
thể miền Nam với hàng triệu con người và gia đình còn thê lương hơn
nhiều.
Nhắc lại lịch sử là nói về quá khứ. Quá khứ của người lính miền Nam lại
quá đau thương. Vì thế trong lúc này, một số người ở phía bên kia có
luận điệu cho rằng, người lính Việt Nam Cộng hoà hay nhắc nhở đến quá
khứ vì mặc cảm mang nỗi nhục bại trận, vì muốn mãi mãi hận thù. Với
những người này, người viết xin trả lời ngay rằng: nếu chúng ta chấp
nhận đối thoại trên tinh thần thẳng thắn, tôn trọng sự thật, và những
luận cứ thuyết phục đáng tin, chúng ta có thể tiếp tục bàn cãi. Nếu
không thì nên chấm dứt ở đây, vì những lời xuyên tạc, mạ lỵ, những bằng
chứng vu vơ không thuyết phục sẽ chẳng dẫn chúng ta đi tới đâu.
Trước hết, người lính Việt Nam Cộng hoà, ngay từ khi còn nhỏ đã được
giáo dục trong một môi trường mở lành mạnh với chủ trương không hận
thù, nên, như trên đã nói, đi vào cuộc chiến không mang theo thù hận,
không cố tình đuổi tận giết tuyệt, không theo “đường vinh quang xây xác
quân thù”. Nếu cần phải hy sinh đền nợ nước thì “thề quyết lấy máu đào
(của chính mình) đem báo”. Oán thù chỉ tập trung vào lớp đầu não lãnh
đạo cầm quyền CS Việt Nam quyết tâm gây ra chiến tranh, gây cảnh nồi da
xáo thịt. Oán thù vì ĐCS Việt Nam đã áp đặt lên dân tộc những chính
sách đầy sai lầm, dã man tàn ác làm dân tình điêu linh, đất nước tụt
hậu. Oán thù vì đám lãnh đạo CS Việt Nam tước đoạt hết mọi quyền căn
bản làm người của nhân dân để toàn quyền sai bảo nhân dân như những con
vật. Oán thù vì những trò lừa bịp xảo trá của đám thiểu số lãnh đạo
cướp quyền, đè đầu cưỡi cổ dân mà miệng thì cứ xoen xoét là đầy tớ của
dân. Cái đại hội đảng X vừa qua là một ví dụ cụ thể cho sự lừa bịp
trắng trợn. Cũng bày trò trình diễn đóng góp ý kiến, cũng bày đặt bầu
bán, nhưng kết quả thì lại do bọn chóp bu xếp đặt trước. Cho nên, cái
lũ sân dân mọt nước ấy không những đáng hận thù mà còn đáng nguyền rủa.
Khác với người lính phía bên kia, mang danh nghĩa là quân đội nhân dân
nhưng lại thề tuyệt đối trung thành với Bác và đảng, chỉ phục vụ cho
đảng, người lính Việt Nam Cộng hoà chỉ phục vụ đất nước, không phục vụ
cho bất cứ lãnh tụ nào, đảng phái nào. Lịch sử đã chứng tỏ điều này.
Các chính quyền Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn văn
Thiệu cùng các đảng phái Cần Lao, Dân Chủ, Đại Việt, Quôc dân Đảng…
thay nhau qua đi, quân lực Việt Nam Cộng hoà đã vẫn tồn tại. Người lính
Việt Nam Cộng hoà Không
Bao Giờ chiến đấu cho đế quốc Mỹ. Đây là điểm cần nhấn mạnh. Ý niệm
biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cộng của thế giới, chỉ
là ý niệm của một số chính trị gia sa lông, không phải là lý tưởng của
tập thể quân lực Việt Nam Cộng hoà. Người lính Cộng Hoà chống Cộng Sản
vì nhận thức rõ ràng những nọc độc của nó gây hại cho Tổ Quốc, dân tộc
ghê gớm như thế nào, chứ không vì một ý niệm mù mờ đâu đâu. Người lính
Cộng Hoà tự biết sức mình nhỏ bé, chỉ đủ sức bảo vệ riêng mình và đồng
bào mình, không bao giờ nghĩ mình có trách nhiệm và vĩ đại tới mức phải
làm chiến sĩ tiền phong cho một mặt trận quốc tế nào.
Ông Thiệu có thể ngây thơ khi quá tin vào Mỹ, người Mỹ có thể non kém
với lý thuyết này, giải pháp kia .Họ đã sai lầm và dại dột khi áp lực
các chính quyền Việt Nam Cộng hoà để đem quân vào Việt Nam, trực tiếp
can thiệp vào cuộc chiến quốc - cộng cũa Việt Nam, làm cho miền Nam,
dưới mắt người dân miền Bắc và dư luận thế giới, mất đi cái chính nghĩa
bảo vệ tự do chống CS độc tài toàn trị.Thực ra quân Mỹ và các Đồng Minh
khác chỉ là các lực lương bạn đến hỗ trợ giúp đỡ. Cứ nhất quyết cho
rằng Mỹ là tên đế quốc xâm lược thì xin hãy chứng minh, vùng đất nào,
lãnh thổ nào hay thành phố làng xã nào của Việt Nam đã bị Mỹ cai trị?
Bảo rằng Mỹ đến Việt Nam để đàn áp bóc lột dân lành như lời tuyên
truyền của ĐCS Việt Nam thì hãy tự hỏi sau hơn mười năm nhập cuộc, sau
khi đổ ra hàng đống tiền của và sinh mạng, người Mỹ đã gặt hái được lợi
lộc gì từ Việt Nam? Nếu lập luận Mỹ dùng chiêu bài chống cộng để thực
hiện chính sách thực dân mới, thì chính sách này là gì? Tại sao bây giờ
không còn nghe nói đến chính sách thực dân mói đó nữa? Tại sao bây giờ
ĐCS Việt Nam lại nhiệt tình hăm hở bang giao chào đón Mỹ?
Dù sao, sau 31 năm chấm dứt cuộc chiến, cả 2 bên cùng là người Việt máu
đỏ da vàng mà vẫn cứ mạt sát nhau, bỏ mặc cho đất nước đứng bên bờ vực
thẳm, có nguy cơ bị ngoại bang kiềm chế và đi đến chỗ diệt vong thì quả
chúng ta thua loài súc vật. Ác thú còn không ăn thịt đồng loại, chúng
ta lại nỡ nhục mạ nhau cho đến bao giờ? Trong chiến tranh, ĐCSViệt Nam
đã lừa bịp được nhân dân và quân đội miền Bắc với các chiêu bài đánh Mỹ
cứu nước, giải phóng miền Nam, độc lập dân tộc, nhưng ngay sau khi
thống trị trên toàn cõi đất nước, các mặt nạ ấy đã rơi xuống, lộ nguyên
hình ĐCS Việt Nam chỉ muốn giành quyền lãnh đạo độc tôn theo đường
hướng XHCN của CS quốc tế. Một cách chính xác là tự nguyện làm chư hầu
cho Liên Xô, Tàu cộng trong tham vọng CS hoá toàn cầu. Tiếc thay, cáí
thế giới hung tàn tôn thờ một chủ thuyết giả nhân giả nghĩa, chủ trương
lấy bạo lực làm nòng cốt đấu tranh giành quyền lực để cải tạo xã hội
tưởng như một sức mạnh vô song không gì cản trở nổi, bỗng một sớm một
chiều tự sụp đổ tan tành. Đảng CSViệt Nam có muốn lấy tay che mặt trời
thì sự thật, cố bưng bít cách mấy, vẫn là sư thật. Ngày nay, ĐCSViệt
Nam không còn chỗ dựa để che dấu cái ý đồ dùng mọi biện pháp, phương
tiện có trong tay để củng cố quyền hành, giữ vững quyền lãnh đạo độc
đảng để cướp đoạt các quyền căn bản như quyền làm người, quyền được
sống trong một xã hội nhân bản có tư do ngôn luận, tự do báo chí, tự do
tín ngưỡng, tự do cư trú, tự do đi lại trong nước, quyền làm một công
dân chân chính như được tự do ứng cử, bầu cử, tự do đề cử, bầu chọn
người đại diện cho mình trong chính quyền.
Trong những năm vừa qua, đám lãnh đạo CSViệt Nam lại mời gọi chính kẻ
thù cũ là chính quyền, tư bản Mỹ và đám doanh nhân nứơc ngoài vào, tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng tha hồ bóc lột tài nguyên, nhân vật lực
của nhân dân để cùng ăn chia lợi lộc đã làm nhân dân lao động uất ức
đến nỗi nông dân vượt hàng ngàn cây số về Hà Nội khiếu kiện đòi lại nhà
cửa đất đai bị cán bộ đảng ỷ thế ỷ quyền cướp đoạt, công nhân và dân
lao động nghèo ở các thành phố phải liên tục đình công khắp nơi dù bị
cấm đoán và đàn áp dã man.
Mười mấy năm qua, lúc nào đảng cũng tuyên bố diệt tham nhũng, nhưng
thực tế lại dung dưỡng,bao che cho bọn cán bộ từ nhỏ tới lớn tha hồ
tham ô nhũng loạn, hết sách nhiễu doạ nạt nhân dân lại quay qua sang
đoạt bòn rút tài nguyên quốc gia, những vụ tham ô móc ngoặc ở trong tất
cả mọi bộ sở ngành nghề mà báo chí trong nước lôi ra một phần ánh sáng
trong thời gian vừa qua lên đến hàng chục tỷ mỗi vụ chứng tỏ cái cơ chế
do đảng lãnh đạo đã đi đến tận cùng của sự tha hoá . Người dân trong
nước thật nhục nhã khi thấy ngay cả các tổ chức quốc tế, dù với sự tế
nhị ngoại giao, cũng không còn ngoảnh mặt làm ngơ, phải điều phái nhân
sự đến kiểm tra. Vậy mà ĐCSViệt Nam vẫn mặt trơ mày bóng, coi như không
có chuyện gì xảy ra, đại hội đảng vẫn cứ tổ chức rình rang, vẫn tuyên
bố thành công tốt đẹp. Tất cả những sự xảo trá lừa bịp của ĐCSViệt Nam
đồi với nhân dân Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua đã đến mức không
thể nào chịu đựng nổi.
Tôi lại lan man quá xa đề tài.Người lính ở bên chiến tuyến nào vẫn chỉ
nên là người lính thuần tuý. Điều này có nghĩa quân đội phải hoàn toàn
độc lập với mọi đảng phái, quân nhân không làm chính trị. Tuy vậy,
người lính không là một cỗ máy giết người. Ta có thể là địch thủ bắn
giết nhau trên chiến trận. Rời chiến trường, ta quay về với bản ngã con
người bình thường. Chiến đấu để làm tròn nghĩa vụ công dân và bảo vệ
những lý tưởng, giá trị (có thể đối chọi nhau) mà ta tin tưởng không
phải để thoả mãn lòng căm (hận) thù quân địch. Trở lại với hình ảnh
người lính Cộng Hoà năm xưa. Lịch sử đã đi qua, chúng ta không thể thay
đổi lịch sử., nhưng nhắc lại lịch sử để chúng ta cùng học hỏi và rút ra
kinh nghiệm của những bài học đắng cay ấy. Năm 1975, miền Nam Việt Nam
thất thủ nhưng không mất chính nghĩa . Không những thế, càng ngày, cái
chính nghĩa bảo vệ tư do,dân chủ, sự an bình và hạnh phúc của nhân dân
càng tỏ ra sáng ngời khi ĐCSViệt Nam mỗi ngày mỗi lộ nguyên hình sự sai
trái, tính chất cuồng bạo và sự tàn phá của nó lên đất nước và dân tộc.
Hơn ba mươi năm sau, bom đạn đã dứt nhưng cuộc chiến giữa người dân
Việt Nam và ĐCSViệt Nam chưa tàn. Cuộc chiến hôm nay không còn là vũ
khí đạn dược với máy bay, tàu chiến, xe tăng. Đây là cuộc chiến của kẻ
bị áp bức chống bạo cường, của sự thật chống gian trá, của chân lý
chống tham nhũng bất công, của cái thiện chống cái ác. Cuộc chiến sẽ là
sự đấu tranh bất bạo động, nhưng kiên quyết để đòi cho bằng được quyền
sống của con người. Đòi hỏi ĐCSViệt Nam phải trả lại tất cả những gì đã
cướp đơạt của nhân dân: từ những cướp đoạt chính quyền đến những cướp
đoạt công lao, tài sản, tài nguyên, đặc biệt các quyền tự do dân chủ đã
được xác định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Người lính Việt Nam
Cộng hoà, trong cương vị người dân Việt Nam, tự thấy mình vẫn có trách
nhiệm tham gia cào công cuộc chiến đấu đòi hỏi tự do dân chủ này.
Trước tình hình hiện tại, khắp nơi trên đất nước, đồng bào đủ thành
phần: trí thức, tôn giáo, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, thanh
niên sinh viên học sinh trong ngoài nước đang nổi dậy thành lập phong
trào, tổ chức đòi tự do dân chủ, người lính Việt Nam Cộng hoà luôn luôn
sát cánh tham gia hỗ trợ. Người lính Việt Nam Cộng hoà kêu gọi anh em
trong QĐND Việt Nam hãy trở về đúng với vị trí quân nhân của mình: chỉ
bảo vệ Tổ Quốc và Dân Tộc, không chiến đấu cho một cá nhân hay đảng
phái nào. Anh em QĐND Việt Nam hãy thức thời tách mình ra khỏi ĐCS Việt
Nam, không cho ĐCS Việt Nam hay bất cứ đảng phái nào được chi phối,chế
ngự để lũng đoạn. Hãy vì danh dự một quân nhân trả thẻ đảng, không nghe
lệnh đảng,không cho phép đảng điều hành cơ cấu quân đội, và không bao
giờ cầm súng bắn vào nhân dân. Được như vậy. ĐCS Việt Nam sẽ không còn
chỗ dựa để đàn áp, bóc lột nhân dân Việt Nam nữa. Được như vậy, người
lính Việt Nam Cộng hoà cũng sẽ nghiêng mình ngưỡng phục các anh, sẽ tôn
vinh các anh là những anh hùng như những anh hùng tử sĩ linh thiêng của
QLViệt Nam Cộng hoà đã hy sinh vì Tổ Quốc, vì lý tưởng bảo vệ tự do,
dân chủ hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Nên nhớ dù ở thời đại, chế độ
nào, người lính chỉ có nghĩa vụ duy nhất là phụng sự Tồ Quốc, phục vụ
dân tộc, không phục vụ tôn sùng bất cứ một lãnh tụ hay một tập đoàn nào
dù tài đức siêu việt cách mấy.
Đừng để cho cả thế giới khinh rẻ, toàn thể dân tộc oán hận, thế hệ mai
sau nguyền rủa một tập thể quân đội quay lưng bán đứng đất nước, chống
lại nhân dân, chỉ để cúc cung tận tuỵ bảo vệ một nhúm người lãnh đạo
bán nước hại dân đang tranh ăn giành quyền, đẩy quê hương Việt Nam đến
chỗ tàn vong hủy diệt.
Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
 |
Chiến sĩ QĐND Việt Nam còn chần chờ gì nữa? — Nguồn: armyrecognition.com
|
Người
lính Việt Nam Cộng hoà sau bao năm chịu nỗi hàm oan bị lăng mạ vùi dập
vẫn là bia đá, thân xác dù có hao mòn, trách nhiệm vì sự sống còn của
Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân sẽ còn mãi mãi.
Người lính QĐND Việt Nam có muốn cùng người lính Việt Nam Cộng hoà và
toàn thể nhân dân Việt Nam là bia đá bảo vệ và xây dựng đất nước hay
nhất quyết làm công cụ cho một cái đảng tồi tệ phá hoại đất nước, đàn
áp chính đồng bào mình, đang bước vài giai đoạn cuối cùng sự mục rữa để
bia miệng của muôn đời con cháu phỉ nhổ cười chê?
Đã có những Trần Độ, Phạm Quế Dương, Trần Dũng Tiến, Trần Anh Kim… đứng
lên đi về phía lẽ phải của nhân dân Việt Nam, vậy QĐND Việt Nam còn
chần chờ gì nữa?
Australia, 12/05/2006
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: