Đó là đề tài của buổi hội thảo do Trung Tâm Việt Nam (Vietnam Center)
thuộc Đại Học Texas Tech tổ chức tại thành phố Lubbock, Texas vào 2
ngày 17 và 18 tháng 3 vừa qua. Hơn 30 năm sau, vẫn còn biết bao thắc
mắc, bao bàn bạc về sự thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Đây
là lần đầu tiên tôi đến thành phố này, lần đầu tiên tham dự cuộc hội
thảo về chiến tranh Việt Nam do Vietnam Center tổ chức. Tôi đã nghe rất
nhiều về những buổi hội thảo trước đây do Trung Tâm này tổ chức, đã
muốn đến tham dự từ lâu nhưng mãi đến lần này mới thực hiện được ý định.
Niềm
nô nức đến Lubbock là được học hỏi những điều mới mẻ, được cất lên
tiếng nói của mình, và được gặp những người bạn mới Mỹ cũng như Việt.
Quầy rượu giữa sân khách sạn là nơi tôi đã gặp Phó Đô Đốc E. Tidds và
phu nhân cùng một số sĩ quan từng phục vụ tại Việt Nam. Tuy đã ngoài
bát tuần, Phó Đô Đốc Tidds vẫn còn rất minh mẫn. Ông đã kể cho tôi nghe
thời kỳ ông tham chiến tại Việt Nam dưới quyền Đô Đốc Zumwalt. Đa số
các vị này đã đến đây nhiều lần và có sự liên hệ thân mật với Vietnam
Center. Tuy nhiên, họ cũng có mặt lần này để làm nhân chứng cho tình
chiến hữu, tình đồng minh và tinh thần chiến đấu anh dũng của Quân Lực
Việ t Nam Công Hòa (QLVNCH).
Trong thành phần diễn giả Việt Nam,
người ta nhận thấy cựu Đại Tá Đỗ Kiểm, cựu Đại Tá Mai Viết Triết, nhà
văn Hải Triều, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Giáo sư Nguyễn Thế Tiến, Thủy
Quân Lục Chiến Trần Ngọc Toàn, Biệt Động Quân Vũ Hiếu, Người Nhái
Nguyễn Văn Kiệt và một số thuyết trình viên trẻ như Nguyễn Minh Triết
đến từ Canada, Hoàng Tuấn từ miền Đông Bắc Hoa Kỳ và Nguyễn Vinh của
Texas. Về phía Hoa Kỳ thì có Tiến Sĩ Lewis Sorley, tác giả của những
tác phẩm về chiến tranh Việt Nam vô cùng giá trị như A Better War,
Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes; Tiến Sĩ James Willbanks, Tiến Sĩ
Andrew Wiest, Tiến Sĩ Mark Moyar, Tiến Sĩ Larry Berman (tác giả của No
Peace, No Honor-Nixon, Kissinger and the betrayal in Vietnam), nhà văn
trẻ Jay Veith, cùng một số cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt
Nam mà chúng ta chưa được dịp làm quen như Bill Laurie, Steve Sherma,
Darrell Whitcomb. Diễn giả danh dự cho buổi dạ tiệc là cựu Trung Tướng
Lữ Lan.
Đi một ngày đàng, học một sàn khôn là châm ngôn ông bà
ta ngày xưa thường nói. Cho nên trong chuyến đi này, tôi cảm thấy đã
học hỏi được rất nhiếu, cả điều hay lẫn điều không hay. Cái hay đầu
tiên mà tôi nhận thấy là tình chiến hữu, tình đồng đội mà những người
cựu chiến binh Mỹ vẫn dành cho QLVNCH, rằng chúng ta vẫn còn những
người bạn tốt, can đảm, dám nói lên sự thật để bảo tồn uy tín cho một
quân lực đã bị thế giới cố tình dìm vào quên lãng. Riêng các cựu chiến
sĩ của QLVNCH thì tấm lòng đối với quân lực vẫn chẳng hề bị soi mòn sau
hơn 30 năm. Và như tất cả các cuộc hội họp, những cuộc hội thảo “hành
lang” là những cơ hội học hỏi thích thú nhất.
Hội thảo về QLVNCH
khai mạc ngày Thứ Sáu 17 tháng 3. Mở đầu là bài tham luận của Tiến Sĩ
Lewis Sorley. Trong phần nói chuyện dài 30 phút, TS Sorley đã đưa ra
những bằng chứng cụ thể để phản bác những dư luận sai lầm đầy ác ý từ
trước đến nay về QLVNCH. Ông cho rằng sự tham chiến của HK tại VN là
cần thiết, sự hy sinh là xứng đáng cũng như nhận định những sai lầm của
HK trong việc trang bị khí giới cho QLVNCH. Và đối với một người thuộc
thế hệ con cháu, đây là lần đầu tiên tôi được nghe xác nhận rằng trong
thời kỳ đầu của HK tại VN, họ đã đẩy QLVNCH sang một bên (shove to the
side) để dành quyền hành quân.
Chỉ sau khi VNCH được trang bị
với võ khí tối tân hơn sau Tết Mậu Thân và bắt đầu của Việt Nam Hóa
chiến tranh, QLVNCH mới làm chủ các trận địa. (Đó là lý do con số tử
vong của HK cao và tạo cơ hội cho dư luận sai lầm rằng VNCH đã không
chiến đấu?)
Nói về tinh thần chiến đấu, TS Sorley cho biết
trong Trung Tâm Văn Khố Quốc Gia của Hoa Kỳ (US National Archive) có
hằng ngàn văn bản ghi lại những huy chương của HK trao tặng cho quân
nhân của QLVNCH để ghi nhận chiến công của họ. Tiếc thay, chẳng ai buồn
nhắc đến. Nói về khuyết điểm, ông ghi nhận rằng QLVNCH đã có những
khiếm khuyết về chỉ huy và tham nhũng, nhưng không đáng kể để quy tội
đưa đến hệ quả sụp đổ miền Nam. Và bằng một giọng trầm buồn, ộng cho
rằng Hoa Kỳ mang mối nhục là đã bỏ rơi người bạn đồng minh của mình
trong những giờ phút đen tối nhất.
Quân đội Hoa Kỳ không bỏ
cuộc mà chính những chính trị gia hèn nhát trong quốc hội đã bỏ cuộc,
khiến cho HK mang tội phản bội với miền Nam Việt Nam. Không những ông
mà những diễn giả sau đó như Tiến Sĩ James Willbanks cũng đã xác định
tương tự.
Không chỉ Tiến Sĩ Lewis Sorley mà hầu hết những diễn
giả Hoa Kỳ sau đó đều bày tỏ lòng cảm phục cho người bạn đồng minh
QLVNCH và tỏ ý trách cứ chính phủ Hoa Kỳ đã có quyết định bỏ rơi quân
dân Miền Nam Việt Nam. Ông Bill Laurie đã thẳng thắng chỉ trích giới
truyền thông Hoa Kỳ là đã lừa dối ông cùng đồng đội của ông về những gì
xãy ra tại Việt Nam. Ông cho biết khi ông được biệt phái sang vùng 4
chiến thuật, những người chiến sĩ Mỹ ông gặp tại chiến trường đều hăng
hái vui vẻ chiến đấu. Theo lời ông, họ đã những có nụ cười lớn khi khoe
rằng họ đã “đá đít những tên việt cộng” (they were ears to ears
bragging “we whacked their butts”). Ông còn nói thêm, những gì ông học
được, ông đã học trong những quán cốc với những người bạn chiến binh
VNCH. Bất mãn trước những dư luận sai lầm đầy ác ý về cuộc chiến cũng
như người bạn đồng minh của mình, ông Bill Laurie đã cùng một vài cựu
chiến binh Mỹ thực hiện cuốn sách nhỏ mang tên White Wash/Black
Wash-Myths about the Vietnam War. Ông cho biết cuốn sách này thực hiện
bằng Anh ngữ dễ hiểu cho tuổi trẻ đọc để họ không bị lừa bởi những
tuyên truyền sai lạc.
Một trong những thuyết trình viên trẻ
trong chương trình hội thảo là anh Nguyễn Minh Triết, một ứng viên
trong chương trình Tiến Sĩ Sử học tại Đại học Ottawa, Canada. Phần
trình bày của anh gồm 3 lý luận, và một trong 3 lý luận đó là trong
cuộc chiến dành độc lập từ 1954-1963, đã có một cuộc nội chiến lồng
trong chiến tranh độc lập. Lập luận của anh dựa trên một số tài liệu
khảo cứu và trên một số cuộc phỏng vấn cá nhân. Không ít những gia đình
Việt Nam bị xâu xé vì đã có thân nhân tham chiến cả 2 bên, quốc gia và
cộng sản. Lập luận trên của anh đã làm bất bình một số cử tọa người
Việt, cho rằng chiến tranh VN là cuộc chiến ý thức hệ, không phải là
nội chiến. Theo người viết, cả 2 lập luận đều có lý. Cuộc chiến dài
trên 20 năm tại Việt Nam tuy là để chống lại chủ nghĩa cộng sản, một
chủ nghĩa ngoại lai, tuy nhiên đã do người Việt Nam gây đến cho người
Việt Nam. Chưa kể rằng gọi như thế (nội chiến) là để phân biệt với
những gì cộng sản thường rêu rao là chiến tranh chống Mỹ, nhằm bành
trướng một chủ nghĩa bạo lực đội lốt chính nghĩa. Nếu không gọi là nội
chiến, chúng ta có thể gọi cuộc chiến tương tàn Bắc tấn công Nam là
cuộc chiến gì? Một học giả Hoa Kỳ đã thắc mắc nếu lập luận của anh
NMTriết do một người da trắng đưa ra, liệu có bị cử tọa VN chống đối?
Một
thuyết trình viên trẻ khác là anh Hoàng Tuấn trình bày về cuộc nổi loạn
của thương phế binh vào những năm 1970-71 cũng đã làm cử tọa bất bình
vì đã đưa một hình ảnh tiêu cực về chiến sĩ VNCH. Tuy nhiên, theo anh
Hoàng Tuấn thì anh muốn nói lên cảm tưởng của những người thương phế
binh VNCH rằng khi bị tàn phế, họ đã không được đền bù xứng đáng. Anh
Hoàng Tuấn còn quá nhỏ khi chuyện thương phế binh cắm dùi xãy ra. Anh
không nhớ gì và dựa hoàn toàn sự nghiên cứu của anh qua tài liệu lưu
trữ tại ĐạI Học Cornell. Ngay tại Hoa Kỳ này, cựu chiến binh Mỹ còn
không được lo lắng chu toàn thì nói gì đến VN trong thời chiến.
Diễn
giả đặc biệt trong giờ cơm trưa ngày Thứ Sáu là Giáo Sư Nguyễn Ngọc
Bích, cựu giám đốc chương trình Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và hiện là
Chủ Tịch Hội Đồng Đỉều Hành của Nghị Hội Người Việt Toàn Quốc tại Hoa
Kỳ. Trong phần trình bày của ông, GS Bích đã bàn lại một số vấn đề như
tên gọi cuộc chiến, bằng chứng bạo lực mà cộng sản Hà Nội đã mang đến
cho miền Nam, so sánh vũ khí trang bị giữa thế giới cộng sản cho miền
Bắc và thế giới tự do tức Hoa Kỳ cho miền Nam, và bàn cờ chính trị quốc
tế vào thời điểm 1975. Theo GS Bích, cuộc chiến VN cần được gọi là
chiến tranh Đông Dương vì đã xãy ra trên lành thổ VN, Lào và Cam Bốt
như ông đã từng tranh luận với ông Douglas Pike, một sáng lập viên của
Vietnam Center. Nói về bào lực gây chiến, GS Bích đã dựa trên một bản
dự thảo báo cáo nộp lên cho tướng việt cộng Võ Nguyên Giáp cho thấy số
lượng quân lính bộ đội đã gởi vào Nam trong suốt cuộc chiến lên trên
một triệu người.
Người ta phải đặt dấu hỏi vào con số được Hà
Nội chính thức công bố vì nó ít hơn so với con số dự thảo. Phải chăng
cộng sản Hà Nội đã cố tình báo cáo con số nhỏ hơn để che đậy tổn phí
nhân mạng mà họ đã phí phạm để thôn tính miền Nam? Tuần báo Newsweek đã
từng gọi quân dân miền Nam là những con thỏ đế so với con hùm cộng sản.
Ấy vậy mà 300 ngàn con thỏ đế Nam Việt Nam đã tiêu diệt gần 1 triệu con
hùm cộng sản. Phần trình bày của GS Bích đã trả lời cho một nhận định
sai lầm rằng “quân dân miền Nam đã không tranh đấu cho tự do.”
Các
diễn gỉa Vũ Hiếu, Trần Ngọc Toàn cũng như Đỗ Kiểm/Trần Đỗ Cẩm đã nói về
Binh chủng Biệt Động Quân VN, Thủy Quân Lục Chiến VN trong trận Bình
Gỉa và cuộc hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với hải quân
Trung Cộng. TQLC Trần Ngọc Toàn đã phản đối việc chiến sĩ TQLC VN đã
phải hy sinh để cứu một TQLC Mỹ rồi lại bị Mỹ bỏ quên trong cuộc tải
thương sau đó. Ông cũng cho biết sự phối hợp giữa TQLC Mỹ và VN không
được thuận thảo. Cựu Đại Tá Đỗ Kiểm trong phần tường thuật cuộc hải
chiến đã nhận định rằng mệnh lệnh của cấp chỉ huy VN trong trận Trường
Sa đã không phù hợp với thực tế vì cấp chỉ huy trên đất liền đã không
nắm vững tình hình chiến trận.
Phần trình bày của Tiến Sĩ James
Willbanks nói về trận An Lộc mà chính ông đã tham chiến. Ông đã ca ngợi
tinh thần chiến đấu dũng cảm của QLVNCH, kiên trì dưới làn mưa pháo và
trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề suốt 2 tháng dài. Ông cũng nhận định
rằng đã có những sự việc tiêu cực xãy ra, tuy nhiên không đáng kể. Ông
cho biết năm 2005, ông đã trở lại thăm An Lộc. Cộng Sản Việt Nam đã xóa
hết mọi dấu tích của cuộc chiến tàn khốc năm nào, kể cã san bằng nghĩa
trang của lữ đoàn 81 biệt kích dù VNCH.
Người Nhái Việt Nam
Nguyễn Văn Kiệt đã làm say mê cử tọa khi anh tường thuật lại cuộc mạo
hiểm của anh cùng Tom Norris vào lòng đất địch để cứu một phi công Mỹ
bị bắn rơi tại vùng sông Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Khi anh kết thúc câu
chuyện, cử toạ đã đồng loạt đứng lên dành một tràn pháo tay dài cho
lòng dũng cảm của anh. Cựu chiến binh Hoa Kỳ Bill Laurie đã bày tỏ sự
bất bình của anh ta qua lời nhận định rằng người phi công được cứu
sống, Hambleton, khi viết câu chuyện thành sách và sau đó thành phim,
đã không nhắc đến người đã cứu mạng mình. Bill Laurie sau đó đã thố lộ
“tôi đã phải cố gắng lắm để dằn lời thô tục dành cho tên Hambleton.”
Trong
phần trình bày về sự bức tử của miền Nam và của QLVNCH, cựu Đại Tá Đỗ
Kiểm đã liệt kê những sự cắt giảm viện trợ về vũ khí và đạn dược cho
miền Nam của chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ trong suốt thời gian từ sau
Hiệp Định Paris, mặc nhiên phủ nhận mọi cam kết trước đó. Trong hoàn
cảnh thiếu thốn mọi bề, miền Nam đã không thể nào đối phó nổi với một
miền Bắc được thế giới cộng sản dành cho mọi viện trợ tối tân nhất.
Điều đáng nhắc đến là tại một buổi hội thảo về chiến tranh VN qua các
đời Tổng Thống Mỹ liên hệ tổ chức tại Boston một tuần trước đó, người
ta đã được nghe một cuộn băng thu thanh cuộc trao đổi giữa TT Nixon và
cố vấn an ninh Hoa Kỳ Kissinger. Trong đó, Nixon và Kissinger đã biết
trước chỉ trong tối đa hai năm sau ngày ký kết hiệp định, miền Nam sẽ
bị miền Bắc thôn tính. Kissinger trong một thông điệp gởi Thủ Tướng
Trung cộng Chu Ân Lai đã hứa rằng Mỹ sẽ không can thiệp vào miền Nam dù
trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cuộn băng thu thanh đã thu rõ chủ trương
của chính phủ Nixon ngày đó, quyết định bỏ rơi Việt Nam vì đã không còn
phù hợp trong chính sách toàn cầu của Mỹ.
Một diễn giả chưa từng
được sống dưới chế độ Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam nhưng ông đã lặn
lội đường xa từ Vancouver, Gia Nã Đại đến Lubbock để được cất tiếng nói
cảm ơn QLVNCH đã hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn
hóa của người Việt Nam cho đến năm 1975. Trong thời kỳ chinh chiến, GS
Nguyễn Thế Tiến dạy đại học tại Hà Nội. Tuy nhiên, vì không là đảng
viên, ông không được gọi là giáo sư. Ông cho biết nếu không có sự chiến
đấu can trường của QLVNCH thì đất nước Việt Nam đã bị dâng cho “đàn anh
Trung Quốc” từ lâu. Chính GS Tiến đã từng nghe cộng sản tuyên bố rằng
thà dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc còn hơn để cho ngụy. Đây là
bằng chứng của chủ trương triều cống, làm tay sai cho ngoại bang, sẵn
sàng bán nước, buôn dân của đảng cộng sản Việt Nam.
Đêm Dạ Tiệc
của chương trình hội thảo đã được tổ chức tại sân trong nhà của khách
sạn Holiday Inn. Diễn giả danh dự là cựu Trung Tướng Lữ Lan. Trong phần
trình bày của ông, TT Lữ Lan đã phân tích và so sánh 2 bộ máy chiến
tranh quốc gia và cộng sản, trình bày về thể loại chiến tranh mệnh danh
là chiến tranh trường kỳ và toàn diện và chiến thuật mà VNCH và Hoa Kỳ
đã dung để đối phó. Ông cũng đã chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân trong
việc phối hợp với các cố vấn Hoa Kỳ và những khó khăn gặp phải khi cần
thuyết phục họ thay đối chiến thuật. Và cuối cùng, ông đã nói đến nổi
xót xa của những ngưòi cựu chiến sĩ QLVNCH khi phải đối đầu với những
lời phê bình 30 năm sau là QLVNCH đã không chiến đấu cho tự do. Ông cho
biết đó là một sự xúc phạm nghiêm trọng không những cho người chiến sĩ
tị nạn mà luôn cả anh linh 300 ngàn tử sĩ.
Ngoài những diễn giả
kể trên còn có một số học giả Hoa Kỳ nói về thuyết chống du kích của
Ngài Robert Thompson. Ngài Robert Thompson đã thành công trong cuộc
chiến tranh chống du kích tại Mã Lai, đã chỉ trích chiến thuật chống du
kích áp dụng tại chiến trường VN, nhưng đã có lời khâ m phục tinh thần
chiến đấu của QLVNCH. Một bài bình luận khác đã nhận định về sự vô hình
của người chiến sĩ VNCH trong báo giới Hoa Kỳ. Hình ảnh của người chiến
sĩ VNCH luôn bị mô tả như một kẻ bất tài, vô tướng. Tiến Sĩ Phil Beider
kết luận rằng “Bất cứ một ai chiến đấu cho tự do cũng đáng được một sự
tôn kính.”
Tựu trung, cuộc hội thảo tái lượng định QLVNCH sau 30
năm do Vietnam Center tổ chức tại Lubbock đã có kết quả tương đối tốt
đẹp, đã ghi nhận lại tinh thần chiến đấu và gương hy sinh anh dũng của
QLVNCH. Sự thật đã được trả lại cho lịch sử. Những sai lầm về chỉ huy,
lãnh đạo nếu có, cũng không thể phủ nhận sự dũng cảm của người lính
VNCH. Điều đáng tiếc là đã không có một bài tham luận nào nói về cuộc
chiến chiếm lại Cố Đô Huế và cuộc thảm sát tại đó vào năm 1968, cũng
như đã không có bài tham luận nói về chính sách trả thù thâm độc và tàn
bạo của cộng sản VN qua cái gọi là “học tập cải tạo và kinh tế mới”.
Một điều đáng nói khác là cuôc hội thảo với sự tham dự của những học
giả, sử gia tên tuổi của Hoa Kỳ, vẫn không tạo được sư chú ý của giới
truyền thông Mỹ. Chỉ có tờ nhật báo và đài truyền hình ABC/CBS tại địa
phương ghi nhận. Chẳng bù với buổi hội thảo tại Boston tuần trước đó.
Điều đó cho thấy dư luận Hoa Kỳ sau 30 năm vẫn thiếu khách quan, thiếu
trung thực và thiếu công bằng cho miền Nam Việt Nam.
Trong phần
thảo luận về cái chết của QLVNCH, một câu hỏi đã được đặt ra về hiệp
định Paris và sự “đi đêm” giữa Mỹ và việt cộng. Hành động này đã cho
thấy sự thiếu tương kính giữa hai đồng minh Mỹ Việt và đã cho cộng sản
VN chính nghĩa “chiến đấu chống đế quốc Mỹ”. Trong lúc chủ tọa đoàn cố
gắng tìm lời giải thích thì Phó Đô Đốc E. Tidds đã lên máy vi âm để bày
tỏ lòng ân hận của ông về những gì đã xãy ra và “thay mặt cho quân lực
Hoa Kỳ, ngỏ lời xin lỗi đối với QLVNCH.” Đây, đối với người viết, là
giây phút đáng ghi nhớ. 30 năm đã qua, VNCH đã không còn, nhưng một lời
tương tự đã xoa dịu phần nào nỗi đau vong quốc của người Việt quốc gia.
Lữ Anh Thư
Virginia 03/06