Dân
trí là thước đo quan trọng để xác định trình độ phát triển của một quốc
gia. Dân trí bao gồm rất nhiều mặt như : tư tưởng, khoa học kỹ thuật,
luật pháp, văn học, nghệ thuật ... Nhưng quan trọng nhất và bao trùm
lên tất cả là ý thức của người dân về thân phận của mình. Khi mà người
dân chưa ý thức được về thân phận và vai trò của mình trong xã hội thì
không thể nói đến một xã hội phát triển cao được. Nói một cách khác,
trong tất cả các mặt khác nhau của khái niệm dân trí, mặt quyết định là
hiểu biết về chính trị hay sự "giác ngộ chính trị". Dân chủ là hình
thức cao nhất của sự giác ngộ chính trị. Chính vì vậy mà dân trí gắn
liền với dân chủ. Chế độ dân chủ làm tăng cường dân trí, có nghĩa là
tăng cường số lượng các nhà tư tưởng. Cuộc sống thực tế dù ở mức thấp
hay mức cao đều là sự chung sống giữa các luồng tư tưởng hay các nhà tư
tưởng. Các nhà tư tưởng ấy ít nhất cũng tự lý giải bản thân và tự lý
giải cuộc sống của họ. Một người nhận thức có hệ thống thì trở thành
một nhà tư tưởng, tối thiểu cũng là một nhà tư tưởng đối với những vấn
đề của chính bản thân họ. Một xã hội trong đó mọi người đều thông thái,
đều có khả năng lý giải các vấn đề của mình để tồn tại và phát triển,
chắc chắn xã hội đó sẽ phát triển với tốc độ lớn hơn. Vì vậy một chế độ
chính trị bắt buộc người ta tôn thờ một loại tư tưởng và hạn chế tính
đa dạng của tư tưởng trong phạm vi quốc gia là chế độ phản động về mặt
văn hóa, bởi vì nó hạn chế chính năng lực cạnh tranh của cả dân tộc.
Chính vì lý do đó dân chủ là cần thiết cho một xã hội và dân chủ sẽ
thắng thế.
Triết học là khoa học để tạo ra cho con người những
công cụ nhận thức thế giới, nhận thức chính bản thân con người. Tư
tưởng là một sản phẩm vô hình, là sản phẩm tinh thần. Vì thế, nếu con
người đối lập mình với người khác, và không phải đối lập bằng tư tưởng
mà lại bằng những công cụ vật chất, chẳng hạn để tổ chức các cuộc xung
đột, thì đây là một sai lầm to lớn. Cái đầu tiên mà con người cần phải
khắc phục để làm chủ được mình là sự đối lập về tư tưởng. Nhiều cuộc
chiến tranh đã không thể tránh khỏi do sự xúi giục của những khác biệt
về nhận thức hay khác biệt về hệ tư tưởng. Nhân danh sự đối lập về tư
tưởng mà người ta tổ chức những sự đối lập khác, về kinh tế chẳng hạn.
Chính con người đã vô tình làm mất danh dự của các sản phẩm tư tưởng.
Các sản phẩm tư tưởng, cũng như các nhà tư tưởng, vô tư hơn, trong sáng
hơn, và có lẽ cũng trong sạch hơn. Họ đóng góp cho nhân loại công cụ để
nhận thức để rồi nhân loại sử dụng nó để xung đột. Tôi không tin các
nhà tư tưởng (triết gia) muốn xung đột với nhau. Họ chỉ muốn bàn luận
hay tranh luận với nhau mà thôi. Chỉ có việc sử dụng tư tưởng với những
động cơ không trong sạch mới tạo ra sự xung đột. Cho nên sự xung đột về
tư tưởng là kết quả của sự vận dụng sai trái tư tưởng chứ không phải là
kết quả trực tiếp của các nhà tư tưởng.
Trình độ dân trí của
cá nhân và tập thể liên hệ chặt chẽ với nhau và quyết định sự phát
triển hay trì trệ của một xã hội, của một quốc gia ... Cá nhân muốn
nâng cao trình độ hiểu biết của mình phải học hỏi và thu thập những
kiến thức tư tưởng mới. Nếu một xã hội ngăn cấm, cản trở việc nâng cao
trình độ dân trí thì xã hội đó không phát triển được?
Nhìn vào
thực tế, có lẽ một trong vài thành công "vĩ đại" của các chế độ cộng
sản là tạo lập được một xã hội mà đại đa số thành viên đều sợ sệt như
"thỏ đế" và run như cầy sấy mỗi khi động đến chính trị "phản động",
theo nghĩa trái với chủ trương và chính sách của nhà nước. Mặc dù thời
đại với những phương pháp cai trị "ngu dân" đã qua. Ngày nay, chính
quyền cộng sản dù có muốn cũng không còn có cơ hội kìm hãm dân trí để
cai trị một cách dễ dàng nữa. Theo chân mở cửa, đổi mới kinh tế thị
trường, hội nhập với khu vực và thế giới... nỗi lo sợ này mất dần lý do
để tồn tại. Nhưng dù vậy, với hơn nửa thế kỷ sinh hoạt dưới sự cai trị
của chính quyền cộng sản, nỗi sợ sệt này vẫn hiện hữu không những cho
dân chúng trong nước mà còn cho một số đông người Việt hải ngoại nữa.
Giống như một căn bệnh ảo tưởng nhưng có thật .
Không biết đến
khi nào người Việt mới thoát khỏi được cái vòng lẩn quẩn do trình độ
dân trí thấp dẫn đến sự giác ngộ chính trị rất thấp. Kế đến, với sự sợ
sệt di căn (hệ quả của chính sách ngu dân), người dân thường lẫn tránh
việc bàn luận đụng chạm đến "chính trị" (đường lối chính sách ... của
chính quyền VN), dù cho họ có thể "biết" và "thấy" rõ ràng, những chính
sách và đường lối của chính phủ sẽ có tác động đến đời sống và sinh
hoạt hàng ngày của họ, ít hay nhiều, gián tiếp hay trực tiếp. Nói
chung, họ có thể biết (vì xảy ra trước mắt) là không có cá nhân nào
trong một quốc gia thoát khỏi vòng cương tỏa và ảnh hưởng bởi chính
sách, đường lối của nhà nước. Nói khác, chính trị rất quan trọng trong
sinh hoạt và đời sống thực tế hàng ngày của mọi cá nhân trong một xã
hội. Không tích cực tham gia trực tiếp để làm cho hệ thống chính trị
tốt hơn thì có thể hiểu được (vì nhiều người thiếu khả năng làm chính
trị). Nhưng lẫn tránh cả việc bàn luận để học hỏi và hiểu biết thêm về
những vấn đề liên quan đến sinh hoạt và đời sống của mình thì quả thật
là hơi khó hiểu. Có thể nói đây là một thái độ ứng xử rất nghịch lý của
đa số người Việt Nam hiện giờ. Đây có phải là hậu quả trực tiếp của hơn
nửa thế kỷ dân Việt sống dưới sự cai trị (ngu dân và vũ lực) của chính
quyền cộng sản???
Ai cũng biết, trao đổi quan điểm, bàn luận,
tranh luận ... là những phương tiện hữu hiệu để con người học hỏi, thu
thập kiến thức mới để nâng cao trình độ hiểu biết của cá nhân và tập
thể về mọi lĩnh vực. Không bàn đến việc chính quyền Việt Nam hiện giờ
ngăn cấm truyền bá, phổ biến những tư tưởng ngược lại với chính sách và
đường lối của nhà nước. Người Việt khi có cơ hội để tham gia bàn luận
thường dẫn đến "xung đột tư tưởng" do sự giác ngộ chính trị của nhiều
cá nhân tham gia rất thấp (kết quả của dân trí thấp) và sự thiếu khả
năng vận dụng tư tưởng một cách đúng đắn để bàn luận về một vấn đề
chính trị (thực ra nếu xét cho cùng, ít hay nhiều, việc gì trong đời
sống cũng liên quan đến chính trị cả - nhân sinh chính vi đại- ). Người
ta có thể thấy sự yếu kém về giác ngộ chính trị của dân Việt phản ánh
rất rõ ràng qua những bàn cãi chính trị trên NET. Dân Việt dùng cơ hội
bàn luận để không phải để trao đổi quan điểm, học hỏi thêm về suy nghĩ,
kiến thức, tư tưởng... của người khác để nâng cao hiểu biết của mình...
mà dùng cơ hội này chửi bới, thóa mạ... nhau ỏm tỏi. Một người quan tâm
đến trình độ dân trí của VN khó tránh khỏi đau lòng. Nếu câu nói này :
"Một người Việt siêng năng bằng 2 người Tàu, thông minh bằng 2 người
Nhật, nhưng 2 người Việt ngồi lại với nhau thì thua nửa người Tàu và
kém nửa người Nhật." là đúng, thì đáng buồn cho khả năng đoàn kết và
hợp tác của dân Việt Nam thiệt. Mà có lẽ đúng như vậy và theo thiển ý
của tôi thì đây cũng là sự kiện trùng hợp với ý muốn của đảng cộng sản
VN. Vì một trong những đường lối của cộng sản là chia nhỏ, tạo nghi
ngờ, kiểm soát lẫn nhau để giữ vững quyền lực của đảng và thống trị .
Một câu chuyện điển hình về tình đồng chí giữa Staline và Mao Trạch
Đông ngay từ những năm 20 đã là tình giữa hai băng mafia; khi André
Malraux hỏi thẳng Mao Trạch Đông: "Ông có biết Staline định giết ông
không ?", Mao đáp ngay: "Đích thị !". Về kinh nghiệm bản thân, sau năm
75 sống một thời gian dưới chế độ cộng sản, tôi đã trở thành đa nghi,
không tin tưởng mọi người chung quanh một cách dễ dàng nữa.
Tập
họp quây quần với nhau vẫn là một nhu cầu cần thiết của con người, nên
một số người Việt rủ nhau thành lập những diễn đàn không bàn luận đến
chính trị, thường được gọi là "phi chính trị". Ở đây, phi chính trị có
nghĩa là không bàn luận đến chính sách, đường lối... của nhà nước VN,
để tránh những tranh cãi dẫn đến việc mất hòa khí giữa các thành viên.
Vô tình hay hữu ý những diễn đàn này lại đúng với ý muốn của đảng cộng
sản nên được nhà nước VN cổ vũ và để yên cho hoạt động (tin tặc không
phá, không bị tường lửa cản...). Vì không phổ biến thì ít người biết,
không bàn luận thì ít người hiểu rõ ràng. Không biết, không hiểu thì sẽ
dẫn tới không lo lắng gì hết thì nói chi đến việc phê phán hay phản đối
chính phủ. Tóm lại, diễn đàn phi chính trị, cho dân chúng, cũng giống
như một liều thuốc phiện ru ngủ và vui vẻ sẽ làm người ta quên bớt đi
những nhọc nhằn khó khăn thực tế của đời sống. Về phía chính phủ cộng
sản VN, diễn đàn phi chính trị là một tặng phẩm lớn cho họ, tiếp tay ru
ngủ dân chúng và làm giảm thiểu những mầm mống gây bất an rắc rối ...
cho chính phủ.
Và như chúng ta biết, sự giác ngộ chính trị là
mặt quan trọng và quyết định nhất của khái niệm dân trí, dân chủ là
hình thức cao nhất của sự giác ngộ chính trị . Nói cách khác dân trí
gắn liền với dân chủ, và cản trở sự nâng cao dân trí đồng nghĩa với cản
trở tiến trình dân chủ. Những diễn đàn "phi chính trị" (vô tình hay hữu
ý) đã giúp chính quyền cộng sản ngăn cản tiến trình dân chủ. Nói ra hay
không (dám) nói, đa số dân Việt có lẽ đồng ý, dân chủ, là một chọn lựa
chính trị cần thiết và tốt nhất cho dân tộc và đất nước VN ở vào thời
điểm này.
Nhưng Việt Nam dường như luôn chọn lầm hướng đi. Lúc
cần canh tân, thì chọn bế quan tỏa cảng. Lúc thế giới hoà bình thì chọn
chiến tranh. Lúc cần xóa hận thù thì chọn đào sâu thêm hố ngăn cách.
Lúc hầu hết mọi nơi chọn dân chủ phát triển, thì lại chọn độc tài tham
nhũng. Thiệt đúng là trời đày dân Việt và bao giờ Việt Nam mới vượt qua
khỏi cái hành trình lẩn quẩn đầy bất hạnh và kém may mắn này?
Một
điều chắc chắn, tương lai VN ở trong tay các thế hệ trẻ. Nhưng các thế
hệ trẻ hiện giờ đều được nuôi dưỡng và lớn lên với lòng hận thù của các
thế hệ cha ông từ cả hai phía. Chỉ mong là họ có đủ kiến thức, lòng quả
cảm và niềm tin trong sáng để tìm một lối thoát ra khỏi cái vòng định
mệnh lẩn quẩn của dân tộc và chắp cánh cho VN hóa rồng.
Lý Lạc Long