Theo Đàn Chim Việt - Phạm Văn Bản - 05-07-2006
Chế độ cộng sản Việt Nam (CSVN) sinh quái thai dân chủ bằng cách ngụy
tạo ra những đảng đối lập bù nhìn, hay liên minh chính trị bình phông
che đạy âm mưu của đảng độc quyền thực hiện chính sách “ngu dân hóa.”
Ðảng CSVN đề ra cơ cấu tập trung dân chủ, dân chủ nhân dân… tức là một
hệ thống tổ chức “dân chủ không tự do” (non-liberal democracy), một
chiều. Thông thường, nội bộ của đảng chính trị có hai cánh tả hữu – đối
lập và xây dựng. Thành viên bất đồng ý kiến với cánh này, thì nhập cánh
khác mà sinh hoạt nên không có chuyện bỏ đảng vì thiếu lối thoát.
Ðảng đối lập đóng vai trò ngăn cản sự qúa đà hay chuyên quyền của đảng
cầm quyền, đại biểu cho những ý kiến khác biệt và là động cơ thúc đẩy
phe cầm quyền cố gắng sửa sai. Tuy nhiên trong thực tế, phe đối lập
cũng luôn tìm cách chỉ trích phe cầm quyền để mong kiếm phiếu. Nhưng
trái lại, đảng đối lập mà không có thực lực chính trị tương xứng với
đảng cầm quyền, thì giấc mơ như trong cương lĩnh: “xây dựng một Việt
Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn
người bóc lột người…” của đảng CSVN, chỉ là nhãn hiệu bột ngọt gắn trên
chai độc dược.
I. Ðảng chính trị
Nhận xét về đảng chính trị, triết gia Hoa Kỳ John Dewey (1859-1952) nói
rằng, “Mỗi cá nhân chỉ tìm thấy được sự an toàn và được bảo vệ, mà đây
là tiền đề cho sự tự do, khi họ tập họp lại với nhau. Và rồi những tập
hợp này, để bảo toàn sự hữu hiệu của chúng, giới hạn trở lại tự do của
các cá nhân trong đó… Bây giờ, chúng ta có một hình thức tổ chức giáp
xác với những cá thể yếu đuối bên trong và chiếc vỏ cứng bên ngoài.” Và
ông định nghĩa rằng, “Một đảng chính trị tân thời là tập hợp của những
người có triết lý, lý tưởng, mục tiêu, hay ý nguyện tương đồng.”
Có người lại cho rằng đảng chính trị thì cũng giống như bao đoàn thể âm
nhạc, hay hiệp hội thể thao… Tuy nhiên chính đảng mang tham vọng lớn
hơn, đó là tham vọng lập chính quyền hay giành lấy chính quyền. Chỉ khi
nào có chính quyền và cầm quyền, thì đảng chính trị mới thực hiện được
mục tiêu, lý tưởng của mình, hay ít nhất cố gắng giành được càng nhiều
ghế trong chính quyền thì càng tốt. Và căn cứ theo kết qủa tùy thuộc
tham vọng của chính đảng đạt được mà chúng ta định nghĩa đảng đó theo
như cơ cấu, danh xưng, hay chủ trương, lý thuyết.
Trong một chính đảng, cho dù có cùng mục tiêu, lý tưởng, quyền lợi…
nhưng khuynh hướng đảng viên cũng có những khác biệt. Từ dị biệt này,
đảng đã phân chia thành nhiều cánh, đi từ cực tả đến cực hữu: cánh cực
tả (radical), cánh trung tả (liberal), cánh trung hữu (conservative),
cánh cực hữu (reactionary). Giữa các tả hữu lại còn có nhiều khuynh
hướng ít cực đoan hơn như trung lập, trung tả…
1. Cánh Cực Tả
- Muốn có những thay đổi cực đoan,
- Có khuynh hướng xử dụng bạo lực và phương thức bất hợp pháp để đạt được mục đích,
- Luôn luôn chống đối theo cách phê bình khắc nghiệt đối với trật tự xã hội đương thời,
- Và không bị ràng buộc bởi truyền thống nào.
2. Cánh Trung Tả
- Ủng hộ những thay đổi lớn nếu thay đổi này được thực hiện bằng phương thức hợp pháp,
- Muốn có đổi mới hơn là cứ giữ nguyên sự việc đang diễn biến,
- Có khuynh hướng đi tìm sự tự do một cách tối đa,
- Chấp nhận có mức độ xáo trộn trật tự xã hội để đổi lấy sự tự do cá nhân,
- Nhấn mạnh đến sự xứng đáng làm người,
- Thành viên trong cánh trung tả thường lạc quan và tin tưởng vào bản chất tự nhiên của con người.
3. Cánh Trung Hữu
- Ủng hộ những thay đổi vừa phải, chậm từ từ,
- Quan tâm đến sự bảo toàn trật tự căn bản trong xã hội,
- Cho tới những thay đổi chỉ nên có tính cách hoán đổi, chớ không hủy bỏ hoàn toàn cái cũ,
- Rất yêu nước, tuân hành mệnh lệnh của thượng cấp, chấp hành trật tự và luật pháp,
- Nhìn nhận con người là chưa hoàn hảo và cần sự giám thị.
4. Cánh Cực Hữu
- Những thành viên thuộc cánh cực hữu thuờng chống đối những thay đổi chính sách xã hội một cách cực doan mù quáng,
- Bảo vệ những địa vị xã hội,
- Và họ sẵn sàng dùng phương thức bất hợp pháp để đạt mục tiêu.
II. Hoạt Ðộng Chính Ðảng
Ở nước dân chủ tiên tiến thì các đảng chính trị đấu tranh trong công
cuộc tranh cử, bầu cử để có chính quyền và giữ chính quyền. Những quốc
gia như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc Ðại Lợi – các đảng chính trị tổ chức và
sinh hoạt theo ba cấp từ cấp quốc gia, cấp tiểu bang hay tỉnh, và cấp
địa phương (quận). Song hành với tổ chức hành chính quốc gia, đảng
chính trị cũng có tổ chức và sinh hoạt ở “khu vực bầu cử.”
Ðảng chính trị là nhu cầu quan trọng và cần thiết cho chính thể dân
chủ. Trong thể chế chính trị Tân Dân Chủ đảng chính trị là Ðại Biểu Dân
Chủ, công dân chọn người đại diện cho mình từ đảng chính trị vào chính
quyền để “làm luật” và “thực thi” luật. Và công dân chọn người đại diện
cho mình từ đảng chính trị vào các ghế trong chính quyền để tranh luận,
mổ xẻ các vấn đề của quốc gia một cách công khai, ích quốc lợi dân.
Ở nước dân chủ, đảng chính trị hoạt động với những công tác định sẵn như sau:
- Chọn ứng cử viên vào điều hành văn phòng công quyền,
- Phụ giúp tổ chức guồng máy chính quyền,
- Làm đối lập với đảng cầm quyền.
- Gây qũy để vận động tranh cử cho những cuộc bầu cử sắp tới.
- Và đảng chính trị thông báo đến cử tri về những chương trình hoạt động hay những khó khăn mà chính phủ gặp phải.
III. Ðảng chính trị Việt
Nhìn lại đảng phái chính trị của người Việt Nam phải thừa nhận rằng dân
tộc ta chưa có một đảng chính trị đúng nghĩa để “sinh hoạt tự do dân
chủ.” Trước hết vì thiếu triết lý dân tộc, thiếu nguyên lý tổng hợp,
thiếu tôn chỉ hay hệ thống tư tưởng chỉ đạo một cách “sống động hiện
thực”… Hơn nữa, tôn chỉ hay chủ thuyết lại cần phải giải thích rộng
rãi… cho nên đã tự gò bó, mâu thuẫn quyền lợi, kình chống lẫn nhau
trong nội bộ đảng. Và chính đảng không theo kịp trào lưu tiến hóa chung
của nhân loại; đảng CSVN là một ví dụ điển hình.
Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì đảng đó không
nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ thuyết nào, mà cần ứng
dụng bằng những chính sách chính trị thực tế, và tránh nạn giáo điều.
Muốn được như thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống
tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng
đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có cơ may thành công.
Chúng ta biết rằng, trong thể chế chính trị Tự Do Dân Chủ phải có hai
đơn vị bình đẳng trong một cơ cấu sinh hoạt, cầm quyền và đối lập. Từ
đó, chúng ta có quyền chọn lựa những ứng cử viên đại diện cho mình vào
chính quyền để hoạt động xây dựng, kiến thiết quốc gia. Và những ai
muốn “gánh vác sơn hà,” thì họ mới có cơ hội để tự do thực hiện những
điều kiện như sau:
1. Chọn đảng chính trị để gia nhập,
2. Chọn đơn vị địa phương thích hợp để cho mình sinh hoạt,
3. Ðệ đơn xin ứng cử,
4. Tiến thân trong đảng và tiến lên trong những đơn vị bầu cử từ địa phương tới những cấp lớn hơn, hay trung ương,
5. Ðắc cử thành lãnh tụ khối dân cử của đảng,
6. Và vận động tranh cử để đảng có đa số phiếu trong quốc hội, rồi từ đó mà có chính quyền và giữ chính quyền.
Ðộng lực thúc đẩy các người thanh niên của chúng ta hăng hái gia nhập
đảng chính trị là do khả năng. Vì khi thanh niên có khả năng chính trị
thì họ mới chu toàn được nhiệm vụ, và khi có nhiệm vụ thì ắt sinh ra
quyền lợi. Quyền lợi chính trị lại là phương tiện để giúp người thanh
niên chúng ta thực hiện lý tưởng, hoài bão giúp dân cứu nước mà mình
hằng tâm mưu cầu. Phải có phương pháp tổ chức thực tiễn theo đà phát
triển của xã hội như phân công phân nhiệm… thì đảng chính trị mới gặt
hái được thành qủa và xã hội mới tránh được nạn công thần.
Bằng ngược lại, đảng độc tài trong các nước chậm tiến thì thường đặt
tình cảm làm động lực thúc đẩy cho tổ chức… rồi mới xét tính đến quyền
lợi, lý tưởng, và khả năng của thành viên. Và bởi thế, quyền lực thường
bị rơi vào trong tay của những kẻ bất tài vô đức, mà mặc tình thao túng
chính trị… làm băng hoại xã hội, đưa dân nước lâm cảnh nghèo đói bần
cùng.
Ngày nay, dân tộc ta muốn tồn tại, muốn sống còn thì chính sách dựng
đảng là điều kiện tiên quyết. Vì chỉ có đảng chính trị mới là cơ cấu tổ
chức chặt chẽ trong công cuộc dựng nước, dựng người. Ðảng chính trị
phải có đủ quyền lực đối lập, tức là phải là tổ chức của dân và do dân.
Ðảng phải có cán bộ nòng cốt hoạt động trong dân, tổ chức dân và lãnh
đạo dân; bằng không thì chỉ là “đảng cuội,” và hao tiền tốn của bằng
việc làm vô tích sự.
Đảng chính trị cũng không thể bỗng nhiên mà có, và lại càng không thể
có do ngoại nhân tạo ra mà thành. Nói khác đi đảng chính trị chỉ có khi
có những người cưu mang tâm huyết của Tổ Tiên Việt để thực thi đại cuộc
Cách Mạng Tiên Rồng.
Đảng chính trị đặt căn cứ trên nền tảng triết thuyết dân tộc. Từ cơ sở
tư tưởng đó, chúng ta phát huy và xác định phương hướng, mục đích, mục
tiêu, và nhiệm vụ hoạt động trong từng thời kỳ bao gồm từ việc tổ chức
kín, tổ chức bán công khai, hoặc tổ chức công khai. Về mặt công tác
hoạt động, đảng chính trị phân công phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng
cho từng thành viên, sao cho công tác vừa song hành với chương trình
hợp đồng đồng bộ của tổ chức, và lại vừa phù hợp với khả năng nhiệm vụ
của mỗi người.
Đảng chính trị không phải là tổng hợp tài năng cá nhân, mà là một tập
thể sinh hoạt có tổ chức, có hệ thống, có nguyên tắc, có quy luật phát
triển riêng của hệ tư tưởng chỉ đạo và định hướng – Hệ Tiên Rồng. Sức
mạnh của đảng không phải cấp số cộng mà là cấp số nhân. Tình cảm tập
thể cũng là cấp số nhân. Sức mạnh cũng như tình cảm tập thể thường đưa
những người cán bộ đảng viên hoạt động trở nên danh tiếng. Giải quyết
đúng đắn hệ thống tổ chức, tức là chúng ta giải quyết vấn đề cán bộ.
Xin nhớ rằng, đảng chỉ vững mạnh nếu có lãnh đạo thừa kế.
Tóm lại, đảng chính trị phải tùy thuộc thực tế hiện hữu mà tổ chức sao cho linh động, biến hóa toàn vẹn và hữu hiệu.
IV. Quan niệm tổ chức
1. Theo quan niệm tổ chức của phương Ðông thì chúng ta thường dựa trên
nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải
làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế
mới có những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa Quân… Tất
cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung,
việc nước phải làm, với Quê Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa
với nhau.
Vì vậy mục đích của việc kết tụ là “đền ơn trả nghĩa,” hoặc làm ơn làm
nghĩa… Với hình thức tổ chức của Ðông phương như thế thì thích hợp với
Tình Người, nhưng nặng phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác!
Cho nên chúng ta không khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện
thành công khách quan. Ðây chính là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã
thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng.
2. Ngược lại, theo quan niệm Tây phương nền tảng tổ chức là “hợp tác,”
cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu
hiệu,” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt. Rồi tiếp đến mục
đích của tổ chức là “hưởng lợi,” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều
thì càng tốt.
Do chủ trương “hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng lợi” đã phát sinh ra
hình thức tổ chức mà ngày nay họ mệnh danh là “Dân Chủ.” Hình thức này
dựa trên nguyên tắc “đa số thắng thiểu số,” và trên phương thức “bầu cử
với nhiệm kỳ.”
Hình thức tổ chức này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng
để phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào “lợi” nên hình thức tổ chức
chỉ thích ứng trong phương diện “có lợi” mà thôi.
Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành công.
Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì
“mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý”… cho nên thường trở
thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm
người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô… như hành động tồi bại của
đảng CSVN đương thời.
Lynnwood, USA 7/2006
(Còn tiếp)
Copyright © 2006 by DCVOnline