Đảng cộng sản không thể đổi mới
Theo Thông Luận - Nguyễn Gia Kiểng - 05-03-2006
Theo các khảo cứu và thực nghiệm của khoa tâm lý xã hội thì những quyết
định quan trọng thường hay hơn khi do một ủy ban hay một tập thể. Hai
lý do quan trọng là, một mặt, trước những chọn lựa quyết định tương lai
và sự sống còn của tập thể, mọi người đều bị ràng buộc trong cùng một
số phận, điều tốt cho tập thể cũng là điều tốt cho mỗi người và, mặt
khác, kinh nghiệm cho thấy con người trở thành bạo dạn hơn trong một
quyết định động đội.
Điều ngược lại đang xảy ra với Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nếu ta gặp riêng
từng người cộng sản và nói chuyện một cách cởi mở với họ thì tất cả,
không trừ một ngoại lệ nào, đều đồng ý rằng phải dân chủ hóa nhanh
chóng, phải từ giã chủ nghĩa Mác-Lênin đã quá lỗi thời, phải hội nhập
với thế giới. Họ nghĩ đúng, như đại đa số người Việt Nam. Cá nhân mỗi
người cộng sản cũng không xấu hơn mức trung bình quốc gia của chúng ta.
Thế nhưng khi ngồi lại với nhau thì họ chỉ lấy những quyết định chống
dân chủ, lại kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cần nhận xét là từ nhiều năm qua đảng cộng sản không những không
cởi mở thêm mà trái lại còn thủ cựu và phản động hơn trước. Một thí dụ
là hai mươi năm trước đây người ta còn nói đến phân biệt đảng và nhà
nước, bây giờ vấn đề này không còn được đề cập đến nữa. Cựu tổng bí thư
Lê Khả Phiêu có lần còn nói đến việc bổ nhiệm những bộ trưởng không
phải là đảng viên cộng sản và còn tiếp xúc với những người dân chủ. Bây
giờ chỉ còn có công an đến gặp những người dân chủ để đe dọa. Nếu xã
hội Việt Nam tiếp tục cởi trói như thực tế cho thấy, thì cũng chỉ vì áp
lực của xã hội dân sự Việt Nam và dư luận thế giới đã buộc đảng cộng
sản phải nhượng bộ một cách lúng túng và miễn cưỡng. Đảng bảo thủ và
nhút nhát hơn mỗi đảng viên một cách quá đáng.
Điều này trước hết phải được hiểu là đảng cộng sản không còn là
một tổ chức đúng nghĩa nữa, sự sống còn của đảng không còn đồng nghĩa
với tương lai của mọi người, điều tốt nhất cho mỗi người là thận trọng
thủ thân dù đảng có tiếp tục sa lầy trong bế tắc. Tuy vậy, ù lì đến như
vậy thì cũng phải có một lý do khác : đảng cộng sản không còn đổi mới
được nữa.
*
Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu
ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng.
Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa
thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của
chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi
bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc. Sự
thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn
nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong
một cuộc chiến 15 năm cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách
gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia
một cách bình thường. Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi
một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở
mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã
được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ
là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con
người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được. Những người cộng sản
rất thực tiễn, họ không có cái lãng mạn tiểu tư sản. Kịch bản của một
chủ nghĩa độc hại bao giờ cũng giống nhau : kẻ đi trước có thể đã cuồng
tín vì mù quáng, nhưng người đi sau chỉ ngoan cố vì quyền lợi.
Kết quả là cả chế độ đặt nền tảng trên một sự hung bạo gian trá,
càng phải hung bạo khi sự gian trá càng rõ rệt. Chế độ cộng sản đã mất
đi sự chính đáng mà mọi chế độ đều phải có. Sự chính đáng của đảng cộng
sản dựa trên ba huyền thoại : sự ưu việt của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhân
vật xuất chúng Hồ Chí Minh và những hy sinh dũng cảm trong cuộc chiến
đấu giành độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin đã
phơi bày sự tồi kém của nó, huyền thoại Hồ Chí Minh ngày càng trở thành
lố bịch. Chỉ còn lại thành tích chiến đấu và chiến thắng, nhưng chính
thành tích này cũng đã mất hết ý nghĩa. Vả lại, ngay cả nếu nó có là
một thành tích đem lại cho đảng cộng sản một sự chính đáng nào đó thì
nó cũng đã thuộc vào quá khứ và không còn sử dụng được nữa. Thành quả
nào cũng chỉ có thể đem lại cho người cầm quyền một sự chính đáng nhất
thời để xây dựng những thành quả khác và đổi mới sự chính đáng. Các
thành quả không thể chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những
người sẽ vào trung ương đảng năm 2006 ở lứa tuổi trung bình 50, năm
1975 họ chưa đủ 20 tuổi và không có đóng góp nào trong chiến tranh ;
thành quả thực sự của họ chỉ là đày đọa dân tộc trong hơn 30 năm, khiến
đất nước ngày càng tụt hậu về mọi mặt, để mất đất và biển và tạo ra
tham nhũng ở mức độ chưa từng thấy. Đối với dân chúng, họ là đối tượng
của sự thù ghét, bất tín và bất phục. Chính sách thực sự của đảng là
kéo dài sự tồn tại bằng cách ngăn chặn mọi thay đổi.
Không phải là đảng cộng sản không thấy sự cần thiết của dân chủ,
cũng không phải là họ không tin rằng xu hướng dân chủ hóa không thể đảo
ngược được. Họ thấy từ lâu rồi nhưng họ không dám thay đổi, bởi vì họ
thừa biết sẽ bị thảm bại trong các cuộc bầu cử dân chủ. Với thời gian,
mâu thuẫn và khó khăn tích lũy, từ chỗ không dám và không muốn thay đổi
họ đã đi đến tình trạng không thể thay đổi.
Nhưng khi một đảng cầm quyền tồn tại bằng cách chống lại những
thay đổi bắt buộc thì vô số bệnh tật sẽ phát sinh ngay trong cơ thể của
nó. Một trong những bệnh tật này là sự xuống cấp nhanh chóng của nhân
sự lãnh đạo. Khi lập trường nền tảng là chống thay đổi, thì những kẻ ít
ý kiến nhất trở thành những người đáng tin cậy nhất, và bộ máy sàng lọc
chỉ để lại những cấp lãnh đạo không cá tính và bản lãnh. Ba vị lãnh đạo
cao nhất của chế độ, các ông Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải và Trần Đức
Lương là những thí dụ điển hình. Họ đã nâng phương châm "ngậm miệng ăn
trùm" lên hàng một nghệ thuật. Cả ba đều là những người rất tầm thường,
ngay cả so với những người cùng thế hệ và cùng đội ngũ với họ. Họ không
có tài năng hay đạo đức đặc biệt nào, họ đã chỉ lên được những địa vị
quyền lực cao nhất nhờ khôn vặt, nhờ được cảm tình của những người có
quyền cất nhắc, Lê Đức Thọ rồi Lê Đức Anh, không gây ra một vấn đề nhức
nhối nào và không là một đe dọa cho ai. Họ là điển hình cho những cấp
lãnh đạo cộng sản hiện nay và sắp tới. Có thể nói mà không sợ sai lầm
rằng phương pháp đánh giá đúng nhất đối với những cấp lãnh đạo cộng sản
là nhìn vào chức vụ của họ, chức vụ càng cao càng chứng tỏ họ thiếu
nhân cách và bản lãnh. Những cấp lãnh đạo này có uy tín nào để lấy
những quyết định thay đổi quan trọng, ngay cả nếu họ thấy là cần ?
Một chế độ không chính đáng, không lý tưởng và thiếu lãnh đạo tất
nhiên sẽ suy yếu và phân hóa ngay cả khi không bị chống đối. Điều mà
nhiều người không ý thức được là trên thực tế đảng cộng sản chỉ còn là
một hư cấu. Trong một xã hội mà cái gì cũng mua được, kẻ có tiền là kẻ
có quyền . Thực quyền hiện nay không còn nằm trong tay những người lãnh
đạo đảng cộng sản nữa. Nó ở trong tay một giai cấp quí tộc mới, những
người mà ngôn ngữ dân gian gọi là tư sản đỏ, nhưng thực ra phải gọi là
tư sản đen, tư sản lưu manh. Đảng và nhà nước cộng sản chỉ là những cơ
quan chấp hành của giai cấp thống trị này.
Nhà nước Việt Nam cũng chỉ còn là một hư cấu. Đảng cộng sản, quân
đội, công an đều có công ty riêng và tài chính độc lập. Quân đội có
công an của quân đội và công an có lực lượng chiến đấu của công an,
đảng có cơ cấu riêng trong quân đội và công an. Trên thực tế, đây là
những nhà nước trong nhà nước, với những quyền lợi và mục tiêu mâu
thuẫn. Chưa kể là với sự mờ nhạt của lãnh đạo trung ương, mỗi địa
phương gần như là một sứ quân. Cũng chưa kể là hiện nay người dân nộp
tiền cho tham nhũng nhiều hơn là đóng thuế cho nhà nước và sợ các băng
đảng xã hội đen hơn là công an chính thức. Vấn đề cấp bách hiện nay là
phải có trước hết một nhà nước thực sự, để ít nhất còn biết đối thoại
với ai.
Đừng thấy đảng cộng sản bắt bớ và bỏ tù những người dân chủ mà
nghĩ rằng nó còn mạnh. Đàn áp những người lương thiện tay không là điều
mà chế độ nào, dù bất lực đến đâu cũng làm được. Ngày xưa Hồ Quý Ly lập
chế độ hộ khẩu, khống chế chặt chẽ dân chúng trong nước và đám cựu thần
của nhà Trần nhưng đã thất bại nhanh chóng trước đạo quân xâm lược của
Trương Phụ. Cả vua quan bị bắt trói bởi một toán quân Minh chỉ có bảy
người. Các chế độ họ Trịnh ở ngoài Bắc và họ Nguyễn ở trong Nam rất
hung bạo với dân chúng nhưng đã bị đánh gục nhanh chóng bởi đảng Tây
Sơn. Các chế độ bất lực và ruỗng nát đàn áp được những người dân bình
thường nhưng không đương đầu được với các biến cố. Chúng có thể sụp đổ
một cách đột ngột và bất ngờ. Chúng tồn tại một cách giả tạo, như là
một thăng bằng tạm bợ của nhiều lực mâu thuẫn và chỉ có thể tiếp tục
tồn tại nếu không có gì thay đổi. Đó là tình trạng của cả đảng lẫn nhà
nước cộng sản Việt Nam.
Đảng cầm quyền này và nhà nước này không còn làm được gì cả. Nó
không thể đổi mới. Đã có rất nhiều đóng góp cho đại hội 10 sắp tới của
Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, những đóng góp
này có giá trị ở chỗ chúng nói lên khát vọng một nhà nước dân chủ và
lương thiện. Nhưng không nên hy vọng gì ở các cấp lãnh đạo cộng sản
hiện nay. Họ bất lực. Đảng cộng sản đã quá phân hóa và suy yếu để có
thể thay đổi. Nó không còn thực quyền !
*
Nếu đảng cộng sản không thể thay đổi thì cái gì sẽ xảy ra và tương lai đất nước sẽ như thế nào ?
Lập
luận thông thường là đảng cộng sản vẫn trụ được do cấu kết quyền lợi.
Lập luận này sai. Quyền lợi không bao giờ đoàn kết được những con người
trong một ý chí chung, ngay cả nếu ý chí chung đó chỉ giản dị là tiếp
tục tồn tại. Nếu như thế thì bọn cướp bóc đã nắm được chính quyền ở mọi
quốc gia. Một chế độ chỉ tồn tại được nếu có lý do tồn tại, nghĩa là
đáp ứng một nhu cầu cơ bản nào đó của xã hội. Hai nhu cầu cơ bản nhất
của Việt Nam hiện nay là : 1/dân chủ và tự do để được sống như những
con người, và 2/thành công trong cuộc cách mạng tri thức đang diễn ra
sôi nổi trên thế giới và sẽ quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của mọi
dân tộc. Trên cả hai vấn đề trọng đại này đảng cộng sản không những
không có giải đáp mà còn là trở ngại.
Trong vở kịch bất hủ "Con Tin" (Otage) của ông, Paul Claudel đã
cho nhân vật Turelure giải thích cuộc Cách Mạng Pháp 1789 như sau :
"Cũng lỗi tại những thứ này không vững chắc làm người ta quá bị cám dỗ
để lay chuyển chúng xem sao". Những gì không vững chắc và không có thực
chất sẽ bị nhận ra và xô đẩy.
Hiện đã có khá nhiều người đối lập dân chủ. Họ càng ngày càng đông
và càng có phối hợp, dù chưa phải là một lực lượng mạnh. Họ sắp được sự
tiếp viện của một loại người mới, những cán bộ và đảng viên cộng sản
trẻ nhìn thấy thay đổi là bắt buộc và muốn chủ động trong cuộc thay đổi
đó để làm tác nhân thay vì nạn nhân của lịch sử. Họ cũng sẽ được hậu
thuẫn từ hai thành phần quan trọng của xã hội Việt Nam : những công
nhân mà cuộc sống ngày càng khó khăn và bế tắc, và những sinh viên, học
sinh không nhìn thấy một tương lai nào cho mình trong chế độ này. Thay
đổi sẽ bằng cách này hay cách khác. Vấn đề chỉ là đừng để chế độ này
sụp đổ nhường chỗ cho một khoảng trống chính trị và một tình trạng vô
chính phủ.
Chính qua đấu tranh giành thắng lợi cho dân chủ mà một đồng thuận
về một dự án chính trị cho đất nước sẽ được đạt tới và những con người
cần thiết để thực hiện nó sẽ được phát hiện.
Nguyễn Gia Kiểng
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: