Đảng đi về đâu?

Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Quốc Nam - 10-03-2006

Gần đây, trong không khí “xôi động” chuẩn bị đại hội X của đảng cộng sản Việt Nam, ngòai các bài viết đóng góp ý kiến cho bản dự thảo báo cáo chính trị đọc được trên các mạng điện tử tại hải ngọai, tôi cũng lò dò vào một vài trang báo trong nước để xem cái không khí nó như thế nào. Tôi có đọc một số bài và kể cả vào báo Nhân Dân đọc nguyên văn bản “Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội X của Đảng”. Hầu hết các bài viết có tính xuôi chiều theo ý đảng và vẫn thường thấy các cụm từ lập đi lâp lại như “dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng”, “đường lối đổi mới của đảng là đúng đắn, sáng tạo”, “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin”, “đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”,… Tôi không ngạc nhiên về điều này.

Nguyễn Tiến Trung: Bãi bỏ các môn học chính trị độc hại như chủ nghĩa Mác-Lênin vì nó giết chết sự sáng tạo và óc suy nghĩ độc lập của thế hệ trẻ
Nhưng ngay sau đó tôi đọc được hai lá thư gửi đảng và nhà nước của hai bạn trẻ Nguyễn Tấn Hòanh và Nguyễn Tiến Trung thì tôi mới thật sự ngạc nhiên. Nói như vậy là bởi vì tiếng nói hai bạn trẻ này được đến từ hai thành phần xã hội khác nhau và có lẽ là lần đầu tiên sau 30 năm mới xuất hiện tiếng nói phản kháng chính thức của giới công nhân và sinh viên; bạn Nguyễn Tấn Hòanh là công nhân Khu Công Nghiệp Điện Bàn Quảng Nam, bạn Nguyễn Tiến Trung là sinh viên du học tại Pháp, hai bạn trẻ đếu có những trăn trở và nguyện vọng khác nhau nhưng hầu hết những trăn trở và nguyện vọng đó đều đối nghịch lại với những gì ghi trong bản dự thảo báo cáo chính trị đại hội X của đảng.

Bản dự thảo báo cáo chính trị đánh giá rằng “Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển tòan diện”, và đề ra mục tiêu xây dựng là “bảo đảm quyền lựu chọn chỗ làm việc và nơi cu ngụ của người lao động, thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng hệ thống an sinh xã hội”, để cuối cùng đi đến “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đối chiếu với thực tế anh công nhân Nguyễn Tấn Hòanh trình bày thì đời sống của anh chị em công nhân hòan tòan đảo ngược. Hàng ngày người lao động vẫn bị đối xử bất công, sức lao động bị khai thác đến cạn kiệt, không bảo hiểm y tế, không bảo hiểm lao động rủi ro, không chế độ lương hưu, không được bảo đảm quyền bình đẳng, ngược lại, công đòan quay lại đàn áp người lao động, bênh vực người sử dụng lao động là chủ nhân nước ngòai mà đảng đã từng mạt sát là “bọn tư bản hút máu”. Với mức lương công nhân hiện tại là 800.000 ngàn đồng VN, trừ tiền thuê phòng trọ, điện nước và chi phí cửa quan hết 460.000 ngàn đồng VN, anh chị em còn lại 340.000 ngàn đồng VN cho tất cả mọi chi tiêu trong tháng. Tôi nghĩ rằng anh chị em công nhân khó có thể mua được một nắm xôi mỗi buổi sáng chứ nói chi đến chuyện mua nỗi áo quần để mặc như anh công nhân Nguyễn Tấn Hòanh đã trần tình. Tôi cũng không tin rằng anh chị em “dám” bị bệnh như những con người bình thường vì không thể trả chi phí y tế đã quá đắt đỏ.

Tôi hỏi đảng. Những người lao động này có được ấm no, hạnh phúc và phát triển tòan diện không? Xã hội công bằng ở đâu? Xin đừng nói mãi “đảng là đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động”.

Đảng tự hào rằng đổi mới kinh tế là một thành tựu to lớn mang tính lịch sử, đất nước đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng đắn, đã đem lại mức độ tăng trưởng GDP đáng kể là 7.5% bình quân trong 5 năm 2001-2005. Trong dự thảo báo cáo chính trị cũng đề ra mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại để có thể “sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại”.

Trong thư ngỏ sinh viên du học Nguyễn Tiến Trung thì cho rằng “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, còn thành phần kinh tế tư nhân thì yếu và thiếu. Chính vì lý do đó mà Việt Nam không theo kịp đà tiến của các nước láng giềng như Thái Lan, Indonesia, Malysia,… kể cả với nhịp độ tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững hiện nay, Việt Nam cũng không thể bắt kịp các nước khác”.

Nguyễn Tiến Trung mạnh dạn kiến nghị bãi bỏ các môn học chính trị độc hại như chủ nghĩa Mác-Lênin vì nó giết chết sự sáng tạo và óc suy nghĩ độc lập của thế hệ trẻ; từ bỏ độc đảng, độc tài và lạm dụng quyền lực; bầu cử tự do, công bằng và dân chủ. Tôi vô cùng xúc động khi đọc những dòng chữ mang đậm niềm tự hào Dân Tộc và ước vọng tương lai, “Em không tin trí tuệ Việt Nam lại thua kém trí tuệ các dân tộc khác. Em hy vọng rằng dân tộc chúng ta lại làm được điều thần kỳ như Nhật Bản và Hàn Quốc, cả một dân tộc vì cái nghèo, cái hèn mà đứng lên, chứ không tự ru ngủ mình vì quá khứ oanh liệt đã qua”.

Đảng luôn cho rằng mình là “đỉnh cao trí tuệ”, toàn dân được dẫn dắt dưới sự “lãnh đạo tài tình của đảng”. Sau 30 năm hoà bình, từ 1975, Việt Nam dù được đảng ngợi ca phát triển vẫn là một nước nghèo đói, đứng hàng thứ 164 trong 208 nước trên thế giới
Tuổi trẻ Việt Nam đã gióng lên tiếng nói khát khao của lương tri, của trái tim cháy bỏng với niềm tin sắt đá vào tương lai và sẵn sàng đóng góp trí tuệ, khả năng cho tương lai của Đất Nước và Dân Tộc. Đảng đừng “ngủ” mãi trên chiến thắng, cũng đừng ru ngủ nhân dân nữa, đừng tự mãn với chỉ số tăng trưởng và đừng tự so sánh ta với ta mà hãy so sánh ta với các nước láng giềng và năm châu.

Thế chiến thứ II chấm dứt vào năm 1945. Ngày 7 tháng 5, Đức ký giấy đầu hàng quân đội đồng minh tại thủ đô Berlin. Quân đội Hoa-kỳ thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 và thành phố Nagasaki vào ngày 9 tháng 8, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Hai đất nước Nhật Bản và Đức Quốc (Tây Đức), một ở châu Á, một ở châu Âu, bắt tay xây dựng lại từ đầu trên sự đổ vỡ hoang tàn, tài nguyên cạn kiệt, con người cùng khổ. Ba mươi năm sau, ngay thời điểm năm 1975, cả Nhật Bản và Đức Quốc đều vực dậy trở thành hai đất nước hùng mạnh trong bẩy nước dẫn đầu thế giới.

Đại Hàn kết thúc chiến tranh năm 1953 và đất nước bị chia đôi. Năm 1975 thì Nam Hàn đã vượt xa miền Nam Việt Nam trong khi đó miền Nam Việt Nam đã giầu có và trù phú hơn các nước láng giềng trong khu vực, thủ đô Sài-gòn được xem là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Đất nước Singapore lập chủ quyền vào năm 1965 đến năm 1995 đã trở thành con sư tử của châu Á được cả thế giới nể phục.

Điều đó cho thấy bất kể là phương đông hay phương tây, trong một xã hội Tự Do và Dân Chủ thật sự thì người dân có điều kiện phát triển tòan diện, từ đó mới có thể bật ra tư duy mới và mở mang trí tuệ, tòan dân đòan kết, tập trung nội lực để xây dựng đất nước, đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên hết thì đất nước đó chắc chắn sẽ tạo đuợc những thành công vượt bậc - và họ đã làm được chỉ trong 30 năm - Lịch sử đã chứng minh.

Đảng luôn cho rằng mình là “đỉnh cao trí tuệ”, tòan dân được dẫn dắt dưới sự “lãnh đạo tài tình của đảng”. Tôi hỏi đảng. Tại sao sau 30 năm, đảng dẫn dắt nhân dân đi đâu mà đến nỗi Việt Nam trở thành một nước nghèo đói, đứng hàng thứ 164 trong 208 nước trên thế giới (World Bank database)? Xin đảng đừng đổ lỗi “là vì chiến tranh!”

Theo thống kê ngày 15 tháng 7 năm 2005 của ngân hàng Thế Giới thì chỉ số thu nhập bình quân của Việt Nam trên đầu người (GNI/Capita) là 550 (đô-la Mỹ), Indonesia (1.140), Philippines (1.170), Thailand (2.540), Malaysia (4.650), Nam Hàn (13.980), Singapore (24.220) và Nhật Bản (37.180). Mức tăng trưởng (GNI/Capita) của Việt Nam so với năm trước đó là 14.6%. Cho rằng Việt Nam giữ mức tăng trưởng GNI/Capita đều đặn 14.6%, Việt Nam cần 5.3 năm để bằng được Indonesia vào thời điểm này, Philippines (5.5), Thailand (11.2), Malaysia (15.7), Nam Hàn (23.7), Singapore (27.8), và Nhật Bản (30.9).

Thật tế mức tăng trưởng GNI/Capita của các nước này đều trên dưới 14.6%. Nước nào duy trì chỉ số GNI/Capita từ 14.6% trở lên thì mức thu nhập của người dân Việt Nam sẽ mãi mãi không bao giờ theo kịp. Giả định rằng các quốc gia đó đều có mức tăng trưởng trung bình GNI/Capita 10%, thấp hơn Việt Nam, thì Việt Nam cần 17.8 năm để bằng được Indonesia, Philippines (18.4), Thailand (37.3), Malaysia (52.1), Nam Hàn (79), Singapore (92.4), và Nhật Bản (102.9).

Như vậy, đối với các nước kém phát triển thì Việt Nam cũng cần phải xây dựng vài chục năm mới theo kịp và cần một thế kỷ mới có thể bắt kịp Singapore và Nhật Bản.

Tôi không có ý vẽ một bức tranh u ám, nhưng nếu đảng vẫn kiên trì xây dựng đất nước theo đường lối “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và tiếp tục áp đặt tư tưởng Mác-Lênin làm nền tảng xã hội như trong suốt 20 năm qua thì Việt Nam không thể nào tiến nhanh để trở thành một nước công nghiệp tiên tiến.

Đảng có thể cho rằng, “Thôi, thế cũng được. Chúng ta xây dựng từng bước ổn định, cuối cùng thì Việt Nam cũng trở thành một nước công nghiệp tiên tiến”. Đó là chuyện của đảng. Vấn đề là 82 triệu dân Việt Nam còn lại có muốn như thế hay không? Người Việt chúng ta có muốn là khi nhân lọai bước vào thế kỷ thứ 22 thì Việt Nam mới có thể “sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại”, theo như câu kết của bản dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội X. Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Năm nay là 2006, mười bốn năm nữa thì vẫn chưa bắt kịp Indonesia thì thử hỏi với “nhịp bước” như vậy làm sao Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại được!

Tôi tin rằng dân tộc Việt Nam có đủ trí tuệ ngang tầm với các dân tộc tiên tiến trên thế giới. Tôi khẳng định với bạn trẻ Nguyễn Tiến Trung là như vậy. Thời gian sáu năm làm việc tại Singapore, tôi có cơ hội đi hầu hết các nước trong khu vực Đông-Nam châu Á, được làm việc với những công ty đa quốc gia, tham dự nhiều dự án bao gồm cả một số khóa huấn luyện kỷ thuật tại Việt Nam qua các công ty Nhật Bản và Hoa-kỳ. Họ đều là những con người ưu tú, làm việc hết sức chăm chỉ, khả năng và sức sáng tạo cao, nhưng tôi không chủ quan mà khẳng định rằng khả năng trí tuệ người Việt Nam không hề thua kém. Sau 30 năm lưu lạc xứ người, khởi đầu tất cả chỉ bằng hai bàn tay trắng, ba triệu người Việt hải ngọai đã gửi về trong nước bốn tỷ đô-la, mà tôi tin đó chỉ là một con số rất khiêm nhường “dè-xẻn”. Tiềm lực thật sự còn rất lớn. Trong khi đó tổng sản lượng quốc gia (GDP) 2004 của Việt Nam với 84 triệu dân chỉ hơn 45 tỷ đô-la (World Bank database).

Kiểm nghiệm lịch sử, đối chứng thật tế để kết luận rằng vấn đề không phải là trí tuệ Việt Nam có thua kém trí tuệ các dân tộc khác hay không, mà vấn đề là người Việt Nam có cơ hội để phát triển trí tuệ đến tận cùng hay là không.

Tôi muốn nói rằng Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam có đủ khả năng để trở thành một dân tộc tiên tiến và một đất nước hùng mạnh. Đảng phải phá bỏ những rào ngăn cản sự phát triển. Rào cản đó là sự độc quyền lãnh đạo để trở thành độc tài; độc quyền luật pháp để trở thành đại tham nhũng; độc quyền “yêu nước” làm lòng dân thờ ơ với nỗi quốc nhục, quốc nạn, việc mất chủ quyền biển, đảo, biên giới; độc quyền tư tưởng làm dập tắt mọi tư duy và sáng tạo. Tất cả là nguyên nhân làm đất nước Việt Nam bị tụt hậu.

Đã đến lúc nhân dân không còn đủ kiên nhẫn để tiếp tục đi theo con đường mòn của đảng. Nếu đảng vẫn tự mãn và miên man trong ảo tưởng thì nhân dân không còn cách nào khác là vùng lên giành lại quyền làm chủ đất nước của mình. Đến lúc đó tôi e rằng đảng sẽ không còn tồn tại trong lòng của Dân Tộc.

Tôi mượn lời của bạn Nguyễn Trung Hiếu viết cho Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo mà mong rằng đảng sớm có được sự tỉnh thức.

Nam California, 2/3/2006


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_dang_di_ve_dau__1.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.