Dấu ấn văn hóa Việt trong Kinh Thi
Theo Đàn Chim Việt - Hà Văn Thuỳ - 10-06-2006
 |
Kinh Thi trên ống tre Nguồn: chinapage.com
|
Kinh
Thi là tuyển tập những bài dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất xuất
hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VI TCN trở về trước trên lưu
vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo Tư Mã Thiên viết trong Sử ký thì ban đầu
có tới 3000 bài, Khổng tử san định đã bỏ đi 9 phần 10, chỉ giữ lại có
311 bài. Ðấy là tác phẩm văn học cổ điển có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm
hồn và trí tuệ phương Ðông, quan trọng đến mức Khổng tử nói bất học thi
vô dĩ ngôn! (Không học Thi biết gì mà nói). Thời nhà Tần nó cũng bị đốt
nhưng sau đó được khôi phục và xếp vào Ngũ kinh.
Hàng nghìn năm nay, kinh Thi mặc nhiên được coi như sản phẩm đặc
hữu của Hán tộc, không có ai nghi ngờ hay bàn cãi. Vì vậy, ba chục năm
trước, khi học giả Lương Kim Ðịnh cho rằng Kinh Thi là quyển kinh điển
của Việt tộc (1)
đã gây nên sự phản ứng của không ít người. Dễ hiểu thôi, thay đổi một
thói quen từng hằn vào cân não hàng nghìn năm đâu phải là việc một sớm
một chiều!
Ðiều dễ nhận ra là kinh Thi đã bị Hán nho rối
Tống nho đánh tráo một cách trơ trẽn: Những sáng tác dân gian sinh ra
nơi ruộng lúa nương dâu bị biến thành sản phẩm cung đình, một thứ văn
chương xu phụ chuyên ca tụng ông vua này ông vua khác cùng bà hậu phi
nào đó! Chính ở đây, tầng lớp Hán nho đã ăn cắp tác quyền của dân gian
trao cho vương triều. Ðiều này dễ thấy. Còn cách đánh tráo, ăn cắp tác
quyền khác tinh vi hơn thì khó nhận ra. Khó về học thuật và càng khó
hơn trong tâm lý: đứng trước nền văn hóa khổng lồ của người láng giềng
phương bắc, chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé đi, đến mức chỉ còn là cậu
học trò ngu ngơ trước ông thầy vĩ đại! Tâm lý ấy khiến chúng ta hèn đi,
không dám nghĩ đến cái điều bị coi là hoang tưởng thậm chí phạm thượng:
kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc!
Ðể phân định điều này, ta phải xét từ cội nguồn: Tìm về lịch sử hình thành kinh Thi.
Vào thập niên 70 của thế kỷ trước tồn tại 2 giả thuyết về cội nguồn dân
tộc Việt. Một cho rằng, tổ tiên người Việt từ cao nguyên Thiên Sơn di
cư vào đất Trung Hoa sau đó bị người Hán chèn ép nên tràn xuống Việt
Nam tiêu diệt người bản địa, lập ra nước Văn Lang. Giả thuyết thứ hai
cho rằng tổ tiên người Việt đã từ Mã Lai đi lên.
Ngày nay, với những thành tựu mới nhất của di truyền học, lần đầu
tiên chúng ta có bản viết chính xác về tiền sử Đông Á: Người hiện đại
Homo Sapiens đã từ châu Phi lên Trung Đông rồi từ đây theo bờ biển Nam
Á đến Việt Nam khoảng 60-70000 năm trước. Dừng lại đây trong khoảng
10.000 năm, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra
những chủng lai. Những chủng người này sinh sôi nảy nở lan khắp lục
địa, hải đảo Đông Nam Á rồi sang châu Úc. Khoảng 40.000 năm trước, khi
băng hà tan, người từ Đông Nam Á đi lên phía bắc, chiếm lĩnh lục địa
Trung Hoa rồi sau đó vượt qua eo Bering tới châu Mỹ.
Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Đông Nam Á mà sau này sử
sách gọi là Bách Việt sống khắp duyên hải Đông Á với nhân số chiếm
khoảng 54% nhân loại. Trong đó người Lạc Việt có khoảng 15-20% và giữ
vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Người Bách Việt Đông Nam Á kiến
tạo nền văn minh nông nghiệp tiến bộ nhất thế giới: Nghề trồng lúa phát
triển với giống lúa được tuyển chọn tốt, biết cày bằng trâu bò, đắp bờ
giữ nước. Nghề chăn nuôi gia súc trở thành nghề sản xuất chính, biết
nuôi tằm dệt lụa. Nghề đúc đồng ra đời. Khoa thiên văn quan sát tượng
trời tượng đất dự báo thời tiết ở trình độ cao. Kiến thức âm dương ngũ
hành, dịch số được tích luỹ. Từ kết nút để ghi nhớ đã có chữ Khoa đẩu.
Là cộng đồng nông nghiệp nên sinh hoạt văn hoá phát triển với ca dao,
dân ca, đồng dao, nhạc múa, trái gái luyến ái tự nhiên theo tục dã hợp…
Cũng trong khoảng thời gian trên, có phần chắc là muộn hơn, một số
nhóm người Mongoloid từ Đông Nam Á đi lên miền đồng cỏ phía Tây Bắc
Trung Hoa, sinh sống bằng du mục, tách biệt với khối dân cư còn lại.
Khoảng 2600 năm TCN, những bộ lạc du mục thiểu số này vượt Hoàng
Hà chiếm đất của dân Bách Việt nông nghiệp, lập ra thời đại Hoàng Đế. (2)
Tuy chiến thắng về quân sự nhưng do số người ít và văn hoá kém
phát triển nên kẻ chiến thắng bị đồng hoá cả về di truyền cả về văn
hoá. Người Mongoloid vốn có nước da sáng hơn người Australod lại sống ở
phía bắc từ lâu nên nước da càng trắng hơn. Vì vậy kẻ thống trị gọi
người bản địa là lê dân – dân đen - để phân biệt.
Vào đất Bách Việt, người Hán Mông Cổ choáng ngợp trước số dân đông
đúc và kinh tế sung túc nên lập tức bỏ nghề du mục, chuyển sang làm
quan, làm công nghiệp, nhà buôn - những công việc đặc quyền của kẻ
thống trị.
Không lâu sau, chỉ một vài trăm năm, toàn bộ người Hán Mông Cổ
xuống Trung Nguyên bị hoà huyết với dân đen bản địa thành chủng người
mới, khoa học gọi là Mongoloid phương Nam hay nhóm loại hình Đông Nam
Á. Trong quá trình hoà huyết thì văn hoá cũng hoà đồng: Trước hết là
tiếng nói. Lớp con lai dùng trộn trạo từ vựng của bố của mẹ. Với thời
gian, hai hệ tiếng nói bổ sung cho nhau, hoà vào nhau tạo nên tiếng nói
chung phong phú của lớp dân mới. Tuy nhiên, tiếng nói của một vùng, một
quốc gia bao giờ cũng theo cách nói của trung tâm, của thủ đô. Người
Hán Mông tập trung ở đô thị nên trong khi học thêm từ vựng Việt thì họ
cố giữ cách nói - văn phạm truyền thống Hán. Dần dần toàn bộ dân cư
chuyển sang dùng cách nói thống nhất như các đô thị, kết quả là trong
giao tiếp cùng nói theo cách của người Hán. Đồng thời trong quá trình
chung sống, các phong tục tập quán của hai tộc người ban đầu cũng hoà
vào nhau.
Người Hán Mông Cổ bỏ vật tổ truyền thống của mình là con cọp trắng
để chuyển sang thờ vật tổ của dân bách Việt là con cá sấu được thần hoá
thành con rồng. Người Hán Mông Cổ cũng nhận những ông tổ xa xưa của
người Việt là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ của mình (3)
Điều này không có gì sai trái mà hợp lý vì do hoà huyết nên về huyết
thống, những thế hệ người Hán từ sau Hoàng Đế như Đế Cốc, Đế Chí đều là
con cháu của Thần Nông. Họ có toàn quyền nhận tổ tiên cũng như văn hoá
nông nghiệp làm của mình, bình đẳng với những người Bách Việt mới thuộc
chủng Mongoloid phương Nam.
Từ lịch sử đó, chúng ta thử tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của kinh Thi.
Từ thời vua Vũ nhà Hạ (2205-1783 TCN), các nước chư hầu dâng cống vật
cho thiên tử thì trong phương vật, có cả những câu ca của dân quê nơi
thôn dã. Thiên tử xem những câu ca ấy để hiểu thuần phong mỹ tục trong
thiên hạ, để đánh giá sự cai trị của vua chư hầu. Cái lễ cống tồn tại
dài dài mãi sau này nhưng việc cống những câu ca nơi thôn cùng xóm vắng
chỉ tồn tại đến thời nhà Chu (1134-247 TCN).
Nhưng thử hỏi thiên hạ Trung Hoa thời Xuân Thu là ai? Lúc này đã
2000 năm qua đi từ trận Trác Lộc Hoàng Đế chiến Si Vưu. Trong cương thổ
nhà Chu rộng khoảng 115.000 km2 với 15 tiểu quốc, hai chủng tộc chính
ban đầu là Hán Mông Cổ và Bách Việt đã hoà huyết thành chủng mới
Mongoloid phương Nam. Cùng với máu huyết, giữa người Việt và người Hán
cũng có sự hoà đồng về văn hoá. Trong cộng đồng Hán tộc mới này, lực
lượng đông đảo nhất là lê dân, là dân đen tức những người gốc Tam Miêu.
Chính do số đông áp đảo, chính xuất phát từ nền văn hoá cao hơn nên
những người gốc Bách Việt giữ vai trò chủ đạo trong nền văn hoá.
Đặc điểm nổi bật của dân Miêu Việt là sống hồn nhiên vui vẻ, ưa ca
múa, khá thoải mái trong chuyện luyến ái gái trai. Kinh Thư ghi nhận,
khi vì bất bình mà người Miêu Việt nổi dậy, dẹp không được, vua Thuấn
phải sai ông Quỳ dùng ca múa phủ dụ mới yên. Từ kinh nghiệm trên, các
ông vua hiền thời cổ ở Trung Quốc đã phần nào dựa vào những lời ca cất
lên nơi thôn cùng xóm vắng mà biết nguyện vọng của dân để kịp thời điều
chỉnh chính sách của mình. Chính những lời ca dân dã ấy được thu thập
lưu giữ trong tàng thư của nhà vua. Và từ những thư tịch trong cung vua
nhà Chu, Khổng tử (551- 479 TCN) đã đem ra san định thành kinh Thi.
Những nguyên nhân trên đã tạo nên tinh thần nông nghiệp Việt tộc
bàng bạc trong kinh Thi ngay từ bài đầu tiên và quan trọng nhất: Quan
thư.
Quan quan thư cưu
Tại hà tri châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.
Bài ca là hình ảnh một bãi nổi trên sông với những loài chim nước cặp
đôi cùng người trai người gái tình tự phản ánh cuộc sống hồn nhiên của
dân cư nông nghiệp miền sông nước. Hảo cầu là từ đa nghĩa. Tản Ðà dịch
là tốt đôi vợ chồng nhưng theo Kim Ðịnh, một bản Latinh lại dịch là
giao cấu (copulary). Dịch như vậy mới phản ánh đúng cái thần câu ca:
quan hệ tính giao tự nhiên như vậy chỉ có ở văn hóa phồn thực của Viêm
Việt nông nghiệp. Dịch như Tản Ðà là dịch theo quan điểm thanh giáo mà
Hán nho rồi Tống nho áp đặt để xuyên tạc kinh Thi.
Một bài khác cũng mang cái phong vị trữ tình như vậy, bài Hán Quảng:
Trên bờ sông Hán ai ơi,
Có cô con gái khó ai mơ màng
Mênh mông sông Hán sông Giang
Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng.
Sông Hán là chi lưu của sông Dương Tử, miền đất châu Kinh, châu Dương,
châu Hoài... địa bàn cư trú lâu đời của người Bách Việt, một bằng chứng
cho thấy người Việt là chủ nhân những câu ca trên. Một bài khác Thảo
trùng: người con gái lên núi hái rau, nhìn thấy châu chấu theo nhau bay
nhảy liền mong tưởng đến chồng trở về: Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu
chỉ, ngã tâm đắc di.
Tản Ðà dịch: bao giờ cho thấy mặt chàng,
Cho ta vui vẻ nở nang tấm lòng.
Dịch vậy là quá khéo, bởi chữ cấu có nghĩa là giao hoan. Nở nang
tấm lòng vừa có nghĩa vui mừng lại có nghĩa thai nghén sinh nở!
Bài Dã hữu tử huân (con nai chết trên đồng) có câu:
Có cô con gái xuân tình,
Cậu giai tốt đẹp dỗ dành muốn ve
 |
Phần đầu của kinh Thi xuất hiện từ thời Đông Chu (770-221 BC) Nguồn: blueprint-magazine.de
|
Cũng
là bằng chứng của lối sống phồn thực Viêm Việt. Cuộc sống phồn thực
luyến ái tự nhiên là đặc điểm của văn hóa Việt tộc. Ta thấy điều này
trong sinh hoạt hội mùa xuân: đến hội xuân, tất cả trai gái làng này
đến hát đối với trai gái làng bên cạnh (là hai bộ lạc). Trai chưa vợ
gái chưa chồng xem mặt nhau rồi chọn lựa trong lúc hát hò. Tan đám hát,
họ chia nhau từng đôi, tặng nhau kỷ vật rồi dẫn nhau vào những lùm cây
bãi cỏ giao hoan, gọi là dã hợp. Không ai chê bai ngăn cản việc này.
Những đứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn phối tự nhiên ấy là điềm may. Chỉ
khi các thánh hiền phương Bắc xuất hiện mới coi là xướng ca vô loại,
chê là dâm bôn, ra sức cấm đoán rồi vỗ ngực ca ngợi công việc ấy của
mình là cải hóa phong tục của man di! Nếu trong cuộc đời thực, Hán nho,
Tống nho tiếp tay cho vương triều phong kiến xóa bỏ văn hóa Việt tộc
thì trên phương diện chữ nghĩa, họ cũng một mặt ăn cắp tác quyền những
dân ca và ca dao Việt trao cho vua chúa, mặt khác chú giải Thi theo
hướng có lợi cho vương triều, cổ xúy chủ nghĩa thanh giáo. Kim Ðịnh
phát hiện ra mưu đồ này nhưng có lẽ ông đã quá lời khi nói : "Có thể
xẩy ra những cuộc tráo trộn do chính Viêm tộc làm ra: nó ở tại đem vào
những bài ca của dân gian một ít lời để lái một bài thơ phương Nam ra
vẻ của phương Bắc, hoặc để nguyên cả một bài hay một chuỗi bài như Châu
Nam, Thiệu Nam mà đặt vào vùng núi Kỳ ở Thiểm Tây để cho người phương
Bắc dễ chấp nhận." (VLTN 135) Có lẽ không phải vậy. Người dân quê
hồn hậu không nghĩ rằng những câu ca nơi đồng nội của mình sẽ thành
kinh điển nên phải tự sửa mình đi cho vừa khẩu vị kẻ xâm chiếm thống
trị. Họ chỉ tự nhiên nhi nhiên hát lên lời hát của lòng mình mà vì nó
hay nên vương triều không thể bỏ phải lượm lặt đem về. Nhưng rồi việc
biên tập, nhuận sắc, chú giải diễn ra, nội dung nhiều bài thay đổi đồng
thời tác quyền bị chuyển cho người khác. Việc làm này của Hán nho là có
ý thức. Tuy nhiên, cái việc vụng trộm ấy cũng không hoàn toàn vô tang
mà đã để lại dấu vết. Không những không thể xóa hết tinh thần Viêm Việt
bàng bạc trong khắp tập kinh mà ở nhiều bài còn lộ rõ dấu vết trong
cách đặt câu, trong cú pháp. Ta biết, so với tiếng Việt, cú pháp chữ
Hán nói ngược: Việt nói trong lòng là trung tâm thì Hán nói tâm trung.
Nhưng trong kinh Thi, có hiện tượng rất lạ là nhiều câu vẫn giữ cấu
trúc ngữ pháp Việt:
Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm
(Thỏ ta: Lưới thỏ mà căng giữa rừng.)
Ðúng ra giữa rừng viết theo cú pháp chữ Hán phải là lâm trung mà ở đây lại là trung lâm. Hay
Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu
(Chung phong: Cũng là bỡn cợt mà thôi,
chỉ thêm đau ruột cho người xót thương).
Có thể kể ra nhiều nữa:
- Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)
- Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)
- Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)
- Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)
- Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)
- Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)
- Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín )
Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô
tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải vì "dốt"
nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều
này. Trong bài Dẫn nhập in ở đầu cuốn kinh Thi, ông Trần Văn Chánh nhận
xét: "Trong kinh Thi, chữ "trung" (ở trong, ở giữa) thường đặt sau danh
từ, thay vì ngược lại, so với văn ngôn các đời Hán, Ðường... về sau". (4)
Ông cho rằng đó là một trong những nguyên tắc, những mô hình cấu trúc
cần nhận biết khi đọc Thi. Ðiều này đã hẳn nhưng nó cũng gợi lên thắc
mắc: vì sao lại có hiện tượng khác thường đó? Và vì sao qua hàng nghìn
năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú
giải, những đại nho của muôn đời không sửa chữa, không lượm đi những
"hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời
Hán thời Ðường. Nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là
gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa.
Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người
Việt sang cách nói của người Hán. Cách nói của người Hán cuối cùng đã
thắng nhưng trong ca dao, dân ca vẫn tồn tại cách nói Việt phản ánh tư
duy Việt. Khi ca dao dân ca của người Việt được đưa vào kinh điển,
người san định tuy đã nhuận sắc sửa đổi nhưng không thể sửa chữa tất cả
vì buộc phải tôn trọng vần điệu của thơ. Trong 2700 bài thơ bị loại bỏ,
ai biết có bao nhiêu bài của Việt tộc? Những bài còn lại là những bài
không thể bỏ. Những cấu trúc ngữ pháp không bình thường trong các bài
đó cũng là không thể sửa đổi! Cái không thể sửa đổi đã trở thành những
"hòn sạn" trong ngôn ngữ của Thi. Nhưng chính những "hòn sạn" tưởng như
ngẫu nhiên này lại là những hóa thạch ngôn ngữ chứng minh về sự đóng
góp của tiếng Việt vào kinh Thi, vào ngôn ngữ Trung Hoa! Không chỉ
trong Thi, cách nói Việt này cũng để lại dấu ấn trong một số tên gọi:
Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Chí rồi Ðế Minh, Ðế Lai...
Cách nói đó không thể phủ nhận được là cách nói Việt. Có lẽ cũng do
những nguyên nhân lịch sử bất khả kháng mà người ta không thể sửa thành
Nông Thần, Nghiêu đế... theo cách nói của người Hán!
Nói như ông Kim Ðịnh Kinh thi là quyển kinh điển của Việt tộc e
rằng quá lời. Bởi lẽ không hiểu những bài bị loại bỏ ra sao, còn căn cứ
vào những bài hiện có, ta thấy trong đó nhiều bài mang đặc tính chung
của con người, cái chất uy-manh chả của riêng ai, thật khó tách bạch.
Trong đó bên cạnh những bài đậm sắc thái Việt lại có những bài mang tố
chất Hán tộc như bài Thạc nhân:
Người đâu dong dỏng như ai,
Trong mặc áo gấm phủ ngoài áo lương.
Ấy người con gái họ Khương,
Em ông thái tử cưới sang vua Vệ hầu.
Còn như bề giượng là đâu?
Có Ðàm công với Hình hầu hai vua.
Từ phục sức đến nhân thân cho thấy đó là người đàn bà quý tộc.
Nhân vật này không phải đối tượng của văn chương dân gian. Nhiều khả
năng đây là sản phẩm của nhà thơ cung đình nào đó mượn phong cách dân
gian làm thơ phục vụ vương quyền. Không phải trong tầng lớp vương giả
không có người Việt nhưng người đàn bà này đích thực là người Hán:
Tay ai như cái cỏ gianh non,
Da như mỡ đọng, cổ như con nhậy dài,
Hạt bầu thời như thể răng ai,
Ðầu trăn mà lại mày ngài thêm xinh...
Tay, da, đầu có thể là cái đẹp chung của người Hán người Việt nhưng rõ
ràng, cái răng: hạt bầu như thể... cũng như đầu trăn (Tản Đà giảng con
trăn như con ve mà bé) là vẻ đẹp theo chuẩn mực thẩm mỹ Hán tộc. Thời
ấy, vẻ đẹp của người Việt là nhuộm răng đen, xăm mình. Trong Sở từ, đau
vì thân phận dòng Việt của mình, Khuất Nguyên than: răng đen mình trổ
dọc ngang!
Nhưng điều thú vị là, ngay ở đây cũng hiển lộ yếu tố văn hoá Việt:
mày ngài! Trồng dâu nuôi tằm là bản nghệ của dân nông nghiệp phương
Nam. Do chăm chút con tằm từ ăn một ăn hai đến ra né, chọn giống, cho
ngài đẻ… mà người nuôi tằm nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu của cặp râu con ngài.
Sự so sánh tuyệt vời nảy sinh: râu con ngài được ví với lông mày con
gái. Thành ngữ mày ngài ra đời! Đấy là sản phẩm của văn hoá nông nghiệp
Bách Việt.
Khi đưa nghề tằm tang từ Văn hoá Hoà Bình lên Trung Nguyên, người
Việt cũng đưa luôn thành ngữ mày ngài lên quê hương mới. Thành ngữ này,
như những từ vựng khác, nhập tịch ngôn ngữ Trung Hoa rồi một cách vô
thức phát lộ trong câu ca dao mang nhiều sắc thái Hoa tộc nhất. Điều
này là ví dụ tuyệt vời chứng tỏ sự đóng góp của văn hoá Bách Việt vào
văn hoá Trung Hoa.
Như vậy, có lẽ sẽ công bằng hơn khi nói rằng, kinh Thi là đứa con
lai giữa hai nền văn hóa Hán và Việt mà trong đó phần hồn phần cốt là
văn hóa của Bách Việt nông nghiệp.
Sài Gòn, 6/2006
Copyright @ DCVonline 2006
Sách tham khảo:
(1) Kim Đinh. Việt lý tố nguyên. An Tiêm Sài Gòn 1970 tr. 125
(2) Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hoá. Talawas.org
(3) Ts Nguyễn Thị Thanh - Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới– Vietcatholic 30.9. 2001.
(4) Kinh Thi NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1992 tr.XXXII
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: