Tất nhiên là cần một nền đại học vững vàng, thuộc đẳng cấp quốc tế,
nơi vừa trao truyền kiến thức vừa kích thích khả năng sáng tạo cho một
thế hệ trí thức mới. Ai cũng mong muốn cho đất nứơc mình có điều kiện
như thế.
Mỗi
năm, khi tới kỳ loan báo danh sách trúng giải Nobel, chúng ta lại nghe
tên những vị giáo sư đại học này, đại học kia được các giải Nobel về
Vật Lý, Hóa Học, Kinh Tế, Y Khoa, vân vân… Mỗi khi vào các sân đại học
Mỹ, những nơi đã nổi tiếng và có uy tín, chúng ta lại thấy có một số
chỗ đậu xe ghi rõ giành cho vị giáo sư giải Nobel này, Nobel kia… Thế
giới của kho tàng tri thức, của phát minh, của những trí tuệ nhân loại
thấy rõ hầu hết nằm nơi các khuôn viên đại học. Và chúng ta mong muốn
đất nứơc mình cũng sẽ có ngày xây dựng được một nền đại học như thế.
Thực
ra, một đại học đẳng cấp quốc tế vẫn là cần thiết, tất nhiên, nhất là
khi cần có các phát minh độc đáo để chuyển hứơng kinh tế quê nhà. Hãy
nhớ tới các phát minh lớn của nhân lọai trong vài thập niên qua: máy
điện tóan, Internet, email, điện thọai di động, vân vân… Thọat tiên
cũng từ một vài cá nhân xuất sắc, được học và nghiên cứu trong một môi
trừơng thích hợp. Và một phát minh lớn cũng có thể chuyển hứơng cả lịch
sử nhân lọai. Nghĩa là cần một đại học có sức nghiên cứu để sáng tạo và
phát minh. Đại học như thế có thể chỉ vài trăm sinh viên, hay vài ngàn
sinh viên. Nghĩa là, một đại học cho các em ưu tú. Tại Hoa Kỳ, ngay từ
tiểu học, trung học đã có những lớp riêng cho các em xuất sắc, dạy
chương trình khó hơn bình thường. Thí dụ như chương trình Gifted
Students, chương trình GATE, hay các lớp AA dạy riêng trong một ngôi
trừơng bình thường…
Nhưng dù vậy, trước hết, môi trừơng chung
vẫn là gìn giữ phẩm chất cao cho một nền giáo dục đại chúng - đây là
điều không thể nào bỏ lơ. Hãy suy nghĩ về Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, hay
Đại Học Vạn Hạnh thời trước 1975. Tính ra các đại học này đã đào tạo ra
ít nhất vài trăm ngàn cử nhân, cao học văn chương, và có lẽ vài tiến sĩ
(?). Nhưng trong đó có lẽ chỉ rồi có được vài chục (đoán kiểu bi quan),
hay vài trăm (đoán kiểu lạc quan) nhà văn, nhà thơ đáng chú ý.
Tương
tự, hệ thống đại học đại chúng sẽ đào tạo cho đất nứơc hàng triệu
chuyên viên, trí thức, nhà giáo, luật sư, bác sĩ, vân vân. Nhưng đại
học đẳng cấp quốc tế chỉ cần đào tạo ra vài trăm nhà phát minh, trong
đó có một Albert Einstein hay một Bill Gates là đủ. Như vậy, nhu cầu
đại học đẳng cấp quốc tế là phát minh khoa học, vì đó là nhu cầu cấp
thiết để tăng tốc phát triển kinh tế, thăng tiến đời sống dân mình.
Tập
trung vào hướng khoa học… đó là chiến lược xây dựng đại học của
Singapore, nơi đang hy vọng tự biến thành thủ đô của ngành sinh hóa
toàn cầu. Không phải nơi đây chúng ta thiên vị gì cho các ngành khoa
học, mà coi nhẹ các ngành nhân văn. Không phải thế. Bản thân người viết
bài là sinh viên Văn Khoa Sài Gòn, lê lết chơi thân với bạn bè toàn các
ngành ngoài khoa học, thí dụ như các bạn ở Đại Học Vạn Hạnh, Minh Đức,
Luật…. Nhưng chúng ta đều biết rằng đào tạo một nhà văn, nhà thơ có khi
cần chất tôi luyện của đời sống, nhiều hơn là ở sân trường. Đúng là
chúng ta phải học chữ, từ ngữ, văn phạm, đặt câu, học chữ Hán Việt, học
thơ cổ, thơ mới… nhưng như thế có thể tự học ngoài quán cà phê cũng
được, còn văn bằng thực ra chỉ để xin đi dạy học. Còn nhu cầu đại học
cấp thiết ở đẳng cấp quốc tế phải là khoa học, phải là môi trừơng để
tìm các phát minh lớn về vệ tinh, về nguyên tử, về thuốc trị bệnh ung
thư, về kỹ thuật môi trường… nghĩa là đất nước cần gấp các phát minh
thiên tài để phát triển.
Còn như để các sinh viên ưu tú này
sang Mỹ, sang Đức, làm việc chung các toán nghiên cứu và phát minh được
những gì lớn lao sau đó, thí dụ như tìm ra cách biến nứơc lã thành
xăng, thì lợi ích lại rót về cho nứơc Mỹ, nứơc Đức… Còn tìm cách mang
bí mật kỹ thuật này ra khỏi sân đại học Mỹ, Đức là bị quy tội gián điệp
kinh tế liền. Thêm nữa, nếu phát minh này có tính chiến lược, không
dùng cho dân dụng, thì có khi phát minh đó lại sử dụng riêng cho ngành
qúôc phòng của Mỹ, của Đức, thì VN kể như không có gì hết.
Đặc
biệt, dù là đại học nào đi nữa, thì rất mong muốn nên là tạo mọi cơ hội
cho tất cả các sinh viên muốn học, là có đủ khả năng tài chánh đi học.
Điều chúng ta đọc báo quê nhà đau sót nhất là khi thấy nhiều trẻ em
tiểu học, trung học đã bỏ ngang vì nhà nghèo. Rồi tới đại học, thì
nhiều bậc ba mẹ phải bán ruộng để đóng học phí cho con. Sao lại để tình
trạng như thế kéo dài? Khi chính phủ bỏ phí một đầu óc, đó là một tội
lớn với sinh viên đó, tội lớn với cả đất nứơc, và cũng là tội lớn với
cả nhân loại. Hãy hình dung, một em bé Albert Einstein phải bỏ ngang ở
lớp 4, hay lớp 5 để ra bến xe Miền Đông bán vé số giúp mẹ mua gạo… Hãy
cố gắng, đừng bỏ rơi một em nào cả, hãy đưa tất cả các em lên con tàu
giáo dục đại chúng.
Bây giờ nhìn lại đời mình, tôi vẫn thấy mình
mang ơn chế độ Miền Nam nhiều nhất là về mặt giáo dục. Tôi bứơc vào bậc
tiểu học, rồi trung học, rồi đại học Sài Gòn trứơc 1975 mà không tốn
tiền học phí gì. Chỉ trừ tiền mua sách, đóng lệ phí giấy tờ, chụp hình
làm thẻ… Thực sự như thế. Tất nhiên là cũng nhờ may mắn hồi đệ thất thi
đậu trung học công lập. Ai muốn nói Miền Nam phồn vinh giả tạo thế nào
thì nói, nhưng làm sao mà các chữ tôi học, các bài thơ cổ, thơ mới,
chút xíu vốn Anh Văn, Pháp Văn, Hán Văn học miễn phí từ nền giáo dục đó
lại là phồn vinh giả tạo? Bây giờ tôi vẫn mong muốn nhà nứơc, bất kỳ
nhà nứơc nào của VN, hãy gìn giữ và tạo điều kiện cho mọi sinh viên học
miễn phí. Hay chỉ tốn ít nhất.
Nếu các bạn sang Hoa Kỳ, và sẽ
nghe hầu hết người Việt mình ở Mỹ kể rằng nền giáo dục đại học Hoa Kỳ
gần như là cho tiền để học. Đi học mà còn có tiền nữa. Đó là sự thực.
Chúng ta không dám mong quê nhà có dư điều kiện như thế, nhưng hãy thấy
ưu tiên phát triển phải dựa chính yếu vào giáo dục.
Giúp cho tất
cả các em đi học còn là cách trị an tốt nhất. Như thế, sẽ xóa dần ngăn
cách hố sâu giàu nghèo. Hãy nhớ, ngay cả học đại học tư, chính phủ Mỹ
vẫn tìm cách giúp tiền cho các em. Tiền cho các em vay (student loans),
rồi tiền cấp tặng (Pell Grants). Nếu tính từ năm 1995, số lượng mà 1
sinh viên đại học Hoa Kỳ có thể vay mượn đã tăng tới kỷ lục, và số
lựơng các khoản Pell Grants tặng cho sinh viên cũng tăng nhiều. Tiền
Pell Grants dự kiến sẽ tăng thêm 240 triệu đô, và số SV nhận tiền này
tăng 59,000 em để tới con số 5.3 triệu sinh viên. Tiền tài trợ cho Pell
Grants tăng từ 8.8 tỉ đô năm 2001 để tới 13 tỉ đô năm 2006. Trong năm
2006, Bộ Giáo Dục Mỹ dự kiến phân phối 77 tỉ đô la các khoản tiền ban
tặng, tiền cho vay và các khỏan trợ giúp khác cho hơn 10 triệu sinh
viên. Các con số đó là từ phúc trình của Thượng Nghị Sĩ Jon Kyl, Uy Ban
Tài Chánh Thượng Viện Hoa Kỳ.
Hãy nhớ, cơ hội giáo dục phổ thông
cho các em sẽ giúp xóa ngăn cách giàu nghèo. Thí dụ, các em thuộc diện
gia đình nghèo hay thuộc các nhóm dân thiểu số đương nhiên khó có điều
kiện học đại học. Thấy rõ, như ở VN, các em nào thuộc gia đình người
Tày, người Nùng, người Tây Nguyên ở các tỉnh phía Bắc, Cao Nguyên là
khó mà học cao. Chính phủ Hoa Kỳ luôn luôn giúp đỡ các trừơng hợp bất
lợi như thế, cho nên khi thấy số lượng các em gia đình nghèo nhận lãnh
tiền Pell Grant giảm là báo động liền. Không làm gì có chuyện kỳ thị lý
lịch ba đời hay đuổi ra sân đại học gì khác.
Bản phúc trình
tựa đề "Using Multiple Lenses: An Examination of the Economic and
Racial/Ethnic Diversity of College Students" (Nhìn Từ Đa Cực: Cuộc Khảo
Sát về Tính Đa Dạng Kinh Tế và Sắc Tộc/Chủng Tộc của Sinh Viên Đại Học)
thực hiện tại 22 đại học tư ở California (xin nhớ, đại học tư nhân cũng
được giúp) phổ biến hôm 11-7-2006, làm bởi Claremont Graduate
University và hội Association of American Colleges and Universities cho
thấy:
-- Tỉ lệ trung bình sinh viên lãnh Pell Grants giảm từ 26% năm 2000 xuống còn 23% năm 2004.
-- Tỉ lệ trung bình sinh viên các nhóm thiểu số cũng giảm, từ 45% năm 2000 xuống còn 41% năm 2004.
Tại
sao Mỹ lại chú ý nâng đỡ, cấp tặng tiền cho các em gia đình nghèo và
sắc tộc thiểu số như thế, để khi vừa sụt xuống chút xíu là báo động
liền? Chế độ nào mà nhân đạo như thế?
Tôi tin rằng những ai từng
học miễn phí ở Miền Nam, và rồi học tiếp đại học miễn phí ở đại học Mỹ
sẽ không bao giờ hình dung được có hệ thống giáo dục nào ưu việt và
nhân đạo hơn.
Còn chuyện có nên nhờ qúôc tế giúp xây đại học cho
mình hay không? Có lẽ có vài mô hình đã thành công ở nứơc ngòai. Trong
bản tin CNET News hôm 10-7-2006 cho biết MIT và Viện Nghiên Cứu Quốc
Gia Singapore loan báo kế họach MIT (Viện Kỹ Thuật Massachusetts, bản
doanh ở Cambridge, Mass.) sẽ thiết lập tại Singapore một trung tâm
nghiên cứu mới năm 2007 - để sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu về khoa
học y sinh hóa (biomedical science), kỹ thuật môi trừơng và nứơc (water
and environmental technology), và truyền thông kỹ thuật số (digital
media). Nghĩa là, một viện đại học mà chỉ có 3 ngành chủ lực thôi.
Bản
tin phóng viên Michael Kanellos còn viết, "Duke University cũng đang
giúp Singapore thiết lập một đại học y khoa, trong khi nhiều công ty và
học viện khác đang tham dự chương trình Biopolis để thiết lập cho
Singapore một trung tâm kỹ thuật sinh học."
Thực sự, không riêng
chỉ Singapore phải thỉnh các sư phụ ngành khoa học về giúp. Những hỗ
tương giữa các công ty kỹ thuật và các đại học ngày càng chặt chẽ. Như
hãng Đài Loan Taiwan Semiconductor Manufacturing Co. mới đây thuê giáo
sư Chenming Hu của UC Berkeley về làm Trưởng Phòng Kỹ Thuật từ 2 năm
nay.
Hay như tại quốc gia đầy dầu hỏa Qatar, cũng phải thỉnh các
đại học Mỹ Carnegie Mellon University, Georgetown University, Texas
A&M University và vài đại học Mỹ khác thiết lập các chương trình
dạy và cấp bằng 4 năm ở Qatar, và bằng này tương đương bằng cấp tại Mỹ
vì giáo sư hầu hết sẽ thỉnh giảng hay dọn sang ở đây.
Cornell University cũng lập 1 đại học y khoa ở Qatar cùng với 1 bệnh viện nghiên cứu với khỏan tiền 8 tỉ đô.
Thậm
chí siêu đẳng tới ngay như Úc cũng phải thỉnh cầu Mỹ giúp đỡ: hồi tháng
5-2006, Carnegie Mellon University đã lập một khuôn viên trường vệ
tinh, dạy và cấp bằng cao học (master's degrees, hình như ở VN còn gọi
là thạc sĩ) về môn kỹ thuật tin học ở Adelaide, Uc Châu.
Chúng
ta thực sự là có quá nhiều điều để mơ ứơc. Đặc biệt là mơ ứơc về một
đất nứơc dân chủ, tự do, công bằng và nhân quyền. Nhưng dù là chưa được
như thế, và dù là ở hoàn cảnh nào đi nữa, thì nhu cầu giáo dục đại
chúng vẫn là cần thiết, trong đó tất nhiên phải là có một hay vài đại
học đẳng cấp qúôc tế. Bỏ phí một bộ não là tội lớn kinh khủng. Hãy nhớ
như thế. Để xây một đaị học, trứơc tiên là cần một tấm lòng đaị lượng,
giúp tất cả các em muốn học đều có thể đi học được. Bất kể quá khứ gia
đình các em, bất kể sắc tộc hay tôn giáo. Tấm lòng cưu mang người cả
nứơc như thế, đó mới là yêu nứơc thực sự.