Lời thưa đầu: cách đây 18 năm, vào tháng 7 năm 88, người viết theo
chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm
kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái – Miên. Mới
đây, kẻ bị coi như đã thất tung, có tên là Võ Hoàng, đã được một tổ
chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã hy sinh. Do đó,
bút ký ngắn ngủi dưới đây xin được phổ biến như một nén hương lòng
(muộn màng) để gửi đến người đã khuất. tnt.
Khi
chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy
nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn
với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ
ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn.
Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng
hạn này lại là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo
quân khác nhau.
Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua
không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được
căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người
đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi
cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của “mìn hộp gỗ” – một loại mìn bẫy
trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát
bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.
Vùng đất hiểm
nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là “sân banh cộng sản”. Lý do: người ta
ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên
giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất
cũng phải có vài trăm cặp giò của “cầu thủ bộ đội” phải để lại nơi đây.
Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã
ngửi thấy ngay mùi tử khí.
Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và
không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định
mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác
hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì
xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu,
sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít... Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều
nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa
Hè, Một Nơi Khác của chị P.T.T.T. : “... vườn ngoại có xanh um những
cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái
mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm
mặt nước...”
Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây
có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây
ăn trái, với “những mương tôm đầy tăm mặt nước... – là hình ảnh của một
thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người
Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không?
Cảnh
nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được
đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều “kỳ diệu” là cả hai đài
phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra
được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận
của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc – tương phản với nhau rõ rệt.
Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu
tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và
Ieng Sary, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát
thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc
chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Sô.
Thêm
vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự “không thể nào
tin nổi” của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề (đến độ
thô tục, bẩn thỉu) mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến
nhau hàng ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này,
hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi
một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới
bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa
lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchea chỉ là
một thí dụ điển hình.
Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người
ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt
súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân
quay lại nói nhỏ:
– Đây là bộ chỉ huy tiền phương của sư đoàn xx, thuộc lực lượng Para (Son Sen).
Trước
mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi
tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công
sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả,
đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả
một sư đoàn.
Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.
Tôi
gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười (hơi) mệt
mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến
Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang
máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động.
Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không
có vỏ.
Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt
“tỉnh như ruồi” cùng với thái độ “ai tới đâu tui tới đó” và “muốn tới
đâu thì tới”. Hiện tại thì tôi đã “tới” Cao Miên và đây còn là vùng đất
tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sen.
Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa? Tôi vẫn giữ lập trường “ai
tới đâu tui tới đó” nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng
bắt đầu lung lay và lạng quạng.
Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với
hai kháng chiến quân Kampuchea có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại
bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật
rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:
– Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.
Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía
Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi
trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi
đây chắc chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.
Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:
– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.
Đất
Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính
dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện “bên
chùa có chợ” được kìa? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn
hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ “nước đá”. Tôi ngắm kỹ khuôn
mặt trẻ thơ của em rồi buột miệng:
– Em sinh năm mấy?
– 68.
– Như vậy là em vừa đúng hai mươi há?
– Dạ, tháng tới anh.
Em
trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi
trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến
ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà? Nhiều chuyện tôi
tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai
mươi năm trước.
Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng
bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông
vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã
ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như
thế này? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm
nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh,
chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng
chiến quân trẻ con này.
Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội
vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu
vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại
mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.
Bắt đầu là
sân chùa lát đá với cái được gọi là “chợ trời” nằm chình ình trên đó.
Thực tại vốn phong phú, da dạng và... lộn xộn trong khi khả năng diễn
đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giới hạn nên tôi bắt buộc phải dùng từ
“chợ”, chỉ thêm được chữ “trời”, để mô tả một cách gắng gượng về cảnh?
thị tứ? nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa,
người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai
nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn
chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và... chấm hết!
Câu “trăm
người bán vạn người mua” xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái
chợ mini màtôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên. Tôi đếm được ba người
bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc
lực lượng Son Sen đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng
phần “tham quan” hơn là có ý định mua bán thật.
Sự xuất hiện bất
ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi
chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này.
Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn
ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt,
kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá... đều có vẻ như những xa xỉ phẩm
được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.
Sau khi
biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ
một chai “lemonade” với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc
ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:
– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.
– Mắc là bao nhiêu?
Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:
– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai “baht” lận. Mắc gấp đôi bên kia.
Mười
hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi
trường Vọng Các (Bangkok) tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền “tical” mà
chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em... tắm bằng bốn
trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:
– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.
– Để em xin phép đã.
Tôi
chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có
nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao
cùng cực, cũng như tấ cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho
mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:
– Để anh xin phép cho.
Em
nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy
mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao
thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều
cho mọi người.
Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi gìa, một ông
sư Cao Miên cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người
đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán
quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.
Bên cạnh ông là hai vị sãi
con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như
sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước
sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ
nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ
hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã
phát ngôn rằng “cửa thiền luôn rộng mở”.
Khi đi qua mặt ba vị
sãi hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán,
theo đúng như tập tục chào hỏi của người...Thái. Tôi không tin là người
Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc
làm theo y như mọi người cho nó... chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay
chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật
bằng ngôn ngữ bản xứ chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng
tôi.
Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện “xâm nhập chùa chiền” khi bước
vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã sập. Bên trong không còn gì
ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi
hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây
rậm rạp lại có một ngôi chùa.
Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích
được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá
bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có
nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:
– Hồi 85 tụi nó mang tăng vô tới tận đây đó anh.
– T 54 hả?
– Dạ.
–
Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu.
Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ
này.
– Tụi nó pháo mà.
– Em nói ai? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng?
–
Chớ còn ai nữa? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không
có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.
Tôi gật
đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa
bao giờ thấy “vững lắm” kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này
hay bên kia biên giới Thái.
– Ông vô trong này lễ Phật không?
Một
anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ
vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.
Và
tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng ái ngại. Vì nóc chùa
đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài trông đỡ dãi
dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không
khí hoang liêu cô tịch nơi đây tôi nghe rõ có tiếng ... muỗi vo ve!
Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản
chuối... khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này
thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu
đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả
một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được
giải thích liền:
– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.
Sự
thực thì anh bạn không chỉ “tỏ ra” mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng
trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất
an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần... luôn luôn phải ở
rất gần.
Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói.
Nó đạm bạc một cách thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau
đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng
ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.
Được miễn gác nên
tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái
Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã
nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và
huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.
Nếu có dịp làm cố vấn
cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều
này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây.
Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt “hiền hậu” và “dễ mến”,
bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm
cách tránh xa – cho nó chắn ăn.
Còn muỗi mòng ở Kampuchea thì có
thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da
thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ tôi
còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào
bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc
muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay...
Cùng lúc, tôi nghe
tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ,
tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng
mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch
lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lại nằm yên trên võng. Còn
họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào
hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng “trời đất ơi” đệm
vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng
nói của Thạch T.
Trong số những kháng chiến quân Khrom (người
Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch
T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất
Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi
lính, “những chuyện tình không may”, và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù
giọng nói của Thạch T. có “accent”, tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.
Tôi
tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người
ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến
bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
– Muỗi quá há!
Rõ
ràng là không ai quan tâm đến chuyện “vu vơ” đó. Mọi cặp mắt đều dán
chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T.
chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng
lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười
thích thú nói:
– Em nói anh từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T.
hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là
bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ... một hành tinh khác! Sau đó, anh
ân cần giới thiệu từng người:
– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Son Sen. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.
– Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
–
Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn
mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này
thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ thức thì.
Người thứ hai
vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm
trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không? Tôi lắc đầu cười
khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:
– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim “The
Killing Field” bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer
Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu,
khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn
sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và...bóp cò cái bộp!
Nhưng rồi
tôi lại thấy ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người
đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây
thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy
là sao da em đen quá mà răng em trắng qúa, thế thôi.
Ân hận vì
những thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn “âm
thầm” gửi đến em một lời xin lỗi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào
thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm
trước.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn
sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi
trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái
này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng
bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng... rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này
hay phe nọ để cầm súng giết nhau.
Tình trạng ở quê hương tôi
cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải,
là Quốc... những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không
cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi các em đều còn
có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu
xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi
còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều
giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn “không” là bộ đội.
Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:
– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không?
– Không.
Vậy
chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả “đại
diện” của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng
Samrin, Son Sen, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ.
Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía
Heng Samrin trước:
– Em ở với Heng Samrin bao lâu rồi?
– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.
– Sao bỏ đi?
– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là “tay sai” của Việt Nam mà.
– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sary nữa?
– Cực lắm, chịu không nổi.
– Rồi hai em có tính ở lại đây đầu quân bên Son Sen không?
–
Không, bên Son Sen không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc
tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sen)
đi vô Site II tị nạn luôn.
– Mấy em tính đi Mỹ hả?
– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.
– Vậy vô đó làm chi?
– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.
– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không?
– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sen và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không?
– Làm sao biết được nhưng lính Son Sen và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không?
– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
– Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy?
– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
– Nếu bây giờ được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì?
– Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
– Lấy vợ nữa chớ?
– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
– Còn không về được thì sao?
– Cũng chưa biết tính sao nữa?
Tôi
cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến
tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập
lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi mgười trông đều có vẻ ma quái.
Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:
– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi “hóc” lắm chứ không phải chơi đâu.
Ngọn
nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa.
Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và
nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng “tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.”
Lẫn
trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc
mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là
ngày mai cuộc đời sẽ dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.
Copyright © 2006 DCVOnline ©
Tưởng Năng Tiến