Chuyện Iraq đang ngã ngũ - Nếu ông Bush không ngã.
Ngược
với cảm quan của nhiều người, tình hình đang có chuyển biến khiến Hoa
Kỳ có thể sớm rút quân - một phần lớn - ra khỏi Iraq và cục diện có thể
sớm đi vào ngã ngũ. Nhưng chính là thời điểm bản lề này mới thêm rối bù
và đòi hỏi một cái nhìn tổng hợp. Tổng thống George W. Bush có thành
công hay không là vào giai đoạn vài tháng sắp tới…
Có bốn biến
cố đáng chú ý trong thời gian qua. Thứ nhất là các phe phái tại Iraq
sau cùng đã đạt những thỏa thuận căn bản để thành lập chính phủ. Thứ
hai là cả hai Tổng trưởng Ngọai giao và Quốc phòng Hoa Kỳ đều bất ngờ
đến Baghdad nói chuyện với các lãnh tụ Iraq. Thứ ba là loạt tuyên bố
của các lãnh tụ khủng bố Al Qeada, từ al-Zarqawi đến al-Zawahiri. Và
sau cùng là những thách thức ồn ào của Iran về hồ sơ hạch tâm.
Đâu là những yếu tố hợp lý có thể giải thích cục diện này?
Về phía Hoa Kỳ
Sau
vụ khủng bố 9-11, Hoa Kỳ cần minh chứng ý chí diệt trừ khủng bố và vừa
tấn công cơ sở của Al-Qaeda tại Afghanistan, chính quyền Bush đã nhắm
vào một mục tiêu rộng lớn hơn khi chuẩn bị mở chiến dịch Iraq.
Hoa
Kỳ vào Iraq lật đổ một chế độ nguy hiểm để cải tạo lại một xã hội Hồi
giáo (mục tiêu diệt trừ khủng bố từ gốc) đồng thời tăng cường ảnh hưởng
trong một khu vực sinh tử của cả thế giới Hồi giáo (mục tiêu an ninh
chiến lược).
Sai lầm lớn nhất của chính quyền Bush là đã lật
đổ chế độ Saddam Hussein mà không chuẩn bị lực lượng bình định hay ổn
định xã hội sau khi hệ thống cai trị của Saddam tan rã. Không chỉ Tổng
trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld mới có trách nhiệm về sai lầm này mà
cả chính quyền và nhất là ông Bush cũng đáng trách. Quân đội Saddam bị
tan rã quá nhanh có thể là một nguyên nhân gây ra tinh thần chủ quan
ban đầu.
Kết quả là Hoa Kỳ lâm chiếm chống lại ba phe Sunni (tàn
dư của Saddam, phe quốc gia chống Mỹ và phe ủng hộ khủng bố ngoại nhập)
và phải ứng phó với đòn phép chính trị lẫn bạo động của phe Shia. Sau
ba năm lâm chiến, mục tiêu cải tạo xã hội Iraq để xây dựng nền móng dân
chủ coi như chưa đạt được, nhưng Hoa Kỳ vẫn cố thiết lập những cơ chế
chính trị cho một xứ Iraq đa nguyên mà chưa đồng thuận. Mục tiêu thứ
hai là dùng Iraq như một hậu cứ trấn áp toàn khu vực Trung Đông cũng
chưa đạt được, ngược lại, Iraq trở thành tụ điểm thu hút mọi phản ứng
chống Mỹ trong toàn vùng.
Tuy nhiên, nhìn từ vụ khủng bố 9-11,
chiến dịch Iraq có đạt một kết quả "tiêu cực", là chặn được đà bành
trướng của Al-Qaeda và bảo vệ được sự tồn tại của các chế độ Hồi giáo
ôn hòa trong khu vực.
Nếu chính quyền Bush áp dụng đề nghị của
cựu Ngoại trưởng Colin Powell - là lật đổ chế độ Saddam rồi rút quân
chứ không ở lại xây dựng dân chủ để bị sa lầy như hiện nay với hàng
trăm vấn đề chính trị quá phức tạp - Hoa Kỳ đã thực sự tạo ra một môi
trường lý tưởng cho quân khủng bố. Thay vì là tụ điểm chống Mỹ, Iraq đã
thành một trung tâm bành trướng khủng bố. Và Al Qaeda đã không bị thúc
thủ như ngày nay mà có thể đã giật xập các chế độ Hồi giáo ôn hòa trong
vùng, trước tiên là Saudi Arabia.
Cho nên, người ta không thể
đơn giản nói về chuyện đúng sai hay thắng bại của chính quyền Bush tại
Iraq. Kết quả là một sự thắng bại bất phân và nhìn lại toàn cục thì
cũng khó thấy ra giải pháp nào khác. Đảng Dân chủ Hoa Kỳ chiếm thế
thượng phong vì là đối lập nên tha hồ đả kích sai lầm của chính quyền
Bush, nhưng không có một đề nghị thỏa đáng vào năm 2003 hay năm 2007,
về quá khứ hay cho tương lai.
Trước mắt thì Hoa Kỳ phải ghìm hơn
10 vạn quân tại Iraq và không thể ứng phó với một vụ khủng hoảng hay
một cuộc chiến khác trong khi dân Mỹ bắt đầu hoài nghi và chán nản với
chuyện Iraq khiến ông Bush mất dần hậu thuẫn, ngay trong đảng Cộng hòa.
Muốn dứt điểm, Hoa Kỳ phải đổ thêm quân, là điều bất khả về
chính trị. Nếu không, chính quyền Bush phải rút củi dưới nồi để Iraq
không còn là điểm sôi sục của thời sự. Lý tưởng thì vẫn là "rút mà
không lui": các đơn vị quân đội không còn phải phụ trách việc bảo an -
và là cái đích bị tấn công khiến hậu phương ở nhà sốt ruột - nhưng vẫn
hiện diện ở các căn cứ bên ngoài thành phố hầu kiểm soát tình hình
trong toàn khu vực. Ưu tiên chính trị hiện nay đòi hỏi việc "rút", ưu
tiên chiến lược trong lâu dài là "lui" về các căn cứ quân sự, sẽ được
thỏa thuận sau với chính quyền đang thành hình tại Baghdad.
Hoa Kỳ cần phải hiện diện tại đây vì một lý do an ninh chiến lược: không cho Iran thừa cơ bành trướng ảnh hưởng vào Iraq.
Iraq
có đa số dân chúng theo hệ phái Shiite được chế độ Tehran yểm trợ,
nhưng hệ phái này lại chiếm thiểu số trong toàn khu vực nếu so với hệ
phái Sunnite. Xưa kia, Iran và Iraq từng là hai cường quốc kiềm chế
nhau, ngày nay nếu Iran chi phối được Iraq qua cộng đồng Shiite thì
toàn bán đảo Á Rập, kể cả Saudi Arabia sang tới Egypt, đều có thể bị uy
hiếp và sẽ không chấp nhận được. Chúng ta đã bước ra khỏi chuyện
Al-Qaeda mà trở lại vấn đề địa dư chiến lược cổ điển: tương quan lực
lượng trong vùng.
Vì vậy, Hoa Kỳ phải san xẻ gánh nặng bảo an
qua các đơn vị Iraq - huấn luyện cảnh sát và quân đội - cho một chính
quyền đang thành hình, sau đó mới dàn xếp với chính quyền này về các
căn cứ quân sự cho tương lai. Việc hai Tổng trưởng Rice và Rumsfled qua
Baghdad tháng Tư chính là để ủng hộ chính quyền vừa thành lập và bàn
tính về chuyện tương lai. Chuyện gần nhất là việc Mỹ sẽ rút quân, như
những phát biểu của các giới chức tân cử Iraq đã cho thấy.
Then
chốt ở đây là làm sao đạt một số kết quả kiểm chứng được trước kỳ bầu
cử tại Mỹ để đảng Cộng hòa còn giữ được đa số, ít ra tại Hạ viện, hầu
Quốc hội Mỹ không tái diễn thành tích đã từng thấy tại Việt Nam: đang
khi Mỹ phải thương thảo thì Quốc hội cắt đứt quân viện để cột tay Hành
pháp.
Quốc hội Mỹ không có giải pháp nào khá hơn nhưng có khả
năng chặn đứng chiến dịch Iraq bằng ngân sách, và đồng minh lại… tháo
chạy.
Bây giờ, ta mới nói về phía Iraq.
Về phe Sunni
Trước
đây, từ 2003 đến giữa năm 2005, phe Sunni chiếm thế thượng phong dù chỉ
có 20% dân số. Họ nuôi quân khủng bố (Thánh chiến và Al-Qaeda) và phiến
looạn (đảng Baath của Saddam và phe quốc gia chống Mỹ) để phá hoại kế
hoạch bình định của chính quyền Bush. Sai lầm của Hoa Kỳ là giải tán
quân đội và lực lượng Baath khiến họ đứng về phe chống Mỹ, hoặc trở
thành thổ phỉ, cướp bóc và bắt cóc để tống tiền.
Sau trận Fallujah năm 2004, Hoa Kỳ hiểu ra sự thể và vừa đánh vừa đàm trong khi dựa trên thế lực Shiite làm đòn bảy.
Các
lãnh tụ Sunni đều hiểu rằng nếu chia ba xứ sở, họ sẽ lãnh… miền Trung,
không có dầu khí, nhường lại hai khu vực có trữ lượng dầu rất cao cho
phe Kurd ở phương Bắc và Shia ở miền Nam. Họ dùng quân Thánh chiến
Jihad làm đòn bẩy và tấn công phe Shia để giành lại ưu thế đã có dưới
thời Saddam và nay đã mất. Trong khi ấy, họ muốn chứng minh với Hoa Kỳ
rằng họ không liên hệ gì với Al-Qaeda và có thể là lực lượng kiềm chế
được quân khủng bố.
Mục tiêu của họ là tham gia vào chính
quyền Iraq và có phần trong việc khai thác tài nguyên dầu khí, và vừa
phá hoại việc bình định của Hoa Kỳ họ lại vừa muốn Hoa Kỳ phải có mặt
dể họ khỏi bị phe Shia đa số tiêu diệt, hoặc để Iran khỏi khống chế
toàn cõi Iraq.
Là đối thủ của Hoa Kỳ, họ có những mục tiêu
tương đồng với Hoa Kỳ và cuối cùng đã tham gia bầu cử và nay đang hiện
hữu trong chính quyền mới.
Về phe Kurd
Dân Kurd muốn
được độc lập nhưng biết rằng đấy là giấc mơ. Cộng đồng Kurd mà độc lập
thì dân Kurd tại Iran và tại Turkey sẽ phá vỡ sự thống nhất của hai xứ
này. Cộng hòa Kurdistan mà thành hình thì lập tức phải khai chiến với
phe Shia tại Iraq và hai nước Iran và Turkey.
Ngược lại, trong chính quyền Iraq hiện nay, họ chiếm ba bốn ghế quan trọng, kể cả Tổng thống và Ngoại trưởng.
Không
đòi độc lập, họ đòi thêm quyền tự trị và gặp trở ngại với hai phe Sunni
và Shia tại Iraq lẫn sự phá hoại của các nước lân bang như Syria,
Turkey và nhất là Tehran. Vì vậy, phe Kurd đành bọc xuôi theo nước cờ
của Hoa Kỳ nhưng cũng biết rằng nếu cần thỏa hiệp với Iran và Syria,
Hoa Kỳ sẵn sàng hy sinh quyền lợi của dân Kurd. Họ đã hiểu rõ thân phận
đồng minh của Mỹ không thua kém gì người Việt.
Mặt khác, phe
Kurd cũng còn một ưu thế là sinh hoạt trên các túi dầu lớn tại miền Bắc
và phải đấu tranh chống lại các đòi hỏi chia phần của phe Sunni. Còn có
phần để chia là còn có hy vọng thỏa thuận. Cho nên thà là đạt thắng lợi
dù chưa dứt khoát ngay trong hiện tại còn hơn là chẳng được gì. Với thế
mạnh về chính trị trong nội các Baghdad và về kinh tế trên tài nguyên
dầu hỏa, họ có thể bành trướng được sức mạnh của cộng đồng mình, là
điều chưa từng có và không thể có dưới chế độ Saddam.
Về phe Shia
Trong
ba cộng đồng cấu thành xứ Iraq, cộng đồng Shia thực ra mới có những mâu
thuẫn và phe phái rắc rối nhất. Nhưng phe nào cũng đồng ý với một mục
tiêu căn bản là phải kiểm soát hay khống chế được chính quyền Iraq và
qua đó ngăn ngừa phe Sunni có thể chiếm lại tư thế thống trị thời
Saddam.
Trong giai đoạn đầu, khi phe Sunni nổi loạn, các lãnh tụ
Shiite đã sát cánh với Mỹ để đẩy lui thế lực Sunnite và mong rằng các
lãnh tụ Sunni mà cực đoan tẩy chay bầu cử thì họ sẽ đặt mục tiêu hoàn
toàn kiểm soát chính quyền Baghdad. Nhưng, phe Sunni không dại và xua
dân đi bầu vào tháng 12 năm 2005 để rồi tham gia chính quyền. Từ đấy,
Hoa Kỳ hết cần cái gậy Shia để bẩy các lãnh tụ Sunni vào bàn hội nghị,
và gây phản ứng khó chịu của các lãnh tụ Shiite lẫn các Giáo chủ tại
Tehran.
Bây giờ, các lãnh tụ Shiite phải chấp nhận một thực tế
kém vui là mình chỉ chiếm thế mạnh ở bên trong chứ không thể khống chế
được chính quyền tại Baghdad. Với thế mạnh ấy, họ sẽ kiểm soát được
phần nào tài nguyên dầu khí và tương lai của Iraq. Trước việc Al-Qaeda
muốn phá vỡ thế hòa giải giữa hai phe Sunni và Shia bằng những đòn
khủng bố phá hoại, họ phải vừa kiềm chế phản ứng của quần chúng vừa đòi
hỏi Hoa Kỳ phải gây sức ép với phe Sunni.
Dù sao, trên căn bản
quyền lợi, phe Shia vẫn không muốn có nội chiến, không chấp nhận quân
khủng bố xưng danh Thánh chiến mà chỉ đòi hỏi tối đa trong cơ chế chính
trị tương lai trong khi vẫn ý thức được là giứt giây thì sẽ động rừng.
Và trong thâm thâm, nhiều lãnh tụ Shia cũng chẳng muốn mình sẽ là quân cờ cho các đồng đạo ở Tehran.
Về phần Iran
Các
giáo chủ Hồi giáo cực đoan của Iran đã muốn giương cao lá cờ chống Mỹ
từ 1979 để thành bá chủ trong thế giới Hồi giáo. Vì vậy, họ không mấy
có thiện cảm với Al-Qaeda, một lực lượng khủng bố theo hệ phái khác và
còn chơi trội với đòn khủng bố 9-11.
Tehran đã từng kín đáo yểm
trợ Hoa Kỳ trong chiến dịch Afghanistan là vì lý do ấy. Và họ cũng muốn
Hoa Kỳ nhập cuộc tại Iraq để lật đổ chế độ Saddam của phe Sunni.
Mục
tiêu của Iran là qua cộng đồng Shia và các lãnh tụ Shiite trong chính
quyền Baghdad họ khống chế được Iraq. Một kẻ cừu thù nay sẽ là chư hầu
của mình. Từ đấy, Iran có thể chi phối cả bán đảo Á Rập và vùng Vịnh,
nghĩa là đẩy lui ảnh hưởng của Saudi Arabia và Egypt
Hoa Kỳ
càng lúng túng với cuộc nổi loạn của phe Sunni thì Iran càng có lợi vì
Mỹ bị suy yếu, phải dựa vào cộng đồng Shiite tại Iraq và có khi tháo
chạy. Nhưng, đồng thời, nếu phe Sunni lại quá mạnh và nổi loạn liên tục
thì việc Tehran thống trị Iraq lại khó thành hình. Mâu thuẫn ấy giải
thích những lúng túng và lo sợ của Iran.
Tựu trung thì kịch bản tồi tệ nhất cho Iran đang thành hình tại Iraq.
Thứ
nhất, Tổng thống Bush lại lỳ hơn mọi tính toán của Tehran, ông không
rút chạy. Thứ hai, phe Sunni lại mạnh hơn mọi dự tính ban đầu của
Tehran nên không dễ gì mà bị phe Shiite tiêu diệt để hoàn toàn khống
chế Iraq. Thứ ba, sau khi vừa đánh vừa đàm, Hoa Kỳ nay hợp tác với các
lãnh tụ Sunni để ngăn ngừa thế lực quá lớn của dân Shia. Thứ tư, các
lãnh tụ Shiite cũng suy nghĩ lại: họ không muốn chết kẹt giữa tham vọng
bành trướng của Iran và nội chiến tại Iraq nếu Mỹ nản chí tháo chạy. Vì
vậy, phe Shia tại Iraq đã nhìn sự yểm trợ của Tehran với con mắt khác.
Trước sự thể kém vui ấy, các Giáo chủ Tehran muốn gì và có thể làm gì?
Họ
không thể biến Iraq thành chư hầu như dự tính lúc ban đầu và chỉ mong
rằng Iraq hết là một cường quốc có thể thách đố hay tấn công Iran. Một
mục tiêu khiêm nhường và thực tế hơn nhiều.
Muốn đạt mục tiêu
ấy, họ phải can thiệp vào chuyện Iraq qua các vụ thương thảo ngầm với
Mỹ để thứ nhất, quân đội Iraq trong tương lai chỉ có khả năng bảo an và
phòng thủ, không có khả năng tấn công Iran, thứ hai, phe Shia vẫn có
thế mạnh trong chính quyền Baghdad, thứ ba, phe Kurd không thể bành
trướng để thu hút cả dân Kurd tại Iran, và sau cùng, Hoa Kỳ không vĩnh
viễn hiện diện tại Iraq. Đạt được bốn kết quả ấy thì Iran đã thấy dễ
thở hơn thời Saddam Hussein, thời trước 2003.
Chuyện hù họa
Israel và thế giới với võ khí hạch tâm chỉ nhắm vào những mục tiêu tại
Iraq. Từ khi lọc được chất uranium đến ngày chế tạo ra bom hạch tâm và
sử dụng võ khí ấy, Tehran phải mất vài năm. Làm sao dùng mối nguy ấy để
đạt kết quả tại Iraq mà không gây ra chiến tranh là một màn xì phé nhức
tim cho chính các lãnh tụ Tehran.
Tổng kết
Sau khi điểm
qua tình hình của ngần ấy phe liên hệ, người ta thấy rằng thời cơ ngày
hôm nay có thể dẫn tới một giải pháp lâm thời cho Iraq.
Chính
quyền Bush vẫn còn khả năng gián chỉ (can gián bằng sứcmạnh) để một
chính quyền liên hiệp phải thành hình tại Baghdad. Chính quyền ấy sẽ
cho phép Hoa Kỳ giảm bớt sự hiện diện tại Iraq, và lính Mỹ bớt thương
vong.
Sau đấy, Hoa Kỳ sẽ đồn quân tại các căn cứ quân sự ở
Iraq đến khi nào thì các phe sẽ còn thảo luận. Từ nay đến đó, việc chia
chác quyền lợi kinh tế nhờ dầu hỏa có thể là cái giá phải mặc cả giữa
ba phe Sunni, Kurd và Shia.
Điều bất trắc ở đây là ngần ấy lực
lượng liên hệ đều không thể thống nhất quan điểm ngay trong nội bộ, kể
cả Hoa Kỳ, với một chính quyền đang suy yếu và một Quốc hội rất mạnh và
không biết mình muốn gì với sức mạnh ấy.
Điều bất trắc ấy có thể
khiến Mỹ không triệt thoái được trong thế mạnh và Al Qaeda sẽ nhân cơ
hội mở rộng hoạt động ra toàn khu vực sau khi đã bị đẩy vào thế thủ tại
Afghanistan và Iraq. Ông Bush sẽ được lịch sử phê phán ở những việc sẽ
làm nội trong năm nay…