Theo Đàn Chim Việt - Tràm Cà Mau - 09-03-2006
Những gì khác biệt
Vì ham cái vé máy bay hạ giá, tiết kiệm được mấy chục đồng cho mỗi
người, mà chúng tôi làm một chuyến du lịch qua Nhật. Kết quả là đắt hơn
vài ngàn, cho cả hai vợ chồng, nếu so với giá vé và chi phí của các
hãng du lịch tổ chức. Lại chỉ đi được một ít nơi mà thôi. Ban đầu,
chúng tôi muốn đi thăm vùng thủ đô Tokyo cho biết, nhân tiện thăm thêm
hai gia đình anh em chú bác, cô cậu cũng ở trong thành phố nầy. Sau khi
mua vé máy bay xong, bà xã tôi lục internet liên mạng, tìm được vô số
dữ kiện về khách sạn, đường xe điện, đường xe buýt, có kèm giá cả và
chỉ dẫn, và in ra cả bản đồ xe điện ngầm, xe buýt có màu sắc sặc sỡ. Có
ghi rõ từng khu, từng ga xe, hướng dẫn cách đi đến từng khách sạn, đi
theo hướng nào, mấy ngã tư thì quẹo trái, quẹo phải . Bản đồ có ghi
bằng chữ Latin chứ không phải toàn thứ chữ chấm phết như bùa chú của
Nhật bản. Bà xã tôi nói rằng, dễ vô cùng, muốn đi đâu, thì cứ theo màu
sắc của con đường vẽ trên bản đồ mà tới. Tôi thì không lạc quan, chỉ
một việc nhỏ nhất, là làm sao biết được xe lửa đã đến ga nào mà xuống
cũng đã là một vấn đề. Không có một chữ Nhật lận lưng, làm sao mà hỏi
được ai. Điều tôi lo nhất là khi đang đi du lịch, mà cần đi tiêu đi
tiểu, thì làm sao mà nói, mà hỏi. Nước Nhật chứ đâu phải Mỹ mà nơi nào
cũng sẵn có nhà vệ sinh công cộng cho mình xài. Tôi nhớ trong sách du
lịch có viết rằng, nước Nhật sạch sẽ và ngon lành lắm, nhưng xin bạn
đừng ngạc nhiên khi thấy đàn ông Nhật vén quần đứng xả vòi rồng bên
đường, vì không có nhà vệ sinh. Giống như ở Việt Nam mình ngày xưa, các
ông taxi hay ngồi xuống úp mặt vào bánh xe, kéo quần tè vào lườn xe.
Không lẽ mình phải thủ sẵn một cái chai và cái áo dài lùng thùng để
trùm lại khi cần làm việc khẩn thiết. Tôi nhớ lần đầu tiên đi xe đò từ
Sài gòn về miền Trung, khi xe đến một vùng đồi núi cây cối lúp xúp gần
Phan Thiết thì dừng lại. Đàn ông đàn bà trên xe vội vã nhảy xuống, rần
rần chạy mau về phía núi. Tôi ngơ ngác không biết có chuyện gì xẩy ra
mà thiên hạ chạy đi xem nhiều như thế. Tôi cũng vội nhảy xuống xe, chạy
theo về hướng đó. Chạy được một đoạn, thì tôi đỏ mặt xấu hổ quay lui,
tẽn tò khi thấy hàng chục cái mông đàn bà trắng hếu đang chỉa về phía
tôi. Thì ra xe đò ngừng cho hành khách chạy vào bụi rậm ven núi đi tiểu.
Tôi vốn có thành kiến về nước Nhật qua sách vở, báo chí và truyền
thông. Tôi cảm phục dân tộc đó vì biết họ, với hai bàn tay và khối óc,
không có tài nguyên thiên nhiên, đã xây dựng được đất nước thành một
cường quốc quân sự trước thế chiến thứ hai, và thành một cường quốc
kinh tế sau khi thua trận đầu hàng Đồng Minh. Nhưng tôi không thể thông
cảm cho cái tư tưởng và hành động trung quân mù quáng, chết cho Thiên
Hoàng, mổ bụng tự tử vì Thiên Hoàng. Thiên Hoàng Hiro Hito của họ, dưới
mắt tôi là một gã mặt mày không được sáng sủa chi lắm, có vẻ lù đù, cận
thị nặng, và không biết nhục khi thua trận, không dám nhận trách nhiệm,
mà đổ lỗi cho đám quân phiệt để cầu mạng sống cho riêng mình. Tôi càng
không cảm tình vì hành động hung bạo của quân đội Thiên Hoàng khi chiếm
đóng vùng Á Châu, họ tàn sát hàng trăm ngàn người vô tội khi vào Nam
Kinh bên Tàu, giết cả ông bà già, con trẻ, không tha một ai. Binh sĩ
Thiên Hoàng vô cùng tàn bạo với tù binh trong đệ nhị thế chiến. Nước
Nhật còn có trách nhiệm làm hai triệu người Việt Nam chết đói vào năm
1945, khi đó dân số Việt Nam chưa đầy 18 triệu, nghĩa là chết trên mười
phần trăm dân số. Qua phim ảnh, tôi thấy người Nhật khi nào cũng bắng
nhắng, khi nào cũng chạy chạy như là gấp gáp lắm, ăn uống cũng hốt
hoảng, nói năng thì như nạt nộ gây gổ nhau, và hở một chút là vung kiếm
chặt đầu, đâm xuyên bụng người khác, xem mạng người như ngóe.
Đọc sách báo, thấy giá cả và đời sống Nhật đắt đỏ đến ớn lạnh, một
ký cá hồi có khi bán cả trăm đô la, một trái dưa cũng bảy tám đô, thịt
bò cũng cả vài chục đô một ký. Thức ăn thì sống sít, và ăn uống như mèo
ăn, cái gì cũng chút chút, chút chút vài ba miếng tí teo. Dưa thì hai
lát, hành thì ba cọng ngắn, thịt một cục nhỏ rí. Một anh bạn tôi bảo
dân Nhật là tổ sư của người Huế , dĩa thức ăn của người Huế thì nhỏ tí
ti và ít xịt, quơ một ngoai đủa là hết cả dĩa. Thế mà dĩa thức ăn Huế
có thể chia thành mười dĩa ở Nhật. Tôi từng nghe một ông đầu bếp năm
sao tiệm Nhật bảo rằng thức ăn Nhật đã nghèo nàn mà dở. Nhà cửa thì
chật chội, được tính bằng đơn vị “chiếc chiếu”, nhà 5 chiếu, nhà 3
chiếu, nghĩa là diện tích căn nhà bàng chừng đó thôi. Chiếu của Nhật có
tiêu chuẩn khoảng một mét chiều ngang, hai mét chiều dài.
Trước khi đi Nhật , mấy ông bạn Mỹ trong sở đã từng đi Nhật, sống
ở Nhật vài ba năm, cho mượn sách về nước Nhật, về Tokyo, Kyoto nhưng
chúng tôi làm biếng, không đọc. Các ông cho biết nếu mà không đến Cố Đô
Kyoto, là xem như chưa đến Nhật. Bởi vậy, chúng tôi định mua một cái vé
xe điện cao tốc, gọi là “bullet train” - tàu đầu đạn - có thể đi nguyên
tuần bất cứ đâu, mà không trả thêm tiền. Nhưng sau khi nói chuyện điện
thoại với người bà con ở Nhật, họ nói không cần phí tiền như vậy, họ có
thể mua cho vé đi về một chuyến, và đặt trước cả chỗ ngồi , khỏi phải
đứng mệt khi tàu đông. Mua trước cho vé đi “tua” thăm các thắng cảnh
của cựu đế đô nầy.
Máy bay từ San Francisco đến phi trường Narita, Tokyo, đi ngược
chiều quay của quả đất về hướng tây, nên mặt trời như luôn luôn rọi
trên đầu chúng tôi, những vùng máy bay đi qua đều là buổi trưa. Nhưng
khi đến nơi thì phải xem như buổi trưa cuả ngày khác, sau một ngày trên
lịch. Đến phi trường, thủ tục cũng giản dị, không phải chờ đợi rồng rắn
dài mất thì giờ. Đi qua cửa quan thuế, không phải dúi tiền cho ai cả,
họ vui vẻ, dễ dàng, tin vào lời khai của mình. Hai gia đình bà con đến
đón chúng tôi tận phi trường. Cô em con bà dì có chồng làm cho chính
phủ liên bang Mỹ, phục vụ trong ngành công binh cho lục quân Mỹ đồn trú
tại Nhật, nhờ vậy chúng tôi được đi xe buýt của căn cứ từ phi trường về
doanh trại Mỹ, khỏi tốn tiền xe. Nếu đi taxi thì cũng phải trên trăm
dollars, mà đi xe buýt phi trường thì cũng chừng ba bốn chục đô mỗi
người, rồi sau đó phải lấy xe lấy tàu đi thêm nữa mới đến nơi. Ông em
chú bác, thì đã ở Nhật cả hơn ba mươi năm , đi du học rồi ở lại luôn
sau khi miền Nam thua trận. Anh em ôm nhau bùi ngùi sau ba mươi năm xa
cách. Bây giờ chú có dáng dấp của một ông Nhật chính cống. Còn chúng
tôi, thì không thể giống Mỹ được và không có nét nào của Mỹ cả. Tôi cảm
động, đời sống ở Nhật bận rộn, tất bật đến thế, mà chú cũng dành thì
giờ đem cả gia đình ra đây đón chúng tôi. Ngồi bên nhau trên xe buýt,
chúng tôi nhắc lại một vài kỹ niệm xưa khi còn ở Saì gòn. Tôi thầm
nghĩ, xưa ai mà ngờ có ngày tan tác, thất tán gia đình, bạn bè, mỗi
người một quốc gia, làm lại cuộc đời khắp các xứ trên thế giới nầy đâu.
Đứa bé trai sáu tuổi con của chú, rất thân thiện khi gặp tôi lần dầu,
nó nói tiếng Nhật pha tiếng Việt. Nó là đứa cháu đích tôn của chú tôi,
nếu còn sống, chắc chú tôi sung sướng hãnh diện lắm.
Xa lộ ở Nhật có lẽ cũng không nhiều và không rộng lắm, lưu lượng xe cộ
không đông đúc như xa lộ Mỹ, nhưng cũng phải chạy chậm vì khá kẹt xe.
Mỗi bên có hai đến ba lằn đường, và đi mỗi khoảng thì có trạm thu tiền
đường, chúng tôi tạm gọi là tiền mãi lộ . Tiền nầy rất đắt so với các
xứ khác. Ở Nhật đất đai chật chội hiếm hoi, dân chúng dùng phương tiện
chuyên chở công cộng, vừa nhanh chóng, vừa rẻ tiền, mà rất thuận lợi.
Xe điện có nhiều hệ thống bao trùm các thành phố, xe tới liền liền,
không phải chờ đợi lâu lắc dài cổ và phí thì giờ. Bởi vậy nên người em
con chú tôi ở Nhật đã 30 năm mà vẫn không mua xe, vì không cần thiết và
cũng vì ngày trước ở ngay trung tâm thành phố Tokyo, một chỗ đậu xe
phải trả khoảng bốn trăm đô mỗi tháng, không phí tiền làm chi. Đường
phố thì đa số đều chật hẹp vô cùng, có lẽ ngày xưa vừa cho xe ngựa
chạy, nay thì xe chạy hai chiều trên một lằn đường, hai xe tránh nhau
thì hết cả lòng đường. Lề đường cho bộ hành đa số đều rất hẹp hoặc
không có. Thế mà thỉnh thoảng cũng thấy có xe đậu choán hết một nửa
đường, các xe khác đi qua phải né sát về phiá lòng đường còn lại. Luật
ở đây cho phép đậu trên lòng đường khi phần còn lại đủ cho một xe đi
qua, với điều kiện chủ xe phải lảng vảng đâu đó, để khi cần thì dời xe
đi. Lái xe đường phố thì chật chội, dễ gây tai nạn, lái xe xa lộ thì
tiền đường quá đắt, nên dù có xe, người ta cũng ít xử dụng. Đa số, mua
chiếc xe năm bảy năm mà chỉ chạy vài chục ngàn dặm thôi. Có lẽ còn chạy
ít hơn các cụ gìa ở Mỹ khi về hưu mắt kém, tay run, hết gân, chỉ cần xe
đi chợ mà thôi. Bởi vậy nên bạn tôi mua chiếc xe Toyota, mới chạy có
hai chục ngàn dặm, chỉ có chín trăm đô la. Một bà khác trong căn cứ Mỹ,
bảo là xe bà phải đem cho đi, và sẽ mua xe khác, vì xe đã chaỵ đến bốn
mươi lăm ngàn dặm rồi. Có phải dân Nhật chơi xe sang hơn dân Mỹ không?
Có lẽ là không, vì ở Mỹ, nghèo mạt rệp cũng phải có một chiếc xe làm
chân mà chạy kiếm miếng ăn. Không có xe là kẹt cứng. Ở Nhật, phải là
dân khá, mới chịu nỗi phí tổn chơi xe. Riêng một cái bằng lái xe thôi,
cũng phải tốn đến trên năm ngàn đô la Mỹ mới lấy được, mà khó khăn lắm,
không phải dễ dàng như ở Mỹ. Giá xăng lại rất đắt, chỗ đậu xe không có,
mà phải thuê chỗ đậu xe hàng tháng. Mua xe, thì hãng bán xe sẽ chịu
luôn bảo hiểm sửa xe cho người mua. Nghĩa là phải bán chiếc xe tốt,
không hư hại lặt vặt, còn không thì lỗ sập tiệm. Xe ở Nhật mà chết máy
làm kẹt lưu thông, thì chủ xe trả tiền phạt đến chóng mặt, cho nên
không ai dám lái xe cà tàng ra đường nếu không chắc rằng xe mình không
chết máy bất tử.
Từ phi trường về nhà cô em bà con cũng gần hai tiếng, xe đưa chúng
tôi về tận căn cứ Mỹ tại Tokyo. Chồng cô là kỹ sư Công Chánh, làm việc
cho chính phủ Liên bang Mỹ, chuyên lập dự án xây dựng và sửa chửa các
công ốc thuộc các căn Mỹ cứ trên toàn nước Nhật. Chồng cô em nầy là bạn
cũ của tôi thời trước. Chỉ có hai vợ chồng thôi, mà anh được cấp một
căn nhà rộng thênh thang, ba phòng ngủ hai phòng tắm trong một cao ốc
sang trọng. Bàn ghế, giường tủ cũng được trang bị dầy đủ, toàn cả những
thứ đóng bằng gỗ quý. Điện nước cũng khỏi phải trả tiền.
Tôi tưởng đến nhà bạn là phải cởi dép và ngồi xệp dưới sàn trên tấm
chiếu bên cạnh cái bàn thấp, mà chuyền nước trà. Tôi chuẩn bị cho cái
chân và cái lưng sẳn sàng chịu đau đớn vì phải ngồi xệp trên sàn nhà.
Nhưng không, trang bị bên trong hoàn toàn theo lối tây phương, không có
chút gì là Nhật Bản cả. Bếp núc rộng rãi sáng sủa, phòng tắm cũng rộng
thênh thang, phòng ngủ rộng, có nhiều ngăn tủ đựng áo quần, lớn có thể
đi vào được. Hoàn toàn Mỹ, chẳng có chút chi Nhật cả. Căn nhà nầy tọa
lạc trong một căn cứ lục quân Mỹ. Không có vẻ gì là một căn cứ quân sự,
vì không thấy lính tráng đâu cả, mà cũng không có những dãy nhà ngay
hàng thẳng lối có những phòng rộng mà trong đó quân nhân đặt giường san
sát. Căn cứ nầy giống như một khu phố khang trang của một thành phố nhỏ
bên Mỹ. Đường sá tráng nhựa phẳng phiu, vòng vèo ngăn nắp, sạch sẻ.
Những căn nhà đủ loại, đủ kiểu, cỏ trồng cắt xén gọn gàng, hoa nở sặc
sỡ . Chỉ thấy có chút quân sự là bốn cỗng ra vào, có trạm gác, lính
Nhật gác cỗng, soát thẻ vào ra, và cúi rạp mình chào khi khách đi qua.
Bạn chở tôi lên xe đi quanh khu doanh trại xem cho biết. Đây là bưu
điện Mỹ, giống như một trạm bưu điện trung bình bên Mỹ, có nhân viên
bưu điện ngồi quầy, xài tem Mỹ và tiền Mỹ. Bên kia là nhà tập thể dục
rộng lớn, bên trong có trang bị đầy đủ dụng cụ, có huấn luyện viên, và
có cả hồ bơi . Có cả khu tắm tồng ngồng theo lối Nhật Bản, mà hồi mới
qua đây, vợ bạn tôi chưa quen nên thường hay quàng cái khăn che tạm
dưới bụng trước khi vào bồn tắm. Sau đó, thấy tấm bảng ghi cấm đem khăn
vào, vì sợ làm mất vệ sinh. Cũng lạ, tắm chung không sợ mất vệ sinh, mà
đem cái cái khăn tắm vào phòng thì không cho. Có người bảo rằng không
dám vào tắm các nơi trần truồng đó, không phải vì e thẹn, không phải vì
ngượng, mà sợ lỡ ra ‘thằng con dễ nuôi mà khó dạy' nó chỉa thẳng ra bất
tử thì có nước mà độn thổ. Dù không có tà ý trong đầu, khi mà mình càng
cố kềm chế nó, thì nó càng dễ sinh sự làm mất mặt. Nghe đâu luật lệ
trong hồ tắm rất nghiêm ngặt, phải tắm trước bên ngoài thật sạch sẽ,
không phải vào hồ mà kỳ cọ ghét ra hàng đống đen như con sâu. Vợ tôi
hỏi: “ Nếu đã tắm bên ngoài sạch sẽ rồi thì bày đặt vào hồ làm chi cho
thêm bẩn vì nước tắm chung, và thêm xấu hổ vì phơi bày cái của nợ ra.”
Ông chồng cô em tôi nói: “ Kỳ lắm, khi nào vào bồn nước cũng cảm thấy
muốn đi tiểu, có lẽ vì áp suất nước ép lên người, cố nín mà không được,
phải đi ra tìm nhà tiểu mà xả. Những người làm biếng, thì tiểu đại vào
hồ, ai mà biết được, vào đó tức là tắm nước tiểu thiên hạ chứ có sạch
sẽ gì?” Bên kia đường là nhà sách, chúng tôi vào xem, có bán đủ thứ
sách như một tiệm sách bên Mỹ. Từ sách học, sách về nấu ăn, về thể
thao, du lịch, vệ sinh, luyện tập tâm linh, tiểu thuyết, thơ văn .
Nhiều nhất là loại học tiếng Nhật cho người ngoại quốc. Tiếng Nhật cho
Mỹ, Pháp, Đức Ý, Phi , Đại Hàn, Thái Lan, Mễ và có cho cả người Việt
Nam nữa. Thế thì cần chi mà về Mỹ mới tìm được sách muốn mua. Nhiều
cuốn dày mỏng khác nhau. Có cả một cuốn sách riêng dạy về những câu
thông dụng trong tình yêu. Tôi lật sơ qua, thấy những chương chào hỏi,
làm quen, mời đi ăn, đi chơi, tỏ tình, khi âu yếm, trên giường lúc yêu
đương, và cả mục khi gây gổ cãi nhau, và mục cuối cùng là những câu nói
khi li dị. Thật là chu đáo cho một cuộc tình từ khởi đầu đến kết thúc,
có đủ ngôn ngữ để truyền thông mà không phải quơ tay múa chân lung tung
ra dấu bằng ngôn ngữ quốc tế. Ngoài tiệm sách ra, còn có một thư viện
lớn, nhân viên có thể đến mượn sách đọc. Đủ các loại sách, như một thư
viện của thành phố. Trong một khu khác, có nhiều quán ăn Mỹ, có quầy
rượu. Anh bạn cho biết, mỗi chiều thứ sáu có tổ chức ăn khỏi trả tiền,
chỉ phải tự trả tiền bia, tiền rượu, không uống thì khỏi trả gì cả, ăn
thả dàn. Được gọi là “giờ sung sướng” . Những quán ăn bên trong căn cứ
nầy bán giá rất rẻ, so với bên ngoài, và còn rẻ hơn những quán ăn chính
trên đất Mỹ. Một buổi trưa chúng tôi vào ăn theo lối bao bụng mà chỉ
trả mỗi người năm đô la thôi. Chắc chính phủ có bù lỗ cho người thầu
nhà hàng mới có được giá đó. Có lẽ không phải loại quán “quốc doanh”
của quân đội. Vì e cái gì mà dính đến quốc doanh thì cũng bê bối, bầy
bừa, không có chất lượng, và đối xử với khách hàng như lũ ăn mày. Trong
khu nầy, cũng có những quán cà phê, quán rượu, nhạc sống ban đêm và
nhạc qua máy hát. Trong quán còn có máy đánh bài, loại mà bên Việt Nam
đặt tên cho là “Tên Cướp Một Tay”, để các quân nhân xa nhà có nơi mà
cúng tiền cho mau hết.
Khu chợ Mỹ, bán đủ các thứ hàng hóa chuyên chở từ Mỹ qua, giá rẻ
như hoặc rẻ hơn các siêu thị bên Mỹ, lại không có thuế. Thức ăn cũng
chở từ Mỹ qua, không biết quân đội họ điều hành tài tình thế nào, mà
giá thức ăn so với Mỹ, thì có phần rẻ hơn chút đỉnh. Đương nhiên thức
ăn và các thứ như bia, rượu, thì bên ngoài doanh trại , giá gấp nhiều
lần bên trong. Tôi thấy mình nghĩ sai khi lần đầu nghe anh bạn tình
nguyện xin đi Nhật, tưởng đâu cái đắt đỏ bên Nhật sẽ nghiền nát anh. Cả
các thứ vật dụng như áo quần, đồ diện tử, máy truyền hình , tủ lạnh,
computer, cũng rẻ hơn Mỹ. Chắc chắn là rẻ hơn giá ở ngoài phố Nhật.
Trên sân cỏ, có chưng bày những xe mẫu kiểu mới nhất, của các hãng sản
xuất Mỹ. Và giá hàng rẻ hơn tại Mỹ, bởi vậy cho nên, nghe đâu, đông đảo
người mua xe tại Nhật mà trao hàng tại Mỹ. Trong khu chợ, còn có các
tiệm ăn Mỹ , Mễ và các tiệm trò chơi điện tử cho trẻ em con nhân viên
giải trí. Sân chơi dã cầu rộng mênh mông, có hàng rào lưới cao chừng
hai mươi thước bao quanh. Có trường học Mỹ riêng cho con em học đến hết
bậc trung học mà khỏi trả học phí. Có thể nói những căn cứ nầy là một
thành phố tiêu biểu thu lại, không thiếu một thứ gì mà xứ Mỹ có.
Mấy năm trước, khi bạn tôi nộp đơn tình nguyện đi Nhật, vì thương
bạn, tôi có ý gián tiếp, bóng gió can ngăn. Vì tôi nghĩ , mình ở Mỹ đã
hai mươi năm, có gia đình, có bạn bè, có cộng đồng ngươi Việt chung
quanh, ăn nói cũng tạm được, tiếng Mỹ cũng đã quen, mà còn thấy trong
lòng không vui trọn vẹn, vẫn còn một vướng mắc quê hương nào đó, một
chút lạc lõng , không hoàn toàn hòa đồng với xã hội. Huống chi đến một
nơi, một chữ cũng không biết, không nói được, không nghe được, lạ lùng,
thì chắc chắn buồn lắm, hoang mang còn hơn cái hồi mới đi định cư nữa.
Nhưng tôi lầm, bạn tôi sống ở đây, chẳng khác nào sống trên đất Mỹ, nói
tiếng Mỹ, mua đồ Mỹ, ăn lối Mỹ, sống lối Mỹ, không cần tiếp xúc đến cái
xã hội chật chội đắt đỏ và lạ lùng của Nhật bên ngoài vòng rào trại.
Bên ngoài căn cứ là một xã hội chật chội, đắt đỏ hối hả. Nhà liền nhà,
phố liền phố, không có vườn cây, không có thảm cỏ, hoa trồng trên những
thẻo đất nhỏ nhắn trước nhà, trong góc sân. Đường chật vừa đủ cho hai
xe né tránh sát nhau. Bộ hành không có lối đi riêng. Thế mà bên trong
doanh trại, thì nào là sân chơi trẻ em hai ba cái, thảm cỏ xanh, công
viên trồng cây, hồ nước, sân banh, đường rộng hai bên có lề cho bộ hành
đi. Không biết người Nhật họ có khó chịu khi thấy cảnh tương phản nầy
không, có lẻ họ cũng không ưa nhưng khôn ngoan im lặng. Đi làm việc cho
chính phủ liên bang Mỹ tại Nhật, bạn tôi cho biết, riêng tiền phụ cấp
đắt đỏ thôi, cũng ăn tiêu mà chưa hết, lương chính thức chưa bao giờ
đụng tới. Anh cho biết , có một anh chàng kỹ sư công nghệ họ Bùi, suốt
mười mấy năm nay đi làm tại ngoại quốc cho chính phủ liên bang Mỹ.
Không biết để tiền lương ở đâu và làm gì cho vơi bớt. Bạn tôi tiếc là
không biết sớm về các công việc làm cho chính phủ liên bang như thế
nầy. Vợ bạn, là cô em bà con của tôi, đúng một người đàn bà Việt Nam
thuần túy, chìu chồng, dịu dàng và tuân phục, cưng chồng như một ông
hoàng nhỏ. Không biết bạn tôi có thấy điều đó hay không. Cô chìu cả
những cái gàn cái chướng và cái tư tưởng đôi khi hơi độc đoán của
chồng. Giữa thời đại nầy, có lẽ ngay cả đàn bà Nhật, cũng hiếm hoi
người còn có cái phong cách thuần thục Á Đông còn lại đó. Bạn tôi là
một người có phước, nhưng không phải vì vậy mà cô em họ tôi là người vô
phước, vì cô cảm và tìm được cái vui, cái sung sướng rất giản dị là đem
hạnh phúc lại cho gia đình, tạo cho gia đình không khí dịu dàng ấm áp.
Ngày xưa Tây thuộc địa cũng sướng không bằng bạn tôi bây giờ. Bạn chỉ
thiếu bồi bếp hầu hạ nữa mà thôi. Thì ra quân đội Mỹ chăm sóc quá chu
đáo cho người của họ, không trách chi ngân sách quốc phòng là một con
số khổng lồ so với các ngân sách khác. Bởi vậy, những quốc gia theo
đuổi sức mạnh quốc phòng thì kinh tế dễ lụn bại, ngoại trừ những nước
đã có sẵn sức mạnh và tài nguyên dồi dào. Giá như cả thế giới, đừng ai
muốn ức hiếp xâm lăng ai, đem tiền bạc tài nguyên và nhân lực ra mà xây
dựng kinh tế, xã hội, thì nhân loại chắc mau đến gần thiên đàng.
Copyright © 2006 DCVOnline
Còn tiếp …