Dì Xinh
Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Văn Lục - 20-05-2006
Thời bấy giờ, tôi khoảng chừng 14 tuổi. Nhưng ở nhà quê nên tôi vẫn có
thói quen tắm truồng, nhất là lúc trời mưa... Mẹ tôi mỗi lần nhìn thấy
tôi thường rêu rao: trông nó kìa, tổng ngổng tồng ngồng, lớn phổng phao
như thanh niên rồi đấy. Rồi bà cười khanh khách. Chị tôi chêm vào: mẹ
đừng khen hão, chừng tý tuổi nữa, khối cô chanh cốm ngấp nghé đấy. Mỗi
lần nghe như thế, tôi đã bắt đầu biết ngượng.
Thật ra chị và mẹ tôi chẳng phải chỉ hãnh diện về cái thân xác tổng
ngổng, tồng ngồng mà thôi đâu. Từ cái thân xác ấy, họ còn ngưỡng vọng
về một đứa con trai sau này học thành tài, đem lại tiếng thơm cho gia
đình. Con đường mà hai anh lớn của tôi đã đạt được. Trong cả làng,
Ngoài Tú Thịnh, anh cả tôi đã đậu tú tài và đang chuẩn bị đi du học bên
Pháp. Anh thứ hai đang học ở bậc thành trung. Còn tôi, từ năm chưa được
10 tuổi đã được gửi lên tỉnh học.
Hè năm nay, không khí gia đình tôi có vẻ khác thường, không giống như
mọi khi. Tôi thấy các chị và mẹ tôi đang chuẩn bị sắm sửa, may quần áo
mới cho tôi. Ai cũng có vẻ chiều tôi một cách khác thường. Tôi có
nghịch ngợm, phá phách, thầy mẹ tôi cũng bỏ lơ đi. Các chị chăm bón,
gắp đủ thứ vào bát cơm của tôi. Chị giáp tôi lấy hai tay ôm cái đầu tôi
nói như rên rỉ: chị nhớ em, chị thương em. Cha xứ cũng ra vào nhà tôi
khác thường, thầm thì to nhỏ. Tôi biết nhưng cũng chẳng hỏi. Tôi chỉ
linh cảm là đời sống của tôi sẽ có những thay đổi lớn trong nay mai.
Tôi chờ đợi. Chỉ mãi đến tối hôm trước khi lên Hà Nội. Thầy tôi gọi vào
buồng bên cạnh khay đèn thuốc phiện nói vài lời: Mai con đi Hà Nội với
thầy lên Hà Nội học. Thầy tôi chỉ nói có thế. Tôi chỉ ậm ừ.
Thế là đời tôi đã được định xong.
 |
Nhà thờ đang được xây dựng lại (Phủ Lý, Hà nam) — Nguồn: phuly.conggiao.net
|
Sáng
hôm sau, lễ xong, tôi và thầy tôi ngồi xe tay kéo lên Phủ Lý, cách đó
chừng 7 kilômét. Rồi từ Phủ Lý lấy xe hàng lên Hà Nội.
Xe hàng thời bấy giờ còn chạy bằng hơi nước nên mỗi xe ở đằng sau có
một nồi súp to lớn đun bằng than đá. Chẳng may nếu có trời mưa to, than
trong nồi tắt ngúm, thế là xe không chạy phải chờ.
Lên đến Hà Nội, hai bố con ngủ lại một đêm tại nhà ông Nghị Năm. Hôm
sau thuê xe lên Bắc Ninh. Địa phận Bắc Ninh là nơi tôi sẽ nhập học để
đi tu làm các chú. Nhưng khốn thay, trước đó 5 hôm, máy bay Mỹ đã đến
bỏ hai quả bom làm sụp tòa nhà 3 tầng của nhà xứ. Nó rơi đúng vào nhà
chủng viện. Chủng viện phải giải tán. Người ta kháo nhau rằng, bom nổ
như thế, căn nhà 3 tầng sụp đổ với bao nhiêu người chết, vậy mà pho
tượng thánh giá ngoài sân vẫn không hề hấn gì. Nhiều người xì xầm:”
Chúa làm phép lạ đấy”. Phần tôi, chỉ thất vọng tự nhiên mà không có chỗ
học. Tôi và thầy tôi bắt buộc phải ghé về làng Bâm Thanh Giả để cùng đi
với mấy chú khác cũng đang tập trung ở đấy. Họ chuyển tất cả chúng tôi
lên mạn ngược... Tôi theo thầy tôi chẳng còn biết mình đi đến đâu nữa,
buồn vui lẫn lộn. Đến làng Bâm thanh Giả ngủ trọ qua đêm để chờ sáng đi
tiếp.
Sáng sớm ngày hôm sau, đã đến lúc bố con phải chia tay nhau ở đây. Thầy
tôi về lại làng. Còn tôi tiếp tục đi nữa... Cuộc chia tay trong im
lặng. Chả ai nói câu nào. Thói quen của thầy tôi vẫn thường ít nói với
con cái. Mãi đến lúc tôi cùng với mấy các chú khác lên xe, thầy tôi nói
với được một câu:
Thôi con đi đường bằng an. Nhớ viết thư về cho thầy mẹ.
Bọn tôi gồm mấy người trẻ với một thầy già ra ga Xép, rồi từ ga Xép lấy
Ô tô ray đi Lạng Sơn. Ông thầy già ít lời. Bọn trẻ cùng đi cũng im
lặng, chỉ liếc mắt nhìn nhau. Cho đến lúc đến Lạng Sơn mà chưa ai nói
với ai một lời nào. Nhưng tự thâm tâm, cả bọn đều nghĩ từ nay cùng
chung một con đường và cùng chung một số phận. Đến Lạng Sơn, lại phải
lấy xe kéo tới Mỹ Sơn. Đoạn đường từ Lạng Sơn đến Mỹ Sơn có ba cây số,
nhưng đầy cam go và nguy hiểm, vì đường đi vắng vẻ ít ai qua lại. Hai
bên đều là rừng, cây cối rậm rạp. Đầy đe dọa. Lại còn phải đi qua Bãi
Trận. Ở đọan đường này, ngoài cái sợ cọp vồ, lại sợ bọn cướp thường ẩn
nấp thừa dịp bắt cóc thanh niên đưa sang biên giới bán sang Trung Quốc.
Cọp từ sau đám lau sậy hay cỏ tranh, nấp sẵn đâu đó, chỉ nhẩy xổ là tha
đi một mạng người. Rồi mất tăm, mất dạng. Vốn lì lợm,nhưng lúc này tôi
cũng lẩm nhẩm đọc kinh. Nhìn mấy chú khác, anh nào anh nấy đều run như
cầy sấy. May quá, mọi người đến nơi bình an. Tạ ơn Chúa. Ông thầy già
đã thốt lên như thế khi đến nơi.. và đây là câu nói đầu tiên trong ngày
trong suốt đọan đường ba cây số này.
Chúng tôi ở tạm nhà xứ Mỹ Sơn được mấy bữa. Chưa biết phải làm gì. Lại
có lệnh cha xứ bắt đi xa nữa. Cho mãi đến sau này, bọn tôi vẫn không
hiểu lý do tại sao không được ở Mỹ Sơn mà quyết định gửi tạm bọn tôi
lên Quảng Uyên, cách Cao Bằng ba mươi hai cây số. Bọn tôi ngồi xe khách
đi lên hướng Quảng Uyên. Xe chật ních người ì à, ì ạch phun khói bò lên
những con dốc ngược lượn quanh. Xe cứ thế đi qua hết động Tam Thanh,
rồi Kỳ Lừa, đến Đa Sầm, rồi dừng lại ở Đông Khê như thể cho xe nghỉ
mệt, sau đó độ một tiếng đồng hồ thì đi Thất Khê. Càng đi lên, phong
cảnh càng thêm hoang vu. Dân cư thưa thớt dần. Có những đoạn đường hằng
vài cây số không thấy một bóng người. Đôi khi xa xa, phía triền núi
thấy bóng dáng những người dân sơn cước đi một hàng dài lượn quanh ven
triền núi. Bóng họ in lên triền núi như một cái đuôi dài.
Tôi cảm thấy thèm bóng người qua lại. Cái thiếu duy nhất ở rừng núi là
thiếu bóng dáng người, cộng thêm thiếu tiếng động quen thuộc. Đường đi
nay mỗi lúc một quanh co, leo núi lên dốc, xuống lủng. Mây bay là là
trước mặt. Có lúc mọi người có cảm giác vừa đi qua khỏi một làn mây
mỏng như sương khói. Đến Thất Khê cả bọn nghỉ lại chờ xe khác. Tôi và
mấy người bạn lại vào trọ ở nhà xứ Thất Khê chờ xe khách. Mỗi tuần chỉ
có vài chuyến xe từ Thất Khê đi Quảng Uyên. Buổi chiều hôm đó, mấy anh
em rủ nhau ra tắm ở con sông Kỳ Cùng. Đã mấy ngày không tắm nên dơ dáy,
ai cũng vui thích rửa ráy và nay mới nghe thấy tiếng cười đùa. Nhưng
khi về lại nhà xứ thì được tin Cha Đệ, cha xứ ở đây đã bị Việt Minh bắt
dẫn đi thủ tiêu ở núi Bò Mã. Nghe tin cả bọn rụng rời vì sợ hãi chẳng
biết số phận mình ra sao? Mấy người bàn tính muốn bỏ về. Buổi tối chỉ
biết ngồi ôm nhau khóc.
Từ Thất Khê lên Cao Bằng còn bảy mươi cây số. Lại đi xe khách. Trong
xe, phần lớn hành khách đều mặc quần áo mầu chàm, có người lưng đeo
thêm gù ở đằng sau. Trời đã lành lạnh. Cái lạnh của vùng cao biên giới.
Trong xe, chẳng ai nói với ai một tiếng nào, cả đám người dân vùng cao
cũng giữ im lặng như thế. Họ câm lặng như núi rừng. Họ bí ẩn như những
rừng cây âm u. Từ Cao Bằng đến Quảng Uyên còn 30 cây số. Xe phải mất
hai tiếng đồng hồ mới leo nổi con đèo Mã Phục hay còn gọi là đèo ngựa
quỵ.
 |
Bản Giốc kia bây giờ của ai? (Phủ Trùng Khánh, Cao Bằng) — Nguồn: fiditour.com
|
Quảng
Uyên là một vùng lòng chảo chung quanh dựa vào những dãy núi đá cao bao
bọc dựng đứng như những bước trường thành. Con người bị vây bọc tứ
phía, thu nhỏ lại. Mặt trời mọc trễ, lặn sớm. Mãi chín giờ sáng mới
nhìn thấy mặt trời hiện lên đằng sau các dãy núi, nhưng đến khoảng bốn
giờ thì đã lặn mất tiêu rồi. Ngày thì ngắn, đêm thì dài. Không khí ở
đây đã lạnh lạnh mặc dầu là mùa hè. Châu Quảng Uyên chỉ còn cách biên
giới Trung Quốc khoảng hai mươi lăm cây số. Tại đây cũng có đồn Tây là
Phủ Trùng Khánh. Ở đó có Quan Châu Việt Nam và lính khố xanh giữ đồn.
Đến nơi thì bọn tôi được cha Báu, một cố Tây râu xồm và chú Klâu, người
Mương Khao là Mán Trắng ra đón tiếp. Thoạt nhìn thấy cố Tây cao lớn
dềnh dàng trong chiếc áo thâm trùng cụt lửng mà gấu áo chừng như muốn
bò lên đến tận đầu gối để lộ hai ống quần tây kaki. Trông đến buồn cười
mà không dám cười. Chiếc áo của ông bạc mầu đến muốn rách. Sống đạm bạc
đến dơ bẩn. Hình như ông đã quen với lối ăn mặc đó rồi. Hàm râu dài đến
ngực, đầu lốm bạc, phất phơ mái tóc phong sương. Cố có hai con mắt to,
xanh trong, tròn như hai hòn bi ve lộ ra dáng uy nghiêm, nhưng chất
phác. Bằng vào vóc dáng bề ngoài như thế làm bọn tôi tin tưởng và có
cảm tình, dù vẫn còn e dè sợ hãi.
Thử thách đã đến.
Thời bấy giờ, người ta quan niệm tu là phải chịu khổ, phải vâng
lời. Càng chịu nhiều khổ sở như ăn uống thanh đạm túng thiếu cộng với
cái lạnh của núi rừng thì việc tu trì càng có cơ tốt đẹp. Đi tu mà
sướng thì còn tu nỗi gì, ở ngoài đời cho xong.
Tiếng là lên để đi học, nhưng học được một hai tuần, sau đó cố Tây
không dậy học nữa. Chắc cố quên béng lời hứa với cha Lãng rồi. Chúng
tôi phải trông mấy chục bò sữa cộng thêm một con bò đực giống, cả hơn
trăm gà đẻ, mấy chục gà Nhật, hằng trăm gà trắng lê gốp, loại gà đẻ hai
trứng một ngày rồi một đàn ngỗng, một đàn mấy chục con dê để lấy sữa
cho hai cha. Một ngày từ bốn giờ rưỡi sáng tới tối nào cắt cỏ, cắt lá
cho bò sữa, rải muối cho dê và bò liếm để ngừa bệnh. Sau đó đã hết đâu,
còn vắt sữa, gom trứng để bán cho đồn tây, lượm xương bò đốt rồi tán
hoà vào cháo cho gà lê gốp ăn để đẻ nhiều trứng, sau chót là chăn đàn
bò đi ăn cỏ.
Vài chú mà chừng đó công việc như của một đồn điền nhỏ nên vất vả vô
cùng. Làm việc tối tăm mặt mũi còn bị cha Báu mắng chửi. Vừa vất vả,
vừa nhục, vừa đói. Tôi cũng không biết than thở với ai. Vì mọi người
đều khổ sở, đều cùng hoàn cảnh. Tối về vừa mệt, vừa đói lăn ra ngủ để
mai dạy sớm đi làm. Tình cảnh này không phải là đi tu, mà là đi đầy.
Đôi lúc, tôi chẳng còn có thì giờ nghĩ đến gia đình nữa. Nhiều đêm, tôi
lén lút khóc thầm. Tối và mấy anh em chùm chăn ôm nhau khóc nhớ nhà,
nhớ đời sống dưới miền xuôi.
 |
Trẻ miền núi — Nguồn: ambhanoi.um.dk
|
Nhà
xứ có gần hai mươi dì phước số phận cũng chẳng hơn gì. Chúng tôi hằng
ngày, chỉ biết có dì Xinh nấu bếp. Dì người dân tộc Mán, tuổi áng chừng
17 được gửi đi học làm bếp Tây hai ba tháng ở Cao Bằng. Vì thế, dì đuợc
sang nhà xứ nấu bếp hầu hai cố. Từ sáng sớm đến tối mịt, dì lo hầu ba
bữa cơm cho các cố, rồi cơm cho các chú và cơm nước cho các dì trong
nhà dòng. Chẳng mấy lúc thấy dì rảnh tay, cứ hết việc nọ lại đến việc
kia. Phần các dì khác có phần vất vả nặng nhọc hơn. Các dì phải làm
ruộng, làm rãy, nuôi heo, gà, trồng mía, khoai lang, trồng rau. Làm
quần quật mà không được hưởng. Tiền bán trứng, rau trái đều nộp cho cha
xứ. Mỗi năm các dì lấy ra một số tiền nhỏ để mua cá khô, mắm muối dành
ăn cả năm.
Trước khi ăn, phần cơm các chú phải đợi cố đến kiểm soát bằng cách
khoắng lên xem dì Xinh có bỏ thêm đồ ăn gì không rồi mới dơ tay làm
phép. Nhìn cố vén tay áo lên đến tận khủy, hai bàn tay với những ngón
như chuối lùn mũm mĩm thịt với một lớp lông tơ vàng rậm rạp cầm cái môi
khuấy một cách cẩn trọng, nghi ngờ dơ cái môi lên xoi. Có vẻ chưa tin
hẳn vào mắt mình. Khoắng lần nữa mới thôi. Chậu canh lõng bõng nước
trong lơ như có thể soi thấy mặt cố khi ông cúi xuống. Cố dơ tay làm
phép như Chúa thời xưa biến nước thành rượu. Chỉ khác là nay nước hoàn
nước.
Nhưng đói khổ thòm thèm nên chú nào cũng mắc bệnh ăn vụng. Ăn vụng từ
củ khoai đến xương gà rô ti do dì Xinh dúi cho. Đói quá nên gặp gì ăn
nấy, cái gì có thể ăn cắp được thì ăn cắp chẳng còn biết sợ cha, sợ tội
là gì nữa. Trong bốn chú, hầu như người nào cũng bị phù thũng, mặt xanh
bủng, hơi thở nặng nhọc, hai mắt nhấp nhánh liên hồi như có châm kim,
lửa đốt.
Dì Xinh đặc biệt thương tôi nên thường dúi vào tay tôi khi miếng thịt
gà, hoặc bò, khi nắm xôi. Gặp tôi là Dì Xinh nhoét ra cười, nghẻo cái
đầu một cái rồi mới đi. Những khi rỗi rảnh, dì đòi xem bàn tay tôi vì
thấy mịn trắng và đẹp. Dì ngây thơ kêu ”Gì mà trắng ngần”. Rồi lại
cười. Dì thích hát bài Mà u sơ kưa, U sưa ku la. Giọng trong và lơ lớ, ngứt đoạn nửa chừng. Những lúc đó, tôi thấy dì thật sung sướng.
Đến bữa ăn, các chú hì hụp húp lấy húp để. Cháo nóng, trộn với mồ hôi
hay nước mắt hay cả hai vô tình rơi xuống bát cháo để rồi vô tình cũng
nuốt chửng vào bụng. Bao nhiều ưu phiền, tủi nhục, cố nuốt cho qua
trong sự im lặng cùng cực. Nói cho cùng các chú chả có tội gì, người có
tội là cố. Tội của cố là vì để có kẻ no nguời đói. Mà cố cũng chẳng có
tội, vì cố nghĩ rằng đói no là thân phận chúng tôi rồi. Được thế đã là
may. Có thể, trong bụng cố nghĩ rằng, cố đã đầy lòng tử tế và thương
người.
Các dì phước có trồng một vườn rau, nhưng trồng mà không được ăn. Thật
ra thì có đủ thứ cả gà vịt, thịt heo, thịt bò, sữa bò. Chỉ có tội là
không được ăn. Dư thừa mà vẫn đói. Các chú buộc lòng phải lội bộ vào
chân núi hái rau tầu bay về luộc chấm muối ăn.
Có lần, tôi lân la nói chuyện với dì Xinh hỏi dì có buồn không:
Dì chỉ cười. Nụ cười đến đôn hậu. Thì cũng buồn chứ. Dì thêm, nhưng đã
chót dâng mình cho Chúa rồi. Rồi dì hỏi ngược lại: Thế còn chú thì sao?
Tôi trả lời. Sao trên giời. Dì ạ, của đáng tội em buồn chẳng còn thiết
gì sất. Chỉ mong về xuôi thôi. Càng sớm càng tốt. Dì như đánh rơi giọt
nước mắt nói nhỏ nhẹ: chú còn có cơ để về lại, còn tôi chả biết đến bao
giờ? Có khi sống và chết ở đây. Tôi bạo dạn nắm lấy tay dì, dì để
nguyên. Bàn tay mụ mẫm, nhưng chai sạn hơn tay tôi. Bàn tay của núi
rừng từ nhỏ đã cầm dao, cầm dựa phát lá, phạt cây. Dì ngước nhìn tôi,
đối mắt trong láy mà lòng chẳng nói.
Tôi thầm nghĩ trong bụng: Dì Xinh nói đến là gở. Tại sao, trong bấy
nhiêu người đi tu, từ các chú đến dì Xinh đều có tâm trạng buồn như
vậy? Việc đi tu để làm gì, có ích gì, chỉ để chuốc vào mình nỗi buồn
như đá đeo cả đời sao? Tự nhiên, trong đầu tôi đặt ra những dấu hỏi
không có câu trả lời. Tôi cũng không muốn nghĩ tiếp nữa.
Cuộc đời trong nhà xứ có lẽ chỉ có ngày chúa nhật là được thong thả. Vì
đó là ngày của Chúa. Mọi người được nghỉ ngơi, trừ công việc phải chăm
nuôi cho gia súc. Sau lễ sáng chúa nhật là các chú có quyền đi chơi
quanh quéo tùy ý như đi câu, bắt cá hay vào rừng kiếm rau tầu bay về
luộc ăn thêm v.v... Vào lúc gần trưa, tôi đang ngồi trước vỉa hè thì
thấy dì Xinh đi qua về hướng nhà thờ. Tôi tò mò lẽo đẽo theo sau. Dì
vào nhà thờ quỳ gối đọc kinh một lát thì trèo lên gác chuông. Chắc là
để hóng mát hay sao đó. Tôi cũng lóc cóc leo lên theo. Lên đến nơi thấy
dì đang đứng ở phía cửa sổ nhìn xuống phía triền núi. Dõi mắt ra xa, dì
nhìn không chớp mắt như mơ tưởng về cuộc sống nơi ấy. Tôi yên lặng đứng
nhìn dì. Chập sau như có linh tính, dì giật mình quay lại thấy tôi đứng
đằng sau dì từ hồi nào. Dì cười không nói. Tôi im lặng đến sau lưng nhẹ
cầm tay dì. Dì để yên. Chúng tôi cùng quay ra nhìn xuống phía chân đồi.
Cả một miền cỏ xanh rì trải ra trước mắt. Trên gác chuông im ắp không
tiếng người. Cạnh nhà thờ như có ai hờ khóc. Tiếng chó tru ở một chỗ xa
nữa chắc tận xóm trong. Hình như bên trong và bên ngoài gác chuông là
hai thế giới khác nhau. Mùi tóc của dì. Như mùi cỏ dại, ngai ngái quện
vào mũi tôi. Chúng tôi đứng sát gần như gang tấc. Tôi ngây dại. Đúng
lúc đó có tiếng kẹt cửa và tiếng người bước chân lên gác chuông. Tự
nhiên không ai bảo ai, tôi và dì đều hốt hoảng. Tôi nắm tay dì nấp vào
một xó kẹt. Hoá ra là Bõ Tâm. Bõ lên kéo chuông nguyện 12 giờ.
(Còn tiếp)
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: