30 Tháng Tư 1975- 2002, Đọc Lại Thanh Tâm Tuyền
Theo Việt Báo - Nguyễn Quốc Trụ - 24-03-2006
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (ảnh do họa sĩ Đinh Cường gửi).
LTS. Để tưởng niệm nhà văn, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền -- người đã mở
đường cho phong trào Thơ Tự Do từ 6 thập niên trước tại VN và vừa mới
từ trần hôm Thứ Tư 22-3-2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ -- VB trân trọng
đăng lại bài viết sau đây của nhà phê bình Nguyễn Quốc Trụ (trang chủ
Tin Văn: http://tanvien.net/) đã ghi nhận về thơ và văn của Thanh Tâm
Tuyền. Bài này nhiều năm trứơc đã đăng trên VB, hiện lưu trữ ở
tanvien.net. Nguyễn Quốc Trụ còn là bạn thân của một người em ruột của
Thanh Tâm Tuyền. Bài viết như sau.
Thơ giữa chiến tranh và trại tù.
"...
Cùng một nhóm bạn hữu, khởi xướng phong trào thơ tự do, làm mới văn học
nghệ thuật trên tạp chí Sáng Tạo (1958–1961). Là tác giả bị đả kích dữ
dội nhất thời bấy giờ, ông chinh phục được cảm tình của giới độc giả
tiến bộ với tác phẩm Bếp Lửa (xuất bản lần đầu tiên năm 1957). Ông dạy
tại vài trường Trung học tư thục ở Sài Gòn, Bình Dương, trước khi động
viên Khóa 14 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (1962)..."
[Trích trang bìa Bếp Lửa, nhà xuất bản Kẻ Sĩ, do Tô Thùy Yên chủ trương, Sài Gòn].
Muốn làm người học trò mười bẩy tuổi
Đạp xe trên đường đồng
(Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy) ...
Trong
khi ăn, Kiệt bỗng nhớ đến những ngọn gió bấc cắt da, những hạt mưa nhọn
như kim châm, dúm ớt bột khô tê môi, chảy nước mắt, bát nước chè tươi
bỏng rát lưỡi. Từ bát bún riêu, chàng nói về mùa màng thời tiết, về bầu
trời sông nước, về đồng ruộng trái quả, về phố phường thắng cảnh và vô
tình chàng tiết lộ những mảnh vụn của một thời thơ ấu và niên thiếu
chẳng hề nói với ai. Oanh mở mắt to chăm chú. Kiệt lại thấy những giọt
nước mắt rơi.
(Một chủ nhật khác)
Người đọc đã biết
Hà-nội/1954 trong Bếp Lửa, hay trong Ung Thư - Nhưng hãy chấp nhận kiếp
bụi vô thường, như cục ung thư, sống với nỗi chết âm ấm ở trong lòng
bàn tay (Mais accepter vivant la vanité de son existence, comme un
cancer, vivre avec cette tièdeur de mort dans la main. Malraux) - trên
đây là những chi tiết hiếm hoi, tác giả vô tình tiết lộ về đất bắc, và
tuổi thơ của ông.
Một chủ nhật khác là cuốn tiểu thuyết sau cùng
của tác giả. Khi nhìn những đoàn quân Cộng Sản tiến vào thành phố, ông
nói, như vậy cũng xong... sẽ chẳng bao giờ viết nữa.
Rồi ông trở về đất bắc, như người tù.
Mưa bay lất phất gió căm căm
Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm
Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc
Co ro đứng coi tù qua thôn
Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng
Về trong xây xẩm buổi tàn đông
Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa
Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm
78 (Thơ ở đâu xa)
Về
trong xây xẩm buổi tàn đông/ Lạnh lẽo nhà ai/ Ảm đạm lòng ta... Trong
Thơ giữa chiến tranh và trại tù - một bài trả lời phỏng vấn, in trong
tập Mảng Lưu Vong, La Part d'Exil, nhà xb Đại học Provence, 1995 (1) -
ông đã nói về Bếp Lửa "miêu tả không khí Hà-nội trước 1954; đi và ở đều
là những chọn lựa miễn cưỡng, chia lìa hoặc cái chết. Lập tức có phản
ứng của những nhà văn cách mạng. Trong một bài điểm sách trên Văn Nghệ,
một nhà phê bình hỏi tôi: "Trong khi nhân dân miền Bắc đất nước ra công
xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân vật trong Bếp Lửa đi đâu?". Tôi trả
lời: "Anh ta đi đến sự huỷ diệt của lịch sử," mỗi nhà văn là một kẻ
sống sót.
Tác phẩm thứ nhì của tôi, Ung Thư (1970) có thể coi
như tiếp nối Bếp Lửa. Ung Thư là chấp nhận giữa "vô thường", và chút
hơi ấm của nỗi chết (l'existence de notre acceptation entre la vanité
et la tièdeur de mort). Cuốn sách chẳng bao giờ được in ra...
Đối
diện với hỗn loạn, tình trạng mơ mơ hồ hồ thời gian sau 1975, tôi có
cảm tưởng đã sống hết đời tôi, quãng còn lại chỉ là dư thừa, tôi chẳng
để ý tới nữa. Ảo vọng là hoàn toàn. Năm 1975, chế độ mới đưa tôi đi
trại cải tạo, cùng với bạn bè của tôi, "cùng hội, cùng thuyền"; chúng
tôi rời đồng bằng lên vùng rừng núi, dửng dưng, bình thản, không tuyệt
vọng cũng không hy vọng. Tôi đã nghĩ mình "biến mất", chẳng mong ngày
trở lại, như bọt bèo trong cơn lũ lịch sử, tại sao không. Nhưng tôi đã
lầm. Người ta đưa tôi lên vùng thượng du phía bắc, cách biệt hẳn thế
giới bên ngoài, người ta thả tôi vào thiên nhiên, "tự do" với "chỉ tiêu
gỗ mỗi ngày", với cơ hội trốn trại. Nhưng mỗi ngày qua đi, tôi lại tìm
ra con đường trở về trại tù. Điều gì đã khiến tôi làm như vậy? Phải
chăng là "chẳng còn hy vọng chi" hay là nỗi "vô vọng của một con người
bị bỏ rơi, tuyệt vọng"? Khi đó, tôi thực sự ở trong niềm hy vọng về
không sinh tồn (inexistence); trong một vùng không thể lọt qua
(impénétrable), trong tình trạng vô-liên (non-relation). Chẳng có chi
là rõ ràng đối với tôi. Tuy nhiên, tôi nhủ thầm, tôi đang sống lại,
nghĩa là thơ ca đang trở lại, và tôi sung sướng vì điều này. Tôi rụt rè
e lệ như khi còn trẻ, với những bài thơ đầu, tôi giấu bạn tù những bài
thơ, tôi không dám đưa cho họ đọc. Khi bạn sống dửng dưng, ngày này qua
ngày khác, chẳng nghĩ tới tương lai, chẳng nhớ về dĩ vãng, không âu lo
hiện tại, bạn còn lại chi? Còn cái điều đã có ở trong bạn; nó có đó,
chẳng cần đến sự mong muốn của bạn. Để qua đi những ngày đen tối, những
đêm mưa gió, ngày lạnh căm, bão bùng, mùa này, mùa nữa... tôi tìm lạc
thú ở cái điều "đã hiện hữu ở trong tôi" đó; tôi mang theo, chỉ có nó;
nó luôn luôn ở trong thân thể tôi."
Đó là lần hội ngộ thứ nhì của thi sĩ, với đất Bắc, và với thơ, của ông.
*
Nhiều
người cho rằng Thơ ở đâu xa, hay những bài thơ ở giữa chiến tranh và
trại tù của ông "thua" Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy: đỉnh cao của thi
sĩ, của thơ tự do. Ở đây, xin chỉ đưa ra một kinh nghiệm cá nhân, của
người viết, khi đọc thơ ông.
Trước 1975, tạp chí Văn tính làm
một số đặc biệt về thi sĩ, ông nói với tôi, đã đề nghị Trần Phong Giao
"lấy" bài của tôi, viết về Bếp Lửa, khi cuốn sách được tái bản. Bài đã
được in trong Tập san Văn chương. Tôi nói với ông, sẽ viết một bài
khác, về "thơ Thanh Tâm Tuyền", cho số báo đó. Thi sĩ ngạc nhiên, nhưng
bật cười, "thì viết đi." Ông vẫn nghĩ, tôi không mê thơ, và cũng chẳng
biết gì về nó.
Đúng như vậy. Nói rõ hơn, tôi quá mê thơ, cho
nên chẳng bao giờ dám bén mảng tới. Tôi vẫn nghĩ, người ta chỉ làm thơ,
khi còn trẻ, hoặc khi đã về già. Cũng theo nghĩa đó, Borges đã khuyên,
hãy bắt đầu bằng thơ vần. Ông dẫn Wilde: "Thật may mà có thơ vần, nếu
không chúng ta đều là thiên tài." Khi còn trẻ, ai mà chẳng đã từng,
"Hôm qua trong lớp tập làm thơ/Khó quá (cho nên) chẳng biết đường đâu
mà mò"! Tôi đã qua cơ hội thứ nhất - làm thơ, làm thi sĩ - sau những
vần thơ đại khái như vậy, cho đến khi "đọc lầm" thơ Thanh Tâm Tuyền:
Trên đỉnh đèo Hải Vân
Nếu nhớ quê hương
Muốn chết
Vũ Đạo Ánh
Chiến tranh vẫn còn (đến khi nào)
Đồn đóng sườn núi
Ngó biển không
Đập cụt cổ chai
Chim én vẫn bay đầy đàn trên trời chiều Sài Gòn
Khóc đi Nguyễn
Mùa này gió biển thổi điên lên lục địa
Kể lể hoài chuyện tình tuyệt vọng
Với một mình cào lấy tóc mình
(Tên người yêu dấu)
Tôi vẫn thường ngâm nga mấy câu thơ trên, cho tới bữa tình cờ lật lại trang thơ Liên, Đêm:
Kể lể hoài chuyện tình vô vọng
Với một mình cấu lấy tóc mình
Những
người yêu thơ Thanh Tâm Tuyền, yêu chất "bạo động của bạo động", nam
tính... của thơ ông, khởi từ những dòng thơ cách mạng trong Tôi không
còn cô độc, tới Liên, Đêm... có thể sẽ không thích những dòng thơ "hiền
từ" của Thơ ở đâu xa. Tôi vẫn nghĩ ông bắt đầu bằng thơ tự do, ngược
hẳn lời khuyên của Borges, chính vì chất hung bạo "đặc biệt" của thơ
ông: Thơ không thể èo uột, yếu đuối, bệnh hoạn, không phải là nơi trốn
chạy, ẩn náu... Nó là mắt bão: trung tâm của mọi bạo động. Ông chỉ trở
lại với thơ vần, sau trại tù. Với tôi, Thơ ở đâu xa mới là cực điểm của
bạo động trong thơ: thiền. Trích tiên bị đầy (vào trại tù), trở về
trần.
"Trong tôi còn lại chi? Gia đình, bạn bè. Những bài thơ,
chắc chắn rồi. Chúng đã được đọc, được thầm ghi lại (intériorisés).
Đúng một lúc nào đó, ký ức nhanh chóng bật dậy, đọc, cho riêng mình
tôi, những bài thơ. Luôn luôn, ở đó, bạn sẽ gặp những tia sáng lạ. Thời
gian của điêu tàn làm mạnh thơ ca.
Đẫm mình trong thời gian
"không lịch sử", hay đúng hơn, lịch sử ở bên ngoài, người ta khám phá
ra rằng, những ngày, những tháng đều không phương hướng, không mục
đích, trần trụi. Tuyệt đối trần trụi. Sự không hiện hữu (inexistence)
của cuộc sống đem đến sự bình an ở bên trong. Cõi thơ êm đềm ngự trị ở
bên trên sự bình thản của vũ trụ. Từ đó, mỗi bài thơ là một thời gian
khép kín, tách ra khỏi chuyển động của cuộc sống. Thời gian bất thần,
của nỗi kinh hoàng, trở thành thời gian cô đọng; chẳng có chi khác
biệt, giữa kìm hãm, và bay bổng.
Và làm thơ trong trại cải
tạo, đó cũng là trở về với thơ ca bình dân. Chế độ lao động trong trại,
đó là một ngày căng thẳng tám tiếng, không có cuối tuần; mỗi tù nhân có
riêng một vũ trụ của anh ta: một cái chiếu, chừng năm, sáu chục tù nhân
trên dưới hai lớp, trong tấm "toan" trên trăm tù. Viết là một xa xỉ:
chỗ ngồi, thời gian viết. Với nhịp tù hối hả như thế, cái lạnh, cái
đói... ai dám nghĩ đến sáng tạo? Ngay cả thiên tài, ngay một sức mạnh
siêu nhiên cũng chẳng thể vượt qua, những "trói buộc" này. Tuy nhiên,
người Việt nói "làm thơ", không ai nói "viết thơ". Như vậy, người ta có
thể làm thơ bất cứ ở đâu, trong bất cứ vị trí nào: đi, đứng, nằm, ngồi,
thức... Thơ gặp anh không cần hò hẹn, không định rõ ngày giờ. Người ta
không thể kiếm nó, vì biết đâu mà kiếm. Bạn chỉ có một việc: tiếp nhận
nó, bàn bạc cùng nó. Nó chỉ yêu cầu bạn: hãy giữ tiếng nói chơn chất
của bạn. Tiếng nói này, sau đó, sẽ quyết định cuộc đời của riêng nó.
Nó, nàng thơ, luôn luôn kín đáo, đôi khi vào bằng cửa chính, đôi khi
bằng con đường nhỏ. Hãy lắng nghe. Nàng thích đeo mặt nạ, ẩn náu dưới
tấm khăn che mặt; nếu ký ức của bạn không thức tỉnh, bạn không thể nhận
ra nàng. Trong khi lao động "đạt chỉ tiêu cách mạng", nàng tới. Đột
nhiên, ngay giữa đồng, giữa rừng... Nàng ra lệnh cho bạn ngừng. Bạn bắt
đầu nhìn trời, quên những cử động máy móc. Nàng kéo liền bạn vào cõi
trong êm ả. Tình trạng tự động hiện hữu (autoexistence) đem đến nguồn
vui. Bởi vì khi nàng thơ rời bạn, khi trở về với cõi đời bạn đã dám rời
bỏ; bạn nhận ra cuộc đời này sẽ biến thành nhịp của những câu thơ. Như
thể, trong khi làm việc bằng chân tay, tai của bạn đuổi theo những nhịp
điệu, âm nhạc của bài thơ. Sự hài hoà này sẽ đem đến điều cần thiết,
giữa công việc - vốn hạn định những cử động - và ký ức, đang "ghi nhận,
chất chứa".
Nhưng nói một cách cụ thể, khó khăn (làm thơ trong
trại cải tạo) vẫn còn. Bởi vì vô phương ghi lại bài thơ; đây là giai
đoạn chót của sáng tạo: niềm vui đọc lớn nó lên, và chia sẻ với những
người thân cận. Thơ phải được đọc lên, phải được nghe, như đây là định
mệnh cuối cùng của nó. Định mệnh của một tiếng nói và cũng là định mệnh
của hồi nhớ, của biết bao nhiêu con người.
[Nguyễn Quốc Trụ
chuyển ngữ, theo bản tiếng Pháp của Le Huu Khoa, trong La Part d'Exil,
gồm những bài của Linda Lê (Les pieds nus); Le Huu Khoa (Vo Phien, la
littérature comme un bâton d'un aveugle); Xuan Phuc (L'exil des
lettrés, une voile au lointain de la mer); Le Huu Khoa (Kiet Tan,
brisure du sens dans l'écriture nue); Pham Duy (Karma imparfait et
renaissance infinie); To Thuy Yen (Sans nom. Je reviens comme un
fantome humilié); Trinh Cong Son (L'oiseau sacré chante le destin
magique); Trinh Van Thao (Posface: Dialogue à peine imaginaire entre
écrivains vietnamiens sur la littérature d'exil); nhà xb Đại học
Provence 1995.]
Bếp Lửa,Tựa Lần In Thứ Tư (1973)
Malraux có viết: "Người ta không thể nào viết lại một quyển tiểu thuyết."
Tôi
không tin như thế. Trong nhiều năm sau khi quyển sách này được xuất
bản, dường như tôi đã hì hục viết một BẾP LỬA khác. Mỗi lần sửa lỗi ấn
loát để cho tái bản, tôi đều muốn viết lại nó. Kể cả bây giờ, sau mười
bẩy năm.
Đây không phải là quyển tiểu thuyết đầu tay của tôi.
Quyển đầu tay tuy được một nhà xuất bản nhận in năm 1955, vào phút chót tôi đổi ý, rút lại sách, quyết định không xuất bản.
Quyển
Bếp Lửa rất có thể đã chịu chung số phận của quyển đầu tay, nếu không
may mắn gặp ông Nguyễn Đình Vượng [chủ báo Văn, chủ nhà in, nhà xuất
bản Nguyễn Đình Vượng].
Được viết một hơi – khoảng đâu hai ba
tháng – được in ngay sau khi viết – không có một quãng cách nào để kịp
lùi, nhìn lại – quyển Bếp Lửa là quyển duy nhất của tôi chỉ có một lần
bản thảo.
Trên trang đầu bản thảo có đề câu của Rimbaud: Je est un autre [Tôi là kẻ khác], nhưng khi đưa in tôi đã xóa bỏ.
Sách
in lần đầu ba ngàn cuốn, chẳng rõ bán được bao nhiêu, chỉ biết ít lâu
sau sách được mang bán "son". Có hai bài viết về quyển sách: một trên
nhật báo Tự Do tại Sài Gòn, một trên tuần báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn
miền Bắc ở Hà Nội.
Tiếc là tôi không có thói quen lưu giữ tài liệu để có thể in kèm vào sách khi tái bản.
Đại
cương hai bài viết đều là lời chê trách giống nhau: quyển sách bi quan
tiêu cực. Bài trên tờ Văn Nghệ ở Hà Nội chỉ là một cột điểm sách ngắn
vài mươi giòng nhưng bấy giờ đã mang đến cho tôi hãnh diện và sung
sướng. Hãnh diện là thứ có ngày nghĩ lại khiến thẹn thùng. Nhưng sung
sướng lúc nào cũng vẫn là sung sướng, dù cùng với thời gian có thể lẫn
vẻ bùi ngùi.
Tôi sung sướng nghĩ các bạn tôi ở Hà Nội đọc cột
báo ấy, biết được tôi vẫn nhớ họ, đã viết về họ, về những ngày tháng ấy
của chúng tôi. Họ có thể tức tối căm giận, nhưng chắc họ cũng cảm động
bồi hồi.
Mười bẩy năm đã qua.
Kinh nghiệm dạy cho tôi là
lời của Malraux đúng. Tôi đã loay hoay quá lâu với một quyển sách. Lần
này tôi quyết định đề là ấn bản chung quyết.
Tôi hiểu đã đến lúc nên viết những quyển sách khác.
Tháng 3 – 73
THANH TÂM TUYỀN
Bếp Lửa, Tựa Lần In Thứ Hai (1965).
Cuốn
sách mỏng manh, non nớt và chưa thành hình này của một người mới lớn
lên. Hắn lớn lên trong một thành phố đã mất, thành phố bị vây hãm như
một hòn cù lao nổi chờ ngày tan rã không để lại dấu vết. Hắn đọc Marx
tìm thấy giấc mộng "biến cải thế giới", đọc Rimbaud tìm thấy giấc mộng
"thay đổi cuộc đời", đọc Dostoievski tìm thấy thái độ "tất cả hay không
có gì hết", đọc Gide tìm thấy "đời sống thành khẩn trung thực", đọc
Malraux tìm thấy hào quang của trí tuệ dối đầu với Định Mệnh, đọc
Sartre tìm thấy "cuộc hiện sinh tự do và chọn lựa". Hắn lớn lên cùng bè
bạn, vượt qua mau tuổi trẻ để suy nghĩ và mơ ước hành động. Mỗi đứa một
lối lăn mình theo mối cám dỗ lớn lao của hư vô (1). Hắn lìa bỏ quê
hương, chia tay với bè bạn, dấn mình vào lịch sử, đuổi theo giấc phiêu
lưu của trí tuệ: sự thật được tạo nên từ niềm hư vô của tuổi trẻ bị
tước đoạt.
Bây giờ hắn ba mươi tuổi, hắn vẫn quay tròn như một
nỗi tự do trống rỗng, không làm được gì hơn, ngoài một lựa chọn – khó
khăn và buồn tủi - : trở thành một nhà văn. Lúc hắn viết cuốn sách này
hắn chưa phải là một nhà văn, không muốn là một nhà văn. Hắn chưa biết
mình muốn gì vì hắn muốn tất cả. Hắn viết với ý nghĩ trong khi mình
viết, người khác chết. Ý nghĩ làm tê liệt hứng khởi tạo tác. Nên sau
cuốn sách được in tình cờ, không dự tính, hắn nằm im trong sự bất lực
hổ thẹn, hắn phá phách tiêu hủy không thể hoàn thành nổi những dự thảo,
phóng tưởng kế tiếp. Mỗi ngày mỗi nghiền ngẫm trong bất giác của các
tình thế kinh nghiệm, hắn nhận thức hắn chỉ là một nhà văn, không thế
lực và hèn mọn như mỗi người – một nhà văn bị dìm ngập trong thời đại
và xã hội của mình như giới hạn tự nhiên của cõi sống và cõi chết. Hắn
dứt bỏ được những mê hoặc, ảo ảnh – về vai trò của nhà văn – của thứ
tiếng nói toàn năng vang động và làm biến dạng được sự vật một cách cụ
thể. Tiếng nói của văn chương chỉ là những lời thầm thì giữa hỗn độn
của lịch sử, lời cô đơn không sức mạnh bị lấn áp ở mọi phía.
Sự
kiêu hãnh của tuổi nhỏ nhường chỗ cho sự bình tĩnh ý thức. Hắn bắt đầu
cầm bút thực sự, làm việc giữa những đổ vỡ xáo trộn thách thức. Đối với
hắn, cuộc chọn lựa gay go nhất đã xong, hắn biết hắn chỉ còn một tiếng
nói để tìm kiếm bè bạn và quê hương.
Người được đề tặng sách này đã chết.
Hắn,
tên Vũ Đạo Ánh, chết vào một buổi sáng chủ nhật đầu tháng chín năm
1964, tại một khu rừng tỉnh Bình Dương, một viên đạn xuyên ngang ngực
năm mới ngoài ba mươi. Vào buổi chiều cuối tháng tám, hắn còn đứng
trước một căn nhà trong hẻm ngoại ô, nhìn qua cửa sổ, đèn trong nhà
thắp sáng nhưng mọi người đi vắng, cất tiếng gọi. Như những ngày mùa
thu, mùa đông nơi thành phố xa khuất cũng hơi ngửa đầu lên cao liếc mầu
trời xẫm mau, hắn gọi đứa bạn của thời niên thiếu nghèo khốn, gọi những
mộng phiêu lưu đã bị nghiền nát cùng tuổi trẻ như một Thiên Đường cửa
đóng. Hắn lủi thủi trở về như bị bỏ rơi, chạy qua thành phố Saigon buổi
tối còn ngơ ngác những âm vang của mấy ngày hỗn loạn. Có lẽ hắn nhớ tới
thành phố của tuổi trẻ, như nhớ tới đứa bạn, hắn đã chạy cuồng trong đó
trên chiếc xe đạp tồi tàn giữa những ngày tháng rách bươm, mơ ước cái
cơ hội kết tập được ngày tháng tan rã thành một đời ý nghĩa. Có lẽ hắn
muốn gặp đứa bạn để hỏi: tại sao mày không viết được gì thêm nữa ngoài
cuốn sách đề tặng tao?; cuốn sách hắn nhận được vào một ngày cuối năm
nào khi còn đóng đồn trên sườn núi ngoài Trung nhớ quê hương đã lìa bỏ
cùng mẹ và gia đình ở lại, cuốn sách vợ hắn mang liệm theo xác như một
kỷ niệm hắn muốn mang đi. Hắn không gặp đứa bạn và tự hỏi: Nó ra sao?,
đã lâu không gặp, như ngày nào trong thành phố hoài nghi và khắc khoải,
hắn thường tìm bạn và hỏi: Thế nào, chúng mình sẽ đi về đâu?
Hắn
gục chết bên một gốc cây, mau lẹ, không đau đớn. Hắn nằm đó, đầu ngoẹo
sang bên, gối lên cỏ như một người ngủ mệt sau đoạn đường hiểm trở của
Định Mệnh – Định Mệnh của một thế hệ, những người còn sống là những kẻ
sống sót. Hắn đã đi từ tuổi trẻ bị tước đoạt, tới nằm đó trong khu rừng
giữa cuộc chiến phơi mình làm một sự thật thô sơ: ở đây, trong xứ sở
khốn nạn này, cuộc chiến phải chấp nhận không phải là lối phiêu lưu
trốn chạy ngông cuồng. Cái chết của hắn không phải là một huyền thoại
Rimbaud, một huyền thoại Lawrence, tên bạn hắn hiểu được như vậy.
Chúng muốn gì? Người chết cho kẻ khác sống. Chúng muốn gì?
Những
nhà phê bình ở Hànội đã gọi các nhân vật trong cuốn sách này là bọn tôi
mọi nô lệ. Họ hỏi: trong khi họ xây dựng xã hội chủ nghĩa, bọn này đi
đâu? Những người ở Hànội không khi nào tự đặt câu hỏi với mình, những
câu họ thường đặt cho kẻ địch. Bọn chúng đã đi trong thống khổ của lịch
sử tới cái chết, cái chết như sự từ chối quyết liệt. Tại sao? Đáng lẽ
họ phải tự hỏi: tại sao? Cái chết lựa chọn không phi lý, nó sẽ làm nảy
sinh sự thật, sự thật của những người chết truyền lưu cho kẻ sống sót.
Mỗi nhà văn chính là một kẻ sống sót.
Sàigòn, 1965
THANH TÂM TUYỀN
(Nguyễn Quốc Trụ sao lục, và giới thiệu)
Chú thích của tác giả:
(1)...
c’est que l’idéal, jusqu’à présent, a été la véritable force de
dénigrement appliquée au monde et à l’homme... la grande tentation du
néant.