Dòng Kỷ Niệm Kienando
Theo Việt Báo - Việt Hải (Los Angeles) - 27-07-2006
Nguyễn Ngọc Cam Ly.
Ngày 16 tháng 7 là ngày 2000, tôi tham dự buổi lễ truyền thống (*) của
môn phái Kienando năm xưa, cách đây đúng 6 năm khi hình ảnh của võ sư
Hồng Ngọc Đại Nghĩa biểu diễn cây Thanh Long Đao chém không gian nghe
vùn vụt, từng nhát đao tung bay quyện vào làn gió như chẻ đôi mục tiêu
bao vây quanh võ sư. Từng thế bay nhảy, vung đao múa thế tấn thủ, ôi
sao thật đẹp mắt! Và rồi võ sư Đại Nghĩa xuống tấn theo thế thủ thiếu
lâm cuối chào tất cả quan khách. Tôi cho là một hoạt cảnh tuyệt đẹp
trong ký ức cũ.
Ngày
này của những năm trước đây kể từ khi tôi theo học lớp Kienando khóa
đầu tiên tại Mỹ 1995, ngày truyền thống Kienando là ngày kỷ niệm sự
đánh dấu mỗi năm trôi qua, mỗi bước tiến triển của môn phái từ con số 5
người để rồi vượt hơn 700 người theo học tại các võ đường San Fernando
Valley. Nghề võ tại Mỹ đa số là ngành nghề dạy bán thời gian, khác với
khung cảnh bên nhà các võ sư có thể sống với ngành võ thuật theo ý
muốn. Tôi rời Kienando vì lý do cá nhân, nhưng rồi vẫn theo dõi những
họat động của hai võ đường Kienando tại Corbin dành cho mọi người và võ
đường CSUN dành cho sinh viên thuộc đại học Northridge, tọa lạc trong
vùng thung lủng San Fernando Valley. Võ sư Chưởng môn Nguyễn Lâm vẫn
phát triển ngành võ trong cộng đồng Việt Nam và ra ngoài dòng chính
(American mainstream), bằng chứng là ngày 15 tháng 7 năm nay số võ sinh
ngoài gốc Việt ra còn khá nhiều môn đồ gốc Nga, Mỹ, Mễ, Ba Tư, Tàu, Do
Thái, Singapore, Liban (Lebanon),...
Cách đây không lâu Võ sư
Hồng Ngọc Đại Nghĩa được một diễn viên Hollywood mời hướng dẫn võ thuật
để thụ huấn kỹ năng biểu diễn trong phim ảnh cũng như cho mục đích thể
dục và tự vệ. Võ sư Đại Nghĩa làm mê hoặc người địa phương khi tôi theo
anh hướng dẫn phái doàn Kienando đi biểu diễn võ thuật do lời mời của
vài trường học trong vùng San Fernando Valley, khi các thầy cô biết anh
cùng thân phụ là giảng sư Nguyễn Lâm cho các lớp võ tại đại học
Northridge.
Tôi nhớ có cô học sinh Mỹ Cynthia Ashley thuộc
trường trung học tại North Hollywood sau khi xem võ sư Đại Nghĩa biểu
diễn võ thuật cùng côn đao xong, cô và các bạn đến xin chụp hình, và
xin chữ ký và hỏi nhiều câu thắc mắc về "kung fu". Tôi nghe võ sư Đại
Nghĩa giải đáp thắc mắc cho đám đông. Trong những binh khí mà ông cha
ta dùng để bảo vệ giang sơn bờ cõi khi xưa từ Lý Thường Kiệt xuất sắc
với môn đại đao, rồi Lê Lợi, Quang Trung, Trưng Nữ Vương hay Triệu
Chinh Nương,... kiếm thuật là môn họ dùng điêu luyện để đánh hạ bọn
giặc ngọai xâm quấy nhiễu xứ sở ta. Năm 1075, Nguyên Soái Lý Thường
Kiệt mang đại quân gồm 10 vạn binh sang chinh phạt giặc Bắc phương
thường sách nhiễu nước ta. Sách sử ghi nhận ông rất giỏi xử dụng đại
đao. Đại quân của Lý tướng công chiếm lãnh 3 châu của Bắc phương là Ung
châu (tức Nam Ninh) cùng Khâm châu và Liêm châu (tức Quảng Đông). Sự
kiện đáng ghi nhận chính Lý Nguyên Soái thân chinh nhà Tống ở phương
Bắc trong cuộc hành quân đầy hiển hách băng sông Như Nguyệt đã sáng tác
bài thơ đầy dũng khí để khích động tinh thần binh sĩ:
"Nam Quốc sơn hà, Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẵng hành khan, thủ bại hư"
Như
tiếng lòng yêu nước vì luật trời đã định nước Nam là của dân Nam, giang
san anh hùng, bất kỳ ai dùng sức mạnh xâm lăng thì chắc chắn rằng khó
tránh khỏi thất bại nặng nề.
Từ ngàn xưa 1075 với đại đao đến
ngàn sau của 2000 hay 2006 hay mãi mãi về sau tinh thần Lý Thường Kiệt
vẫn nung nấu ý chí bất khuất của người nước Nam. Tôi thích môn cổ sử
Việt Nam nói lên lòng yêu nước của người nước Nam.
Ngày truyền
thống 2006, em Nguyễn Ngọc Cam Ly, một võ sinh trung kiên, hoàng đai
cấp 2, 12 tuổi, là một môn đồ Kienando xử dụng kiếm thuật rất điêu
luyện. Với người Nhật có bộ môn Kendo, tức môn Đấu Kiếm, vì "ken" nghĩa
là kiếm và "do" là đường. Do đó, Kendo có ý nghĩa là đường kiếm. Hiển
nhiên, môn thể thao này bao gồm lý thuyết về phương cách chúng ta xử
dụng kiếm giao chiến và bao gồm cả kỹ năng võ thuật trong đó. Kendo là
môn kiếm thuật đã có từ thời Trung Cổ ở Nhật. Vào thời kỳ đó, các tay
kiếm võ sĩ đạo thực tập môn này như phương cách để triệt hạ, tiêu diệt
đối phương. Theo dòng thời gian tiến hóa kiếm chỉ còn là môn thể thao
luyện tập khả năng uyển chuyển uốn lách mau lẹ của cơ thể về kỹ thuật
biểu diễn và tránh đòn.Tôi quan sát Cam Ly đi bài quyền "Lưỡng Nghi
Kiếm" do võ sư chưởng môn Nguyễn Lâm sáng chế, em thật nhanh nhẹ tung
kiếm chém không gian, chẻ gió thoảng, né đường gươm của đối phương theo
thế võ. Kiếm hay gươm là loại võ khí thông dụng trong những cuộc chiến
dựng nước và giữ nước của cha ông chúng ta. Tôi còn nhớ thi ca của Đặng
Dung và Nguyễn Công Trứ đề cập về bảo kiếm như sau:
Biê´t ta co`n ma`i kiê´m dươ´i trăng bao nhiêu lâ`n nư~a?"
Trong bài "Kẻ Sĩ" nêu chí lớn làm trai, cụ Nguyễn Công Trứ cũng đề cập đến thanh kiếm qua mũi can tương:
"Trong lăng miếu ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương"
Rồi
trong bài "Chí Nam Nhi" cho thấy binh khí kiếm và cung được Nguyễn
tướng quân xử dụng trong thơ của ông nung nấu chí lớn làm trai:
"Nợ tang bồng quyết trả cho xong.
Đã xông pha bút trận, thì gắng gỏi kiếm cung"
Nguyễn Công Trứ
Kienando
đến tại đây, rồi đào tạo ra nhiều em trẻ Việt Nam lớn lên trên xứ người
mang tinh thần võ thuật quê hương, di chuyển lanh lẹ trong kỹ thuật tự
vệ khi luyện võ, đấu gươm. Ngày xa xưa của quê hương khi dòng văn học
Hán-Nôm trong sử sách là tinh thần ái quốc của vua và các tướng sĩ nhà
Trần được nêu cao. Trong ngày xuân, thơ của tướng quân Trần Quang Khải
với khí phách dâng cao cuồn cuộn khi chống chọi quân thù gìn giữ giang
san bờ cõi, hãy xem bài "Xuân nhật hữu cảm" (Cảm khái ngày xuân):
"Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện
Ân ba hải khoát túng lân trì
Sinh bình đởm khí luân huân tại
Giải đảo đông phong phú nhất thi...
Khư sầu lại hữu tam bôi tửu
Phủ kiếm du du ức cố sơn"
Diễn dịch:
(Nước cũ hồn mơ chim mỏi cánh
Ơn xưa bể thẳm cá chùng vây
Bình sinh chí khí giờ chưa nhụt
Ngâm một vần thơ đạp gió xoay...
Tiêu sầu cậy đến dăm ba chén
Gõ kiếm non xưa vọng nhớ về)
Trong
cuộc kháng chiến chống quân Bắc phương xâm lược, giặc Nguyên Mông xâm
lăng lần thứ hai năm 1285, tướng Trần Quang Khải được lệnh vua Trần
Thánh Tông giao cho tăng viện cho cánh quân của Trần Nhật Duật, tức
người tướng cũng là em ruột của ông trấn đóng ở vùng Thanh Hoá và Nghệ
An. Theo chiến thuật của giặc Bắc phương toan tính, giặc tấn công ta
bằng hai hướng: hướng thứ nhất với 50 vạn quân của triều đình Nguyên
Mông do Thoát Hoan chỉ huy từ biên giới phía Bắc đánh xuống; hướng thứ
hai với 10 vạn quân do Toa Đô chỉ huy, từ đất Chiêm Thành (Vùng mà ngày
nay là Quảng Trị) đánh ngược lên theo thế gọng kìm, đích điểm của giặc
là tiến chiếm thủ đô Thăng Long của ta. Tháng tư năm Ất Dậu (1285), vua
nhà Trần bàn với nhị vị tướng quân Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật tổ
chức phản công lại liên quân của Thoát Hoan và Toa Đô, một kế hoạch
đồng bộ được triển khai binh pháp khi mở ra Chiến dịch Hàm Tử, hai anh
em Trần tướng quân được lệnh bí mật vượt qua vùng tạm chiếm đóng của
quân giặc từ mạn Nam để tiến quân ra phía Bắc, phá tan vở mộng bành
trướng của giặc ngoại xâm tiến chiếm Thăng Long thành. Ngày 06 tháng 06
cùng năm Ất Dậu Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng
đại quân nhà Trần trở về kinh đô Thăng Long, tổ chức ăn mừng chiến
thắng. Trần Quang Khải đã cảm khái mà viết bài thơ rằng:
“Đoạt sáo Chương Dương Độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san”
(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Diễn nghĩa:
“Cướp gươm giặc ở bến đò Chương Dương
Bắt giặc Hồ (tức giặc Nguyên) ở cửa Hàm Tử
Thời thái bình nên gắng đem hết trí tuệ
và sức lực để xây dựng đất nước
Muôn đời còn mãi núi sông này”.
Sách
sử ghi nhận hai võ tướng Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật vốn điêu
luyện kiếm thuật. Cam Ly thi triển bài quyền "Lưỡng nghi kiếm" cho thấy
nét độc đáo của việc xử dụng kiếm thuật không hổ thẹn là hậu duệ các
Trần tướng quân. Lưỡng nghi kiếm là bài quyền ôn nhu khi ta trông đường
kiếm múa may, nhưng có lúc mãnh liệt khi tấn công hay đỡ đòn, có lúc
lại uyển chuyển, mềm mại khi tránh né đòn. Bài quyền này dược võ sư
Nguyễn Lâm khai sáng do nguyên tắc thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi
sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, kiếm thức diễm ảo, công thủ liên
hoàn, bài quyền mang tính chất tự vệ và mỹ thuật.
Binh khí được
giảng dạy phổ thông trong võ phái Kienando là côn. Côn được chia ra
nhiều loại như trường côn, đỏan côn, tề mi côn, đơn tiết côn, song tiết
côn (hoặc còn gọi là lưỡng tiết côn, đặc ngữ trong tiếng Anh là
nanchaku theo phiên âm Nhật Bản). Ngày truyền thống năm nay cô Lynelle
Millitate đại diện võ phái đi bài quyền "Phá bát quái trận đơn tiết
côn". Lynelle theo học tại hai võ đường CSUN và Corbin được 5 năm. Cô
có đam mê võ thuật và văn hóa Á châu. Trước đây cô cho biết cô bị chứng
bệnh thiếu máu trầm trọng (severe anaemia). Cô điều trị theo các phương
pháp y khoa mà không khỏi. Khi đi học cô cảm thấy mệt mỏi, thở khó,
chóng mặt, thường bần thần, choáng váng va cảm nhận sự yếu ớt của cơ
thể. Quả thật Lynelle là một phụ nữ mảnh khảnh. Nhân một hôm ghi danh
cho khóa học mới cô phải lấy thêm một môn phụ (elective class), cô xem
trong sách ghi danh của trường (school catalog) có môn Kienando Kung
Fu, thoạt dầu cô nghĩ là võ Trung Hoa, cô chọn học thử. Sau một khóa
huấn luyện căn bản cô cảm thấy thích thú khi xoay người đi quyền, khi
hít thở khí công, hay khi ngồi yên tĩnh tọa thiền. Lạ lùng thay sau mấy
tháng tập võ Lynelle thấy căn bệnh khó thở và mệt mỏi do chứng anaemia
từ từ biến mất. Cô nói là cô nghĩ vì năng tập võ điều độ qua các phương
pháp vận động cơ thể, hít thở khí công và thiền tịnh đã màu nhiệm giúp
cơ thể điều hoà khí huyết khi các kinh mạch trong cơ thể được khai
thông, đặc biệt là các chất hormone lâu nay bị tắt nghẽn tại các kinh
mạch vốn rối loạn do hệ quả anaemia, và cuối cùng những hệ thần kinh
mạch đã được luân lưu điều hòa. Cô đọc thêm sách võ thuật và trân quý
môn võ, đặc biệt môn Kienando mà trường đại học CSUN đem đến cho cô sự
quen biết thích thú, và nó như môn học thể dục thẩm mỹ, như liều thuốc
chữa bệnh cho sức khoẻ tốt đẹp. Lynelle là một trong 5 huấn luyện viên
cao cấp bên phía người ngoại quốc dùng Anh ngữ.
Tôi hỏi cô cho
nhận xét cuối cùng, cô vui cười cho biết Kienando là môn võ Việt vì
theo lịch sử nó được khai sinh tại Việt Nam, do người Việt khai triển
các thế căn bản của kung fu thuở xa xưa để tạo ra những bài quyền đặc
thù. Trong câu chuyện hàn huyên, tôi đồng ý với ý nghĩ của Lynelle.
Trong quan điểm tương tự khi chúng ta so sánh bên phạm vi nhạc cũng
vậy, ví dụ như các nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, Nam Lộc hay Lam Phương khi
dùng 7 note nhạc căn bản của người Tây phương sáng chế như Re, Do, Mi,
Fa, Sol, La, Si để sáng tác ra những ca khúc Việt Nam thì không thể bảo
là nhạc họ làm của phương Tây được.
Theo ý niệm như vậy khi
suy diễn bộ môn võ thiếu lâm (mà người Mỹ quen dùng nhóm từ ngữ
"shaolin kung fu") nguyên thủy do Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) hay Đạt Ma
Sử Tổ sáng chế, ông đã du hành từ Ấn Độ sang định cư tại miền núi Tung
Sơn, Trung Quốc, trong những năm 448-527 Công Nguyên, để truyền bá phật
pháp và võ thuật để tự vệ trước thiên nhiên và thú dử. Những thế võ
được Đạt Ma Sử Tổ triển khai dựa vào biểu tượng của loài cầm thú như
hổ, báo, long, phụng, hạc, khỉ, rắn,.. thì lời nhận xét cuối cùng theo
sự ghi nhận chủ quan của tôi thì người Trung Hoa đã "cầm nhầm" môn võ
của người Ấn Độ vì tự ái dân tộc từ nguồn gốc. Thiếu lâm sẽ không là
đặc quyền "của riêng" là võ của người Tàu. Thiếu lâm sẽ không là đặc
quyền "của riêng" là võ của người Tàu, mà còn có thiếu lâm mà nhiều
nguồn gốc khác nhau như Ấn Độ, Tây Tạng, Mã Lại, Mông Cổ, Thái Lan, Cao
Miên ,... và Việt Nam khi được địa phương hóa. Và còn có thiếu lâm mà
nhiều nguồn gốc khác nhau như Ấn Độ, Tây Tạng, Mã Lại, Mông Cổ, Thái
Lan, Cao Miên ,... và Việt Nam khi được địa phương hóa.
Xin cho
tôi kết luận dựa theo nhận xét của Lynelle Millitate là được địa phương
hóa là có nhiều nhánh Thiếu lâm từ Việt Nam, để tránh nỗi ám ảnh từ sự
chiếm lãnh nhiều thứ của người Trung Hoa cũng vì tự ái dân tộc trong
tôi. Chính tự ái dân tộc khiến tôi không vui khi nếu một người Trung
Hoa nào đó "cầm nhầm" món phở của người Việt hay món Spaghetti của
người Ý, chỉ vì người Trung Hoa đã tự hào về sự thông minh khi sáng chế
ra nguyên tắc làm mì sợi đầu tiên trên thế gian này, tự nguyên tắc văn
minh bá quyền.
Năm 2006 đánh dấu 34 niên kỷ niệm thành công liên
tục của võ phái Kienando, tôi tham dự với niềm vui vì các thiếu niên
theo học ở đó, họ lớn lên trong khuôn khổ võ thuật. Dù bất cứ bộ môn võ
nào, bỏ ra ngoài niềm hãnh diện riêng tư thì võ thuật giúp ích khi
luyện tập đều đặn thường thường tốt cho sức khoẻ; Và với các em thiếu
nhi thì cần thêm võ đức và lòng tự tin từ võ đạo để tô luyện các em nên
người và giúp đời. Đó là nhận xét cuối cùng của bài viết này vậy.
Việt Hải Los Angeles
(*):Ngày
truyền thống 16 tháng 7 cũng là sinh nhật của Võ sư Chưởng môn, người
viết bài xin kính chúc ông: "Phước như Đông Hải, Thọ tỉ Nam Sơn".
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: