Chưa đầy hai tuần nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ họp Ðại hội Mười. Một vấn đề sẽ gây tranh luận, là có cho phép các đảng viên cộng sản kinh doanh, để trở thành các nhà tư sản hay không. Mong quý vị tham dự đại hội thông qua nhanh chóng vấn đề này. Vì nên dành thời giờ thảo luận một vấn đề khác quan trọng hơn. Câu hỏi là: Có nên cho phép các nông dân Việt Nam được mua bán, kinh doanh ruộng đất hay không? Tại sao vấn đề này lại quan trọng hơn? Vì cả nước chỉ có vài triệu đảng viên cộng sản, trong đó chỉ có mấy ngàn người đã kinh doanh; nhưng có tới 50, 60 triệu người Việt Nam đang sống bằng ruộng đất ở nông thôn. Hơn nữa, các đảng viên cộng sản thường ít nhất cũng có của ăn của để mà không ai ăn hiếp được họ. Còn nông dân phần lớn thiếu ăn thiếu mặc và nhìn lên lúc nào cũng sợ, không biết bao giờ sẽ có ai tới giật mất phần ăn của mình.
Tại sao có vấn đề “tư sản hóa” nông dân? Vấn đề chính là ruộng đất. Nông dân Việt Nam không được quyền làm chủ ruộng đất mà họ đang canh tác. Người dân ở đô thị cũng không có quyền làm chủ mảnh đất mà họ ở, mặc dầu gần đây họ được phép chuyển nhượng, đi vòng quanh luật lệ dễ dàng hơn. Người dân cày cấy trên thửa ruộng hoặc dựng nhà lên trên mảnh đất, là do nhà nước “cho mượn đỡ quyền sử dụng” mà thôi. Và quyền sử dụng đất đai của họ có thể bị tước đoạt; chỉ cần một quyết định cấp hàng huyện, hàng tỉnh cũng đủ gây ra bao nhiêu oan khuất. Rất nhiều vụ khiếu oan đã lên tới tận cung điện Ba Ðình.
Khi đảng Cộng Sản Việt Nam chưa nắm được chính quyền, họ đưa ra khẩu hiệu “trả ruộng đất cho người cày” để lôi kéo nông dân. Ðây là một khẩu hiệu đã được ông Lenin nêu lên ở Nga từ trước năm 1917, được ông Mao Trạch Ðông hô hào ở Trung Quốc từ 1940, và các ông Trường Chinh, Hồ Chí Minh chỉ việc sao chép lại vì thấy chỉ cần hô to lên là có hiệu quả.
Trong lúc toàn dân còn đang lo kháng chiến chống Pháp, đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm theo đòi hỏi của Bắc Kinh phát động chiến dịch cải cách ruộng đất, tù đày, giết hại các địa chủ, cướp đất trao cho dân nghèo. Nhưng sau chiến dịch cải cách ruộng đất đẫm máu và gieo rắc thù hận ăn sâu vào trong xã hội nông thôn đến bây giờ vẫn chưa nguôi, Mao Trạch Ðông thay đổi chính sách. Ðảng Cộng Sản Trung Hoa không cho phép nông dân làm chủ ruộng đất nữa mà phải tập thể hóa, bắt tất cả đều gia nhập hợp tác xã, rồi xây dựng công xã nhân dân. Ðất đai thuộc quyền đảng Cộng Sản, không một người nào được làm chủ mảnh đất mình đang cày cấy hay đang làm nhà ở nữa. Tất nhiên, các ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh, rồi Lê Duẩn cũng theo đúng đường lối quá khích và cường bạo của Bắc Kinh.
Những
chính sách trên làm hàng chục triệu người chết đói ở Trung Hoa, và hàng
trăm ngàn người chết ở Việt Nam. Trong cùng thời gian đó, ở nhiều nước
Á Ðông như Nhật Bản, Ðài Loan, Hàn Quốc, người ta cũng cải cách ruộng
đất. Nhưng các chính sách cải cách của họ thực sự trao ruộng đất cho
người cày. Trong khi ở Việt Nam, Bắc Hàn và Trung Quốc thì nhà nước
tịch thu ruộng đất để bắt nông dân làm công, theo các điều kiện do đảng
Cộng Sản ấn định. Chủ trương độc quyền chuyên chế đã biến tất cả các
nông dân thành nô lệ, các quan cán bộ thành giai cấp địa chủ mới, dù họ
chỉ đại diện cho ông chủ tối cao là các đảng Cộng Sản. Bao nhiêu cảnh
“cái đêm hôm ấy đêm gì” đã diễn ra.
Ở
các nước Á Ðông không cộng sản, khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển,
nhiều nông dân có thể bỏ miền quê lên thành phố kiếm việc làm. Quá
trình công nghiệp hóa ở bất cứ nước nào cũng tạo ra những cuộc di dân
từ nông thôn ra đô thị, theo luật cung cầu. Nghề làm ruộng thì năng
suất thấp, sinh sản nhiều thì nông thôn thừa nhân lực, trong khi xưởng
máy ở thành thị cần cơ bắp người lao động. Nhiều nông dân bán luôn
ruộng đất của họ để ra thành phố, trở thành công nhân, thành thợ thủ
công, hay chính họ bỏ vốn kinh doanh. Những cuộc di dân lớn diễn ra
theo đòi hỏi cung cầu của nền kinh tế thị trường. Nhà nước lo giải
quyết những vấn đề gia cư, điện nước, vệ sinh, giao thông, chuyên chở
công cộng, vân vân, những vấn đề lớn chung mà thị trường thường không
tự đặt ra để giải quyết thỏa đáng nếu không có nhà nước tham dự.
Bây
giờ, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu cũng theo kinh tế thị trường, người
ta vẫn còn thấy những hậu quả tai hại do các chính sách đối xử với nông
dân của đảng Cộng Sản, bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ trước. Các đảng Cộng
Sản ở Trung Quốc và Việt Nam đã xóa bỏ nhiều rào cản, trở ngại mà họ
đặt ra trong đời sống kinh tế. Người dân được hưởng thêm một chút tự do
là đời sống của họ được cải thiện, kinh tế cả nước cũng cải thiện.
Nhưng có hai di sản của chế độ vẫn chưa được xóa bỏ, đó là chế độ nhà
nước làm chủ ruộng đất, và chế độ hộ khẩu hạn chế quyền tự do cư trú
của người dân. Hai chế độ này vừa làm khổ nông dân, vừa tạo cơ hội cho
quan lại tham nhũng gây cảnh bất công, lại vừa ngăn cản việc phát triển
chung của quốc gia.
Khi
nền kinh tế đang chuyển từ chế độ tập trung chỉ huy sang kinh tế thị
trường. Trong thời gian đó, tình trạng quyền sở hữu ruộng đất vẫn thuộc
nhà nước, cộng với chế độ độc quyền chính trị từ cao xuống thấp giúp
cho đám quan lại cộng sản tha hồ bóc lột nông dân.
Khi
thị trường được mở cửa, nhiều nhà đầu tư bỏ tiền vào vùng đô thị, dân
số tăng lên, giá trị nhà cửa tăng lên. Giá đất ở thành phố cũng tăng
theo, dù đó chỉ là giá trị của “quyền sử dụng đất” mà người ta có thể
chuyển nhượng cho nhau. Kinh tế được gọi là thị trường, ở thành phố mua
bán đất theo giá thị trường; nhưng đất đai ở nông thôn thì thuộc một
thứ thị trường khác. Giá đất ở thành phố có thể tăng vọt lên 20, 30
lần. Nhưng người nông dân ở ngay bên cạnh thành phố thì không có quyền
bán đất đai mà họ đang canh tác cho nên giá chuyển nhượng không đổi.
Ngược lại, vì nghề nông lợi tức thấp, năng suất yếu, so với các nghề
nghiệp khác ở thành phố, giá mảnh đất mà nông dân được phép dùng phải
coi là đã xuống, trong lúc giá đất ở đô thị tăng. Có hai thị trường đất
đai ở bên cạnh nhau, vì đảng Cộng Sản độc quyền cai trị.
Nếu
quý vị là một người có quyền thế, có địa vị, quý vị sẽ thấy ngay tình
trạng “hai thị trường đất đai” trên đây là một cơ hội làm giàu “hợp
pháp” mặc dù rất “bất nhân.” Người ta có thể nhân danh Ðảng và nhà nước
lấy lại quyền sử dụng (đúng ra là chiếm đoạt) ruộng đất của nông dân,
đền bù cho họ theo “giá thị trường” rất thấp ở nông thôn. Sau đó, đem
bán lại đất cho người khác sử dụng theo những mục đích như xây khu du
lịch, lập cư xá, nhà máy, sân cù, vân vân, theo giá đất vùng đô thị.
Thế là bỗng dưng các quan chức mua đất giá một đồng, bán lại với gia
hai, ba chục đồng ngay lập tức! Những công ty người Việt hay người nước
ngoài mua được “quyền sử dụng đất” cho mục đích kinh doanh của họ rồi,
sẽ phải nghĩ tới quà cáp cho đúng chỉ tiêu. Quyền sử dụng đất đai đó
cũng có thể được các quan chức cộng sản bán cho nhau theo “giá hữu
nghị,” vẫn theo đúng các nghị quyết, pháp lệnh của nhà nước!
Ai
cũng có thể nhìn thấy những cơ hội làm giàu như thế. Nó hợp pháp, vì
luật pháp của chế độ cộng sản cho phép quan chức làm như vậy. Nhưng rõ
ràng là bất chính, vô đạo. Bây giờ chúng ta đọc báo thấy những ông lớn
ở Bộ Giao Thông Vận Tải ông nào cũng làm chủ dăm bảy mẫu đất làm trang
trại. Làm gì mà họ lắm của thế? Họ không cần làm sai pháp luật, không
cần ăn cắp của viện trợ cũng vẫn làm giàu bất chính được. Họ chỉ cần sử
dụng pháp luật, vì pháp luật do đảng Cộng Sản đặt ra. Chế độ cộng sản
tạo ra hai thị trường đất đai, nhờ các chính sách từ thời Hồ Chí Minh
nhập cảng từ Trung Quốc đem về để lại. Nhờ chế độ hai thị trường đó mà
các cán bộ có thế có quyền tha hồ làm giầu.
Nhưng con giun xéo lắm cũng quằn. Người nông dân Việt Nam đã đi biểu tình, ăn vạ, tuyệt thực, thậm chí có những người tự thiêu.
Muốn
chấm dứt tình trạng làm giàu bất chính và bất công xã hội như trên, thì
đảng Cộng Sản phải bãi bỏ chủ trương dành quyền sở hữu đất đai cho nhà
nước, cấm người dân không được làm chủ đất đai, vườn ruộng của họ. Phải
bãi bỏ chế độ hộ khẩu, một hình thức ngăn sông cấm chợ về nhân lực. Sau
khi đảng Cộng Sản giảm bớt nạn ngăn cấm nông sản, hàng hóa di chuyển,
chúng ta đã thấy kinh tế lớn vọt lên. Bây giờ hãy quyết định cho con
người được di chuyển tự do.
Quyết
định này sẽ giúp kinh tế quốc gia phát triển nhanh hơn. Khi người nông
dân được làm chủ mảnh đất họ cày cấy, họ có thể dùng đất để cầm thế,
tạo ra vốn làm ăn, dù làm trên mảnh đất đó hay làm công việc khác. Tự
nhiên, nông thôn Việt Nam sẽ có thêm vốn. Người ta có thể bán ruộng đất
để lấy tiền kinh doanh, nếu được tự do đổi chỗ ở một cách hợp pháp, họ
sẽ bước vào lãnh vực công nghiệp, thương mại. Những người mua thêm được
ruộng đất và giữ nghề nông sẽ có thể canh tác với hiệu năng cao hơn vì
tầm hoạt động lớn hơn. Họ sẽ chăm lo bồi bổ cho mảnh đất mà họ làm chủ
có năng suất cao hơn, cải thiện phương pháp trồng trọt, phương pháp
tiếp thị nông sản, vân vân, nếu số đất mà họ làm chủ đủ lớn.
Nếu
đại hội Mười của đảng Cộng Sản dám quyết định hai điều trên, thì 50, 60
triệu nông dân Việt Nam sẽ được giải phóng; mà nhờ thế kinh tế cả nước
sẽ tăng trưởng cao hơn. So sánh với các quyết định đó thì việc cho phép
các đảng viên cộng sản làm ăn theo lối tư bản hay không chỉ là chuyện
nhỏ. Nhiều người họ đã làm ăn từ lâu rồi. Không cho phép thì họ sẽ phải
làm lén. Làm lén tức là trốn luật thì cũng không cần theo luật lệ nữa.
Thà rằng cho họ tự do, rồi bắt họ phải theo luật pháp. Khi đó, chỉ cần
tu chính pháp luật để bảo vệ công bằng xã hội. Nhưng nỗi bất công lớn
nhất hiện nay là cảnh 80 phần trăm dân chúng ở nông thôn vẫn còn là nạn
nhân của các chính sách từ thời Hồ Chí Minh để lại. Nếu không giải
quyết mối bất công đó, thì người dân sẽ không thể kiên nhẫn được. Không
có số thống kê ở Việt Nam nhưng ở Trung Quốc riêng trong năm 2005 đã có
30,000 vụ nông dân khiếu oan; so sánh với 20,000 vụ trong thời gian từ
1979 đến 1982.
Hiện
nay đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn giữ chủ trương nhà nước làm chủ ruộng
đất và bảo vệ chế độ hộ khẩu. Ðây là lúc đảng Cộng Sản Việt Nam có thể
thử tỏ ra là họ có sáng kiến đi trước Trung Quốc! Ông Nguyễn Ðức Bình
cứ than thở hoài là đảng của ông không có độc lập về tư duy, về chính
sách; cứ theo đuôi nước bạn xã hội chủ nghĩa phương Bắc. Bây giờ, ông
thử đề nghị đảng ông đi trước Trung Quốc một bước coi sao?
NGÔ NHÂN DỤNG