Theo VNN - Tùy Bút Ngọc Thủy - 29-05-2006
Từ độ cao trên cánh bay, lòng tôi cùng chao nghiêng nhìn xuống lòng thành phố Hà Nội, xanh xanh trong tầm mắt. Đôi mắt từ thuở sinh ra rồi lớn lên từ miền Nam, chưa một lần được nhìn về quê Bắc. Đã bao nhiêu năm, tôi chỉ biết Hà Nội qua nỗi niềm nhớ thương của cha mẹ khi rời bỏ làng quê theo làn sóng di cư từ ngày chia đôi đất nước. Và chỉ biết yêu thương Hà Nội qua từng trang sử Việt ghi chép lại những địa danh và tấm gương oai hùng lẫm liệt của tiền nhân trên đất Bắc từ ngàn xưa dựng nước, mở mang bờ cõi uy linh. Tôi đã nhiều lần mơ ước được đến thăm Hà Nội dù chỉ một lần, để biết rõ về quê mẹ quê cha, đất Thánh Tổ ngàn năm văn vật. Vậy mà mãi tới hôm nay, tới nửa đời người, tôi mới thấy được điều từng ước ao, dù chiến tranh Nam & Bắc đã khép lại ba mươi năm qua.
Chỉ vừa mới nhìn thấy mầu xanh của lòng thành phố Hà Nội thôi, trái tim tôi như co thắt lại đến nghẹn ngào. Nước mắt bỗng trào ra, không hiểu vì sao, mà cũng không sao ngăn dược nữa. Thôi, cứ để trào ra, bởi lòng tôi đang dào dạt đến tức tủi, xót xa! Có những người con của dân tộc nào, phải sau mấy chục năm dài mới nhìn thấy được quê hương?! Bởi đường về miền Bắc bao cách xa với muôn điều khó khăn không phải vì núi cao, đèo sâu hiểm trở mà vì sự thống trị của nhà nước Cộng sản quá cay độc, dùng Đảng để dẫn dắt đời sống lương dân xuống khổ nghèo, tăm tối. Nên đến tận bây giờ vẫn có nhiều người Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 phải ra đi để tỵ nạn Cộng sản, sống khắp nơi hải ngoại, ở thập niên năm mươi, sáu mươi, bẩy mươi v.v... vẫn chưa hề biết đến Thăng Long Hà Nội, bởi họ làm sao có thể trở về khi đất nước thực sự chưa có Nhân Quyền - Tự Do - Dân Chủ.
Tôi đi từ Sàigòn ra Hà Nội qua đường dài Nam - Bắc bằng hai tiếng chim bay. Những dãy núi mờ xa trong nắng dịu ban trưa vẽ nên khung cảnh hữu tình của một Hà Nội quý yêu trong lòng nhiều người phải bỏ đất Bắc từ những năm xưa (1945) để vào phương Nam có nắng ấm Tự Do, như lời của nhạc sĩ Hoàng Dương đã nói hộ nỗi niềm nhớ thương da diết khi Hướng Về Hà Nội:
"Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi. Hà Nội ơi, phố phường rải ánh trăng mơ, liễu mềm nhủ gió ngây thơ, thấu chăng lòng khách bơ vơ... Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê, tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về. Một ngày mùa chinh chiến ấy, chim đã xa bầy, mịt mờ bên trời mây. Một ngày tả tơi hoa lá, ngóng trông về xa luyến thương hình bóng qua. Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi, nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui. Hà Nội ơi, tháng ngày thơ ấu trôi qua, mái trường phượng vĩ dâng hoa, ráng chiều phủ bóng thiên nga... Một ngày tàn cơn chinh chiến. lửa khói lặng chìm tìm về nơi bờ bến. Một ngày hồng tươi hoa lá, hát câu tình ca nói lên lời thiết tha... Hà Nội ơi, những chiều sương gió dâng khơi, có người lặng ngắm mây trôi biết bao là nhớ tơi bời...".
Hà Nội ngày tôi đến, đang giữa tháng mười một, mùa đông chỉ mới vừa làm dáng với bầu trời nhiều cụm mây trắng xám, giăng mờ trên đỉnh núi xa tựa chiếc áo mây trời màu lam tím nhạt. Những giọt mưa phùn nhỏ hạt trong veo, không đủ làm ướt tóc trên vai, đã chào đón tôi ở phi trường Nội Bài. Những giọt nước mỏng manh như bụi mưa chỉ lấm tấm bay bay, chạm khẽ vào làn da mặt cái cảm giác mát lạnh thú vị làm thức dậy trong tôi bao nỗi niềm xao xuyến, lần đầu được dẫm từng bước chân lên phần đất mẹ thân yêu:
tôi người Hà Nội xa Hà Nội
gạch đỏ hè xưa không ở đây
từng lối cỏ hoa làm bối rối
Quê Hương thương lắm giọt mưa bay...
giăng giăng mưa bụi...
mưa hay bụi?
nghe mắt cay rơi nỗi xót xa
nếu bước chân mòn con phố cũ
thì tôi sao nhỉ?
giữa quê nhà...
n.t.
Long, người hướng dẫn viên du lịch vừa tốt nghiệp bốn năm đại học đã đứng chờ sẵn ở sân bay với cái bảng ghi tên của tôi giơ cao, cùng bốn người khách Đài Loan khác. Chúng tôi là một nhóm lẻ gồm năm người, hai cặp vợ chồng người Đài Loan còn trẻ, tôi là người Việt Nam duy nhất, à không, bên cạnh còn có người hướng dẫn và chú tài xế lái xe nữa chứ. Ngày đầu tiên chỉ ở với Hà Nội vài giờ nhưng tôi cũng kịp ngắm cảnh và người sơ qua bằng mắt, bằng tai rồi lại hối hả lên xe đi Hạ Long ngay trong buổi chiều hôm đó. Xe rộng nên tôi ngồi sát cạnh cửa sổ, ngắm cảnh vật nhà cửa hai bên đường một cách tham lam, không rời mắt, bỏ sót một nơi nào trên suốt chuyến lộ trình.
Xe đi ngang qua những cánh đồng, những bãi tha ma nằm rải rác hứng mây trời cho cỏ dại mọc trên lưng, chẳng phải mồ hoang nhưng cũng là vài nắm đất nằm lất lây bên bờ ruộng chơ vơ. Thật khác xa với nghĩa trang ở Mỹ sạch sẽ và đẹp đẽ, còn ở những nơi chốn nghèo nàn đơn sơ này, chỉ là mồ đất đắp lên cùng cỏ nhưng sao tôi vẫn thấy có gì như thật gần gũi với hình ảnh bên đường đó, tuy hiu quạnh nhưng mang vẻ bình an bởi thịt xương được nằm trên miếng đất mình đã sinh ra.
Có những con đường làng còn nguyên lũy tre xanh, hàng cau già thắng tắp, trên bờ đê dài thấp thoáng người đang gặt lúa, phơi rơm. Yêu sao những ven đường đất, cầu đá dẫn vào Đình, Chùa ở tận trong sâu. Tôi đi qua những thôn làng heo hút, thấy bóng người gầy gò cùng trâu cày bừa trên ruộng, in đậm kiếp sống nghèo nhọc nhằn vất vả vẫn còn đây. Qua phố xá thì lại khác, hai bên đường mọc lên những ngôi nhà sặc sở với đủ kiểu xây đúc theo kiểu tây kiểu ta, nửa mới nửa cũ đến rối mắt mà ngắm nhìn mãi cũng thấy ngồ ngộ giống mấy chuồng chim xinh xinh bởi diện tích nền đất quá nhỏ hẹp nên người ta tận dụng không trung để cất cao lên tới mấy từng lầu. Hay là tôi chỉ quen mắt với lối nhà cửa ở Mỹ nào cũng rộng mặt bề ngang nên nom vuông vức hài hòa, còn hầu hết nhà cửa ở miền Nam cũng như miền Bắc này đều có chiều dài sâu nhưng lại rất hẹp bề ngang nên vẫn thấy không cân xứng thế nào ấy, nhất là không có khoảng vườn sau hay cửa hậu nếu xẩy ra hoả hoạn thì sẽ kẹt cho người trong nhà khó thoát. Cứ thế mà giòng suy nghĩ của tôi trôi chảy miên man theo dọc đường đi.
Rời khỏi Hà Nội, xe đưa chúng tôi đến Hải Dương, một địa danh có nhiều di tích lịch sử của các lăng, đền thờ nhiều vị vua và danh tướng đời nhà Trần như Thái Lăng (vua Trần Anh Tông), Mục Lăng (vua Trần Minh Tông), Nguyên Lăng (vua Trần Nghệ Tông), Khu Lăng (vua Trần Dụ Tông), An Sinh Lăng (vua Trần Thuận Tông); đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các đền thờ Mạc Đĩnh Chi, Phùng Hưng.v.v...
Hải Dương cũng là đất sinh ra nhiều danh sĩ lỗi lạc như: Thượng thư Hàn Thuyên, Công hầu Nguyễn Phi Khanh, Chu Văn An, Nguyễn Trãi.v.v... Nhìn ao rau muống mùa này đang nở đầy hoa muống trắng lẫn bèo xanh, bông súng tím dưới đồng sâu mà tôi thốt nghĩ chẳng biết có phải nơi đây từng là chốn Tướng công Nguyễn Trãi muốn trở về cuộc sống, bình dị, thiên nhiên sau khi đã từ quan, rũ áo công danh:
"ao cạn vớt bèo cấy muống
đìa thanh phát cỏ ương sen
kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
thuyền chở yên hà nặng vạy then..."
Những trang sách cũ của tiền nhân mang hình ảnh thơ mộng tao nhàn ấy đã làm ấm lòng tôi và càng thêm yêu mến vẻ mộc mạc của quê hương, đôn sơ mà đẹp đẽ, đã nuôi dưỡng nên nguồn thơ dân tộc thật phong phú đậm đà.
"Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc
tôi gửi nhờ đem hộ lá thư?..."
(Văn Cao)
Tới Bắc Ninh (Kinh Bắc), chúng tôi có ghé vào thăm mấy nơi làm gốm sứ nổi tiếng từ làng Bát Tràng. Được biết, ngoài Lăng vua Lý Thái Tổ, Lăng Lý Bát Đế (của tám vị vua nhà Lý), Đền Cổ Pháp và Đền Phù Đổng Thiên Vương ra, Bắc Ninh còn là nơi nổi tiếng có nhiều ngôi Chùa cổ tráng lệ như: chùa Lim, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Yên Phụ, chùa Phật Tích.v.v... Nhìn thấy tên xã Thôn Đoài trên đường đi ngang, tôi không biết có phải đây là "thôn Đoài lại nhớ thôn Đông" không?
Nhưng tôi biết chắc một điều, Bắc Ninh là một địa danh văn hóa, mảnh đất sinh ta nhiều danh nhân uyên bác như: Thiền sư Vạn Hạnh, người đã có công giúp vua Lý Công Uẩn lên ngôi mở ra triều đại nhà Lý mà hiện nay đền Cổ Pháp và lăng Lý Bát Đế là lăng tám vị vua nhà Lý và vua Lý Thái Tổ đang được thờ phượng ở làng Đình Bảng. Quan đại thần Cao Bá Quát và cũng là nhà thơ khí phách vào triều Nguyễn, tác giả bộ sách Cao Chu Thần thi tập. Hồng Hà Đoàn Thị Điểm, vị nữ sĩ tài hoa với áng văn chương tuyệt tác "Chinh Phụ Ngâm Khúc" gồm hơn bốn trăm câu thơ song thất lục bát đã tỏa sáng giòng thi ca, văn học Việt Nam.v.v...
Không những thế, Bắc Ninh còn nổi tiếng về Quan Họ, mà người dân ở đây hầu như ai cũng thuộc lòng hoặc biết hát theo các điệu hát dành cho các vua quan triều đình thưởng thức ngày xưa. Tôi không biết hát Quan Họ nhưng cũng thích nghe nên còn nhớ vài đôi câu như:
"... Chim rừng có ba mươi sáu thứ chim, thứ chim là chim chèo bẽo, thứ chim là chim chích chòe... Trông về nơi Quan Họ có người là người trồng tre, thứ tre là tre làm nón, thứ tre là tre làm nhà. Trông về nơi Quan Họ, có người là người trồng chanh, thứ chanh là chanh ăn quả, thứ chanh là chanh gôi đầu. Trông về nơi Quan Họ, có người là người trồng dâu, thứ dâu là dâu ăn quả, thứ dâu là dâu chăn tằm, một nong tằm là năm nong kén, năm nong kén là chin nén tơ...í a, tơ tằm..."
Không biết đến ngày nay, người ta có còn tổ chức hội Lim hằng năm để trai gái các làng có dịp gặp gỡ để cùng hát đối đáp theo điệu hò quan họ trong mỗi dịp xuân về nữa hay không, chẳng biết?!
Đường trường trước mặt tôi vẫn trải dài qua bao xóm làng, ruộng nương. Đẹp sao những bông lúa đã chín vàng chờ ngày gặt hái trên các cánh đồng xanh, hoặc mấy thửa ruộng đã gặt rồi để lại những gốc rạ rơm quyện chặt đất bùn như đời sống nhà nông đã quyện chặt mồ hôi của sức cần lao vất vả trên đồng ruộng sình lẩy, mưa nắng bao ngày cho người người được hưởng bát cơm ngon. Tôi nhớ ngày nhỏ, mẹ tôi không cho bỏ mứa cơm. Bà bảo phải ăn cho hết, vì gạo là hạt ngọc của trời và do công lao người thợ làm ruộng từ lúc gieo hạt lúa cho tới khi trổ bông rồi mới gặt hái, chày giã, đãi lọc từ hột thóc cho thành hạt gạo là bao nhiêu công sức mồ hôi mà ta phải biết quý trọng, không thì phải tội. Tôi chẳng biết sẽ phải tội ra làm sao nhưng nghe thế, tôi sợ và thương lắm. Sợ là sợ phải tội với trời vì đó là hạt ngọc của ông ban cho, còn thương là thương bao sự vất vả của người nhà nông làm nên thóc gạo cho mình hai bữa cơm no. Thói quen đó cho tới bây giờ tôi vẫn không dám đổ cơm gạo, dẫu không còn sợ như ngày trẻ con nhưng hiểu rằng mình không nên phí phạm, khi có bao người còn đói khổ, không cơm ăn áo mặc dẫy đầy!
Nhìn bóng người lầm lũi cúi gặt trên đồng ruộng xa, tôi lại thầm xót xa thương cảm. Cả đời họ chân lấm tay bùn để gặt hái cho đời nguồn nuôi dưỡng thêm sức khỏe và hạnh phúc, nhưng với chính sách bao cấp của nhà nước hiện giờ liệu công sức của các nhà nông đó có được đắp đổi công lao xứng đáng? Và đời sống dân nghèo trong nước hẳn có phải ai ai cũng có được ấm no với cơm gạo hằng ngày? Hỏi thế vì tôi vẫn thấy đời sống dân tình của người Việt Nam đa số vẫn còn lầm than trong cơ cực đói nghèo nhiều lắm!. Những ai sang giàu, dư tiền lắm bạc với đời sống xa hoa như các cán bộ phe Đảng có chức quyền hoặc những người biết kinh doanh thương mại trong một thị trường thả nổi luật lệ, biến chuyển quy tắc theo sức mạnh đồng tiền và thân thế như xã hội chủ nghĩa hiện nay chính là số người làm cho giá cả thị trường, đất đai và sinh hoạt đời sống càng thêm leo thang đắt đỏ. Cộng thêm tệ nạn hối lộ, tham ô đã trở thành gốc rễ bám sâu vào tim óc của từng cán bộ, đảng viên và càng buộc chặt hơn nữa vào guồng máy chính quyền đang quay cuồng thao túng và vơ vét, không cần biết đến hậu quả sẽ ra sao, cho những ai. Họ chỉ cần vinh thân phì gia cho nhanh chóng và béo bở, cần biết gì đến lợi ích chung cho xã hội cân bằng tốt đẹp.
Nên dân nghèo vẫn cứ nghèo, khổ thêm khổ. Hố sâu giữa giàu và nghèo của người dân trong nước hiện nay đã cách xa một cách nguy hiểm và thảm hại. Sự phi lý và bất công thì quá tràn đầy thành một vũng lầy khó bước để đất nước có thể cải thiện được tốt đẹp nhanh chóng hơn.
Bóng chiều đang ngả dần trên lối đi. Xe tới Phả Lại, hướng dẫn viên Long chỉ cho chúng tôi xem giòng sông đang chảy phía bên kia mang tên Lục Đầu Giang (là nơi tiếp giáp của sáu con sông gồm: sông Thái Bình, sông Kinh Môn, sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) chảy dài ra biển cả bao la.
Được đi qua những vùng đất mang hình ảnh, gốc gác của nhiều vị vua chúa, bậc anh hùng, danh nhân của đất nước mà từ trước đến nay chỉ nghe và biết qua văn thơ, sách vở đã cho tôi bao niềm vui say sưa và cảm động. Những danh lam đã đi vào tâm hồn tôi bằng những giòng thơ như giòng sông Đuống đã được vẽ lên từ thơ của thi sĩ Hoàng Cầm:
"em ơi! buồn làm chi
anh đưa em về bên kia sông Đuống
ngày xưa cát trắng phẳng lì
sông Đuống trôi đi một giòng lấp lánh
nằm nghiêng nghiêng bên kháng chiến trường kỳ...
... ai về bên kia sông Đuống
cho ta gửi tấm the đen
mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
những hội hè đình đám
trên núi Thiên Thai trong chùa Bút Tháp
giữa huyện Lang Tài, gửi về may áo cho ai...
chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu...?!"
(Trích từ trường thi Bên Kia Sông Đuống mà nhà thơ Hoàng Cầm đã viết trong thời kỳ Nhật & Pháp đang tranh dành mảnh đất Việt Nam, Con phà trên sông Đuống lúc ấy không đưa được người về lại Bắc Giang bởi Nhật còn chiếm đóng bên kia sông quê có người vợ hiền cùng dựng vở kịch Kiều Loan năm trước).
Sông Cầu mơ mộng và da diết với câu ca dao:
"sông Cầu nước chẩy lơ thơ
đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi...
... ra sông lại nhớ tới người
xuống sông uống nước cho nguôi tâm lòng
...yêu nhau gắn bó cùng nhau
ngày càng thêm nặng, tình sâu nghĩa đầy..."
Sông Thương đầm ấm và tình tự biết bao:
"ai có về bên bến sông Thương
nhắn người duyên dáng tôi thương..."
Hàng thông xanh chạy dài theo dãy đồi thấp xa xa, xanh xanh giòng nước chảy từ Lục Đầu Giang như giải lụa mềm dưới bóng nắng tàn nghiêng soi, khiến lòng người du khách phương xa như tôi bỗng thấy rợp lòng êm ả. Ngắm mái chùa rêu phong cổ kính mang nét u trầm như ráng khói giữa chiều rơi thấp thoáng dưới chân đồi biếc, phảng phất trong hồn tôi cảnh đẹp như mơ của ngôi chùa Tiêu trong truyện đọc xa xưa, của chú tiểu Lan (là gái giả nam trang để được vào chùa thụ pháp quy y) và chàng thư sinh tên Ngọc. Cảnh hữu tình như giây tơ vương vấn cho hai tâm hồn gặp gỡ để rồi yêu nhau. Nhưng làm sao được khi chú tiểu Lan đã nương thân vào cửa Phật. Thật éo le nhưng trong đời thường, chuyện tình buồn mang trái đắng thương đau vẫn là những giọt lệ mầu lóng lánh nhất để làm đẹp thêm cõi văn thơ và hồn người say đắm:
"gió thông đưa kệ tan niềm tục
hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời..."
Chắc hẳn ngôi chùa Tiêu trong "Hồn Bướm Mơ Tiên" ngày xưa vẫn nằm trong trang sách cũ, như tôi đã từng đọc và yêu thích từ nhiều năm trước, nay vẫn còn in bóng rêu phong bên nương dâu xanh mướt, cổ kính trầm buồn trên lưng đồi hay chân núi Tiêu Sơn. Vẫn là âm vang của tiếng chuông thu không thả vọng trong hồn người, những tiếng ngân buồn theo nắng chiều cô tịch, mênh mang.
Ôi, những tiếng chuông chùa thánh thót hôm xưa đã cho tôi bao ước mơ đẹp đẽ về một chân trời Chân-Thiện-Mỹ, thoảng ngát hương trầm Nhân-Đạo-Nghĩa trong tình người bao dung, hôm nay sao tiếng chuông buồn chạy lan trên rặng tre kia lại trĩu nặng trong lòng tôi đến thế. Có phải vì miền quê đất Bắc vẫn hằn sâu lam lũ kiếp dân nghèo, khói lam chiều trên mái rạ nương dâu vẫn tản mạn cơ cầu với đói no lao khổ?! Biết đến bao giờ đất nước Việt Nam mới hạnh phúc đẹp giàu cho toàn dân vui hưởng, cho đồng xanh ngập mạ tươi non, cho bờ đê sóng lúa reo vui. Cho tiếng chuông chùa khỏi u trầm day dứt làm rạn vỡ không gian thành những mảnh sầu đau, cứa nát những trái tim vẫn nặng tình với đất nước yêu thương.
không phải mây xa
chẳng nắng gần
chiều tan hoang rụng
trắng vuông sân
những lời tôi nguyện
thời xanh tóc
một tiếng chuông rơi
khẽ động trần...
n.t.
Bỗng dưng tôi ước ao được là sợi khói lam chiều bay thênh thang giữa chiều quê êm ả, la đà trên những cánh đồng lúa chin, mái nhà tranh nóc lá, mang theo mùi rạ thơm bốc khói bát cơm ngon để đổi lấy những nụ cười tươi vui hạnh phúc. Và để được bay cùng những cánh diều bay, bay cao mãi trong khoảng trời ấm áp tự do.
"sông Đằng lớp sóng Trần Vương
núi Lam rẽ khói mở đường nhà Lê..."
(Phan Bội Châu)
Mặt trời mỗi lúc một đi xa và khuất hẳn sau dẫy núi đồi bên kia. Nắng tắt dần khi xe bắt đầu vào điạ phận Quảng Ninh. Qua rừng núi Chí Linh, tôi dõi mắt tìm hai ngọn núi Nam Tào và Bắc Đẩu không biết nằm ở đâu trong dãy trùng điệp đó, nơi có con sông Vạn Kiếp, có đền Kiếp Bạc để tôi được thỉnh lời cầu xin với đức Hưng Đạo Vương cho dân tộc Việt Nam mà Ngài đã từng góp công giữ vững sơn hà, đem yên vui độc lập nước nhà được thạnh trị an dân, hiện giờ còn lầm than tăm tối dưới chủ nghĩa Cộng sản, sớm thoát khỏi sự hà khắc độc tài đôc đảng để người dân có được Hạnh Phúc Tự Do. Bởi những ai còn nhớ đến lời dạy của tổ tiên đều mong muốn giữ được vẻ vang vinh hiển cho tiền nhân và tiếp tục niềm tự hào cho hậu thế mai sau. Lời Hịch Tướng Sĩ của Ngài năm xưa đã làm nức lòng bao tướng sĩ giữa trận tiền, quyết giữ vững non sông đẹp màu hoa gấm để đền ơn báo nghĩa với nước nhà và khiến quân thù phải khiếp vía bỏ trùng vây thôn tính, lui mộng xâm lăng. Nay có còn để lại trong lòng người biết căm giận những ai làm tác hại cho đồng bào, đất nước? Biết nghĩ suy, cân nhắc để cùng làm điều tốt đẹp cho cơ đồ dân tộc, phát triển sự ích quốc lợi dân để ngày một mạnh giàu, tự do no ấm hơn. Lời thề xưa như còn văng vẳng đâu đây: "... Bởi giặc Nguyên cùng ta là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình Lỗ mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa..." (HTS).
Mây trắng bay là đà như cuộn sương chiều thả xuống núi rừng Chí Linh, phảng phất tựa tà áo ai bay hay là bóng dáng tiền nhân còn thấp thoáng đó đây trên mảnh đất uy thiêng. Mảnh đất đã sinh ra vị anh hùng Nguyễn Trãi với những áng văn thơ hùng tráng như Bình Ngô Đại Cáo:
"việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
quân điếu phạt chỉ vì khử bạo
như nước Việt ta từ trước
vốn xưng văn hiến đã lâu
sơn hà cương vực đã chia
phong tục Bắc Nam cũng khác
từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập
cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương
dẫu cường nhược có lúc khác nhau
song hào kiệt đời nào cũng có!
Mây trắng vẫn trôi trôi mải miết, tôi ngó đàn chim trên không trung đang nghiêng cánh bay trong bóng chiều. Chẳng biết chim bay về đâu thế nhỉ? Tổ ấm chim ở nơi nào mà sao chim còn bay mãi ở cuối nẻo trời xa...? Mây đen ơi, xin đừng giăng mưa làm giông bão, u ám trời, chắn lối cánh chim qua! Thốt nhiên tôi nhớ đến nhạc sĩ Văn Cao với ca khúc Đàn Chim Việt (sáng tác năm 1943 trong thời kháng chiến gian lao chống Pháp), và lòng tôi muốn hát lên khe khẽ những lời da diết ấy:
"Về đây khi gió mùa thơm ngát, ôi lũ chim giang hồ, bao cánh đang cùng dật dờ trên khắp cố đô. Từng đôi trên đất Bắc ríu rít ca... Mờ mờ trong nắng ven trời, chim gieo thương nhớ, chim ngân xa... Hồn còn vương vấn về xưa. Về nơi hoàng hôn Thái Nguyên tung hoành. Thời Bắc Sơn kia, thời tung cánh. Tới đây chim thấy lòng ngập ngừng, nhớ ai trên mấy đồi Yên Thế.
Kìa nước xa xa sông Cấm còn mịt mùng ngoài bến xuân...".
Từ ca khúc ấy, hơn nửa thế kỷ sau, có một người, hôm nay cũng đang mang tâm trạng bồi hồi khi đi qua những vùng đất uy linh của tổ tiên trong thời dựng nước và giữ nước với tinh thần bất khuất kiên cường. Những tên tuổi chiếu sáng uy danh của tiền nhân trong trang sử Việt cùng bao trận đánh lẫy lừng đã từng làm khiếp đảm bao quân Nam Hán, Tống, Nguyên Mông và sau nữa là sự chiến đấu của toàn dân nước Việt khiến Pháp, Nhật phải bỏ mộng cai trị, xâm lăng.
Hồn tôi cũng đang "vương vấn về xưa" với trận đánh lẫy lừng trên sông Bạch Đằng mà ngày còn cắp sách Tiểu học tôi đã say mê, ngưỡng phục trí tài mưu lược của đại vương Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương lắm thay (trước thế giặc đông ào ạt của quân Nam Hán năm 938, thấy khó đối chọi bằng sức nên tướng quân Ngô Quyền đã nghĩ ra một kế thần sầu là cho binh sĩ lấy cọc nhọn bằng gỗ đem bọc sắt rồi cắm ngầm dưới lòng sông rộng, khi chiến thuyền của Hoằng Tháo tiến vào Bạch Đằng giang thì thủy triều đang dâng cao, quân ta giả thua bỏ chạy. Giặc thừa thắng đuổi theo tưởng chắc phen này đại thắng, dè đâu nước rút khiến các thuyền vướng vào cọc nhọn bị đắm vỡ, không còn lối thoát để hung tàn thôn tính nước ta. Chiến thắng vẻ vang ấy đã bắt đầu nền tự chủ trên đất nước thân yêu. Hơn ba trăm năm sau, năm 1287, giặc Mông Cổ lại tràn sang đánh phá, Hưng Đạo Vương lại cho cắm cọc sắt nhọn để mai phục đường về bằng thủy bộ của giặc. Giòng sông lịch sử lại thêm một lần nhuộm máu quân Mông khiến ngoại xâm càng thêm khiếp sợ trước quần thần uy dũng của nhà Nam, đành bỏ mộng xâm lăng nước Việt). Nên tôi cũng rất tự hào mỗi khi được cùng các bạn hát vang cả lớp hoặc trong giờ chơi, sinh hoạt học đường bài hùng ca thắm thiết:
"Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung... Mây nước Thăng Long còn ghi chép rành thời liệt oanh của bao người xưa trung chánh. Vì yêu quốc gia vui lòng hiến thân, liều mình ra tay tuốt gươm bao lần. Giòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng, từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng. Dù gió sấm sét bão bùng mưa nắng, Bạch Đằng Giang vẫn sáng để cho giòng giống soi chung!"
Dù không nhìn thấy ánh sáng của đáy sông lịch sử ấy trước mắt, nhưng tôi tin rằng giòng nước xanh mát của Bạch Đằng Giang đang uốn khúc bên kia dãy núi đồi tím biếc của Quảng Yên trên đường đi tới vịnh Hạ Long vẫn chảy sâu dưới lòng đất tôi đang đi qua, những mạch nước trong lành đã đắp bồi cho trang sử Việt thêm hùng tráng oai danh và ruộng đồng đất Việt thêm xanh tươi mầu mỡ đẹp từ những ngày tổ tiên cố công xây đắp cơ đồ, mở mang bờ cõi gấm hoa. Nhưng hơn nửa thế kỷ qua, dưới chủ thuyết xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản cầm quyền, anh linh các đấng vua Lê, Lý, Trần... được thờ phụng trên dãy non tiên, hồn còn vương vấn trên núi đồi Yên Tử kia chắc rất đau lòng, xót xa trước vận nước sao còn mãi nghiêng ngửa điêu linh, muôn dân sao mãi còn thống khổ kiếp lầm than. Sao con cháu đã không gìn giữ, mở mang được đất nước như các vị tiền nhân thời dựng nước mà nay còn cắt đất chia biển dâng bán, làm rách nát phí phạm cơ đồ. Làm sao không thể đau lòng, bởi tổ tiên ta đã:
"tài anh kiệt, nối đời sinh
phá Nguyên mấy lớp, đánh Minh mấy lần.
mở mang Chân Lạp, Xiêm Thành
trời Nam lừng lẫy, giòng thần ở Nam"
Giang sơn ấy, tổ tiên chỉ mong con cháu biết đến công lao của người xưa để gắng giữ gìn phát triển tốt đẹp, tạo ấm no hạnh phúc cho toàn dân vui hưởng thái bình - tự do.
Thế mà nay, những người cộng sản Bắc Việt cảng lúc càng thắt chặt guồng máy độc đảng độc tài cùng với chính sách khắc nghiệt và lạc hậu đã làm cho:
"giang sơn thẹn với đất trời
đá kia cũng nát, sông kia cũng nhàu!"
(Phan Bội Châu)
Hồn tiên tổ nếu còn phảng phất, hẳn phải đớn đau khôn xiết khi nhìn thấy mảnh cơ đồ nhuộm đỏ tang thương, cháu con của dân tộc phải chia lìa tan tác, nay vẫn sống nghèo hèn lạc hậu so với thế giới ngày càng phát triển văn minh như lời của nhà ái quốc Phan Bội Châu thuở trước:
"nghĩ nông nỗi càng thương sông núi
giọt châu sa chin suối chảy ròng ròng!"
Đi qua dẫy đồi núi Đông Triều, cảnh ruộng đồng non nước trước mắt tôi đang trải dài xanh biếc, vẫn đẹp tươi dậy tràn sức sống của thiên nhiên. Bây giờ tôi mới hiểu những gì đang thức dậy trong hồn tôi, đó là tình yêu thương đất nước quê hương mình mà chúng ta ai cũng có một trái tim chan chứa tình này. Mà càng yêu quê hương, chúng ta lại càng mong muốn cho đất nước mãi xinh tươi, giàu đẹp thịnh cường. Bởi thế dẫu lòng ai có chí thiện tới đâu cũng khó thấy nguôi căm giận trước những kẻ đã gây khổ đau cho dân tôc chịu nhiều thua thiệt, biến đất nước thành xã hội nhiễu nhương u tối, dân tình khắc khoải lầm than. Nên đã ba mươi năm rồi, bao người Việt Nam ở hải ngoại vẫn phải nuôi chí hờn căm để thắp sáng niềm tin yêu chính nghĩa, quyết giữ vững đường lối đấu tranh chống cộng, đòi hỏi công bằng cho tự do tôn giáo, nhân quyền đang bị bức bách chà đạp ở quê nhà. Để sớm giải thể chế độ đảng quyền ngày càng thao túng tạo bao điều bất hạnh cho người dân khốn khổ, bất chấp tệ nạn đau thương dẫy đầy trước xa hoa phù phiếm mà họ đang cố giả tạo sự mạnh giàu tiến triển để đắp điếm và dễ bề vơ vét, lợi dụng chức quyền tuổi đảng để thụ hưởng vinh thân, xiết chặt tiếng nói của tự do dân chủ và đã làm trì trệ cản trở bước tiến của dân tộc quá lâu.
Để mai này, có ai về thăm lại miền quê đất Bắc như tôi hôm nay sẽ bớt thấy xa xót ngậm ngùi. Vì lòng tôi đang nao nao cám cảnh như nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã tỏ bày trong Hải Ngoại Huyết Thư với khí khái cảm hoài khi nhìn về non nước:
"bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn
khói tuôn khí uất, sông cuồn trận đau"
Và bên tai tôi đâu đây dường như có tiếng trống dập dồn của Hội Nghị Diên Hồng năm xưa thúc lên từng hồi gióng giả uy nghiêm lồng lộng, vang rền trên khắp núi sông làng mạc xa xôi:
"Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến. Hận thù đằng đằng biên thùy rung chuyển, tuôn dài Non Sông, rền vang tiếng vó câu, gây oán nghìn thu... Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi. Ôi Thăng Long khói kinh kỳ phơi phới. Loa vang vang Chiếu vang truyền bốn phương, theo gió bay khắp miền Sông Núi réo đòi. Lòng dân Lạc Hồng nhìn Non Nước yêu quê hương, Giống anh hùng nâng cao chí lớn. Giống anh hùng nuôi sức tráng cường.... Đường còn dài hờn vướng trên quan tái, Ta xa trông áng mây đầu non Đoài...".
Khúc ca lịch sử đã in đậm trong hồn tôi giờ cũng bật lên âm vang một cách mạnh mẽ, làm lòng tôi tựa cánh chim chao đi khi nhìn cảnh sắc trời mây đang hòa nhập vào trùng điệp núi non xa::
"... Ôi Sông Núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la. Trước nhục Nước nên hòa hay chiến? Quyết chiến! Quyết chiến luôn cứu nước nhà, nối chí dân hùng anh. Thế Nước yếu lấy gì lo chiến chinh? Hy Sinh! Thề liều thân cho Sông Núi muôn năm lừng uy!".
(Xin xem tiếp ngày mai)