Một biểu tượng của tự do báo chí
Trên
nguyên tắc, thông tin trên báo chí phải là những thông tin mang tính
khách quan, vô tư (không thiên vị), vì có như vậy mới hy vọng phản ánh
trung thực được sự thật. Chính là để đảm bảo cho tính khách quan ấy mà
cơ quan báo chí phải mang một qui chế độc lập |
Có
một thực tế thường được nêu ra tại nhiều cuộc hội thảo lâu nay là hiện
tượng doanh nghiệp sợ báo chí: nghe nhà báo đến là sợ, sợ bị xin quảng
cáo, không cho thì sợ bị viết bài “đánh”, mà viết bài “ca ngợi” cũng
sợ, vì sau đó thế nào cũng bị cơ quan thuế vụ hay quản lý thị trường
nhòm ngó... Một cuộc điều tra vào đầu năm 2005 cho biết có đến 75% nhà
doanh nghiệp tỏ ra e ngại khi phải tiếp xúc với báo chí và tìm cách
tránh “bị lên báo”(1). Một chuyên viên từng nhận định như sau: “Chơi
với báo chí như chơi dao hai lưỡi, nên nhiều doanh nghiệp lo ngại,
không muốn tiếp xúc với phóng viên”(2). Đến mức mà có lần một doanh
nhân phải thốt lên rằng “vốn liếng, tài sản của chúng tôi thuộc về...
các nhà báo”(3)!
Đây quả là một điều lạ nếu chúng ta nhìn lại lịch sử báo chí Việt
Hiện tượng “nhà nước hóa” báo chí
Ai
cũng thừa nhận là hiện nay báo chí đã đổi mới, diện mạo đã khác xa so
với thời quan liêu bao cấp trước đây. Tuy nhiên, do trong một thời gian
dài, báo chí đã gắn liền với các cơ quan quyền lực của Đảng và Nhà
nước, nên cho đến tận bây giờ, báo chí Việt Nam vẫn còn có những “sức
mạnh” hay những “quyền lực” mà báo chí các nước khác không hề có.
Quả
vậy, theo Luật báo chí hiện hành, toàn bộ các cơ quan báo chí đều là
“của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội”. Qui chế
của nhà báo là qui chế công chức nhà nước. Thẻ nhà báo ở Việt
Đấy chính là căn nguyên sâu xa làm cho mối
quan hệ giữa báo chí với doanh nghiệp mang tính chất gần như quan hệ
quyền lực, và hệ quả là khiến doanh nghiệp sợ báo chí. Và cũng vì thế
mà thường xảy ra hai loại hiện tượng tiêu cực sau: (a) có những nhà báo
đi vòi vĩnh các doanh nghiệp hoặc cơ quan, thậm chí hoạnh họe hay tống
tiền; và (b) có những người giả danh nhà báo để chạy chọt và lừa đảo.
Hiển nhiên là vị trí nhà báo phải có vai vế và uy thế như thế nào đó
thì mới có những nhà báo hay những người mạo danh nhà báo đi hoạnh họe
và hù dọa người khác! Ngay một cơ quan quản lý nhà nước cũng từng nhận
định rằng “báo chí nhiều lúc đã tự biến mình thành một siêu quyền lực
bất khả xâm phạm, coi thường lẽ công bằng và những quan hệ bình đẳng
trong một xã hội công dân”(4).
Chế độ chủ quản
Một
trong những biểu hiện rõ nét nhất của tình trạng nhà nước hóa báo chí
là chế độ chủ quản. Bất cứ tờ báo nào hiện nay cũng phải có một cơ quan
chủ quản (cũng tương tự như hầu hết các tổ chức kinh tế-xã hội khác
trong thời bao cấp). Cơ quan chủ quản báo chí được định nghĩa là “tổ
chức đứng tên xin cấp giấy phép hoạt động báo chí và trực tiếp quản lý
cơ quan báo chí”(5).
Các
nhiệm vụ của cơ quan chủ quản như được qui định chi tiết trong Điều 12
Luật báo chí (sửa đổi năm 1999) vẫn còn mang nặng lối tư duy của phương
thức quản lý hành chính quan liêu, và rất khó thực thi trong thực tế.
Ai cũng biết báo chí là một tổ chức chuyên nghiệp, và tờ báo nào cũng
có một tổng biên tập, vậy mà cơ quan chủ quản vẫn phải “trực tiếp quản
lý” thì e là quá bao biện, đã vậy, lại còn phải “chịu trách nhiệm trước
pháp luật” khi tờ báo sai phạm(6), trong khi bản thân tờ báo đã có một
tư cách pháp nhân riêng biệt khi được thành lập. Trong thực tế, phần
lớn các cơ quan chủ quản đều khó mà đảm đương nổi tất cả mọi nhiệm vụ
và quyền hạn đã nêu trong luật, và thường gần như phó thác cho tổ chức
báo chí để còn lo công việc chuyên môn của mình. Vả lại, cơ quan chủ
quản cũng khó mà can thiệp hoặc đưa ra ý kiến chỉ đạo một khi các tờ
báo đều thường xuyên chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các ban tư tưởng-văn
hóa. Như vậy chủ quản mà hóa ra hữu danh vô thực!
Còn về phía các tờ
báo, chế độ chủ quản làm cho các tờ báo có thêm một tầng quản lý trung
gian (ngoài ban tư tưởng-văn hóa và sở văn hóa): họ luôn phải xin phép,
thỉnh thị ý kiến... về những việc lẽ ra có thể thuộc thẩm quyền của
mình, điều này có thể hạn chế tính chủ động, và nhiều khi còn nuôi
dưỡng tính ỷ lại đối với những tờ báo còn được bao cấp. Nhưng đó là mới
nói về hạn chế của chế độ chủ quản xét về mặt qui trình quản lý. Điều
mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, xét về mặt qui chế của nghề làm
báo, chế độ chủ quản làm cho báo chí mất đi tính độc lập mà nó phải có
với tư cách là báo chí theo đúng nghĩa của từ này. Trong cơ chế chủ
quản như hiện nay, chúng ta khó lòng mà hình dung một tờ báo có thể
(hoặc dám) đưa ra những phê phán hay những thông tin tuy khách quan
nhưng không có lợi cho cơ quan chủ quản của mình!
Qui chế độc lập của báo chí
Trên
nguyên tắc, thông tin trên báo chí phải là những thông tin mang tính
khách quan, vô tư (không thiên vị), vì có như vậy mới hy vọng phản ánh
trung thực được sự thật. Chính là để đảm bảo cho tính khách quan ấy mà
cơ quan báo chí phải mang một qui chế độc lập. Đây là sự độc lập khỏi
bất cứ thứ quyền lực nào, nhưng người ta thường nhấn mạnh tới hai thứ
quyền lực đáng chú ý nhất, đó là quyền lực chính trị và quyền lực kinh
tế. Ngòi bút của nhà báo chỉ có thể được tự do và công tâm khi không
chịu sức ép của bất cứ cơ quan công quyền nào hay bất cứ áp lực kinh tế
nào.
Báo chí không phải là một hình thái thuộc các định chế chính
trị; tự nó không phải là một tổ chức nhà nước có một quyền lực chính
trị nào đó (như chính phủ, quốc hội, tòa án, ủy ban nhân dân, hội đồng
nhân dân...). Báo chí là cơ quan ngôn luận, là một định chế văn hóa nằm
trong xã hội dân sự. Nếu một tờ báo gắn liền với một cơ quan quyền lực
nhà nước hoặc với một doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp nhà nước hay tư
nhân, thì lúc ấy tiếng nói của tờ báo sẽ có nhiều khả năng chỉ chủ yếu
phản ánh một cách thiên vị lập trường, quan điểm và lợi ích của cơ quan
nhà nước ấy hay doanh nghiệp ấy mà thôi.
Một vài đề xuất
Vậy
vấn đề là cần làm thế nào để báo chí thoát ra khỏi tình trạng nhà nước
hóa hiện nay. Thực ra, gần đây nhà nước cũng đã có một vài biện pháp
theo hướng này. Chẳng hạn trước đây mọi nhà báo đều có hộ chiếu công
vụ, cách đây vài năm mới bãi bỏ điều này và trở về với hộ chiếu phổ
thông (bây giờ chỉ có tổng biên tập và phó tổng biên tập mới có hộ
chiếu công vụ). Có một thời, thẻ nhà báo còn được dùng để ưu tiên mua
vé xe đò, vé qua phà... sau cũng đã bãi bỏ quy định này. Ngoài ra cũng
đã có một số biện pháp xóa bao cấp về tài chánh, phát hành... Tuy nhiên
những biện pháp ấy chưa phải là căn bản để thực sự khôi phục qui chế
độc lập cho báo chí. Vì thế, chúng tôi cho rằng cần thực hiện một số
giải pháp như sau.
a. Cần thay đổi chế độ chủ quản đối với
báo chí như hiện nay, để trả lại cho báo chí qui chế độc lập của nó.
Những cơ quan vốn là “chủ quản” nay chỉ cần đóng vai trò là người chủ
sở hữu là đủ, và cần để cho tờ báo được tự chủ về nội dung, về nhân sự
cũng như về tài chính. Mặt khác, cũng cần xem xét lại và cải tổ cách
thức chỉ đạo của các ban tư tưởng-văn hóa vốn nhiều khi còn mang tính
chất quá ư cầm tay chỉ việc. Có như vậy, mới mong báo chí có thể có
tiếng nói chủ động và mạnh dạn hơn, trung thực hơn, và trở thành một
kênh phòng ngừa và chống tham nhũng thực sự quan trọng và hữu hiệu.
b.
Nên chấm dứt tư duy “qui hoạch báo chí” như đang làm lâu nay một cách
máy móc theo kiểu mỗi tỉnh thành phải có (và chỉ được có) một đài phát
thanh-truyền hình và một tờ báo Đảng! Theo chúng tôi, cách làm này phản
ánh tàn tích của lối tư duy phân phối thời bao cấp. Khó mà tin được
rằng Bộ Văn hóa-Thông tin có thể hiểu được và “qui hoạch” được nhu cầu
về thông tin cho một đất nước có trên 80 triệu người dân!
c.
Xóa bỏ cơ chế bao cấp tràn lan đối với những tờ báo vô bổ bằng tiền
đóng thuế của người dân, ngoại trừ một số rất ít tờ báo chính trị hoặc
khoa học và văn hóa có giá trị cần được trợ cấp, mặt khác thúc đẩy
những tờ báo thực sự có độc giả khuếch trương trên cơ sở hạch toán kinh
doanh. Đồng thời cũng cần bãi bỏ những biện pháp như ép buộc mua báo,
hoặc dùng ngân sách nhà nước để mua báo cho các cơ quan, đoàn thể, điều
mà Trung Quốc đã làm từ mấy năm nay. Hiện nay chỉ có không đầy 1/5 cơ
quan báo chí cân đối được thu chi, và khoảng 1/10 thực sự có lãi trong
tổng số 553 cơ quan báo chí trên cả nước(7). Ở Trung Quốc, nhằm tăng
cường tính độc lập của báo chí, việc xóa bỏ bao cấp đối với báo chí đã
được thực hiện từng bước kể từ năm 1998, và việc giảm bớt vai trò của
các cơ quan chủ quản cũng đã được bắt đầu kể từ năm 2003(8). Việc xác
lập tính độc lập về mặt kinh tế cũng là một trong những biện pháp hữu
hiệu và cần thiết nhằm đảm bảo tính độc lập của ngòi bút nhà báo.
d.
Về việc cấp thẻ nhà báo: Nếu quan niệm rằng báo chí là một định chế dân
sự, nghề làm báo cũng là một nghề bình thường như bao nghề khác như
nghề dạy học, nghề thầy thuốc, nghề kiến trúc... (chứ không phải là
nghề chỉ thuộc về nhà nước!), và nhà báo không phải là công chức, thì
phải thay đổi hẳn quan niệm về thẻ nhà báo: việc cấp thẻ sẽ không còn
là việc của Bộ Văn hóa-Thông tin, mà sẽ thuộc thẩm quyền của một tổ
chức độc lập với nhà nước. Ở Pháp chẳng hạn, để đảm bảo tính độc lập
của nhà báo, việc cấp thẻ nhà báo được giao cho một ủy ban độc lập,
không thuộc nhà nước, mang tên là CCIJP, bao gồm hai thành phần có số
lượng ngang nhau: đại diện giới chủ nhiệm, và đại diện giới nhà báo; và
thẻ nhà báo chỉ được cấp cho những người làm báo chuyên nghiệp, chứ
không cấp cho những người làm kinh doanh (quảng cáo, giao tế...) hay
công chức nhà nước(9).
e. Nếu chấp nhận những giải pháp trên
đây, thì hiển nhiên là phải sửa đổi nhiều điều khoản trong Luật báo chí
hiện hành. Và đồng thời, nên chăng như một số người từng đề nghị, cần
thay bằng cái tên là “Luật tự do báo chí”, bởi lẽ ngay cái tên “Luật
báo chí” hiện hành đã mặc nhiên thể hiện mục tiêu “quản lý” báo chí hơn
là phát huy quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận mà Hiến pháp đã minh
định.
Trần Hữu Quang