Sau khung cửa hẹp vào Ấn để đạt thỏa ước hạch tâm, ông Bush còn gặp trở ngại tại Pakistan. Và tại Quốc hội Hoa Kỳ.
Sau
Chiến tranh lạnh, người đầu tiên mơ ước một thế liên minh giữa Hoa Kỳ
và Ấn Độ là Tổng thống Bill Clinton. Trước chuyến Ấn du của ông Bush,
ông Clinton từng qua Ấn thuyết phục chính quyền nhượng bộ một số điều
để đạt thỏa thuận về võ khí hạch tâm, một đề tài lớn khi Thủ tướng Ấn
gặp Tổng thống Bush vào tháng Bảy năm ngoái tại Hoa Kỳ.
Trong ba
ngày ông Bush thăm viếng Ấn Độ, ban tham mưu hai bên ráo riết thương
thảo cho đến giờ chót, để cuối cùng hai bên đã đạt thỏa ước, được coi
là lịch sử.
Ấn Độ là quốc gia có kỹ thuật nguyên tử từ năm 1974
và thử nghiệm bom hạt nhân (hay hạch tâm) vào năm 1998 mà không ký kết
Thỏa ước Hạn chế Phổ biến Võ khí Hạch tâm (Nuclear Non-Proliferation
Treaty - NPT). Quốc gia láng giềng và cừu thù là Pakistan cũng lập tức
mở cuộc thử nghiệm. Ngoài năm quốc gia đầu tiên có loại võ khí này
("Câu lạc bộ Hạch tâm") là Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp và Trung Quốc, thế
giới có thêm Ấn Độ, Pakistan và Israel là những nước có võ khí hạch tâm
- dù Israel không công nhận mà cũng lập lờ chẳng phủ nhận. Cả ba nước
sau cùng này đều không ký thỏa ước NPT để khỏi bị ràng buộc.
Ấn
Độ cần năng lượng cho nền kinh tế có một tỷ dân (và sẽ vượt dân số
Trung Quốc vài chục năm tới) và cần Hoa Kỳ viện trợ kỹ thuật hạch tâm
sử dụng cho nhu cầu dân sự, nhưng cũng muốn bảo vệ khả năng chế tạo võ
khí hạch tâm cho nhu cầu quốc phòng. Hoa Kỳ muốn kiểm soát việc phổ
biến loại võ khí tàn sát này để ngừa các quốc gia hung đồ hay quân
khủng bố khỏi sử dụng uy hiếp thế giới và trước mắt đang có hai hồ sơ
nóng là Bắc Hàn và Iran.
Nhưng Hoa Kỳ cũng cần Ấn Độ - một
nước dân chủ đông dân nhất thế giới - để ổn định tiểu lục địa Nam-Á và
làm lực đối trọng khiến Trung Quốc phải hành xử một cách có trách
nhiệm, ôn hòa và khả tín, trên diễn đàn quốc tế. Việc liên kết với Ấn
Độ là điều ai cũng có thể nghĩ ra sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và
liên minh truyền thống giữa Ấn Độ và Liên Xô thành lỗi thời. Nghĩ ra mà
chẳng ai tiến hành cho đến năm 2000. Ngược lại, liên minh truyền thống
giữa Hoa Kỳ và Pakistan, một lực đối trọng với Ấn Độ và bảo vệ Nam Á
cũng kết thúc sau Chiến tranh lạnh. Trong 10 năm trời, từ 1991 đến vụ
khủng bố 9-11 năm 2001, Pakistan hết là đồng minh của Hoa Kỳ.
Vụ khủng bố đảo lộn cục diện.
Pakistan
trở thành một tuyến đầu của Hoa Kỳ để chống khủng bố tại Afghanistan và
Trung Á, một tuyến đầu đầy bất trắc mà cần thiết. Hoa Kỳ cũng cần tăng
cường quan hệ với cả Ấn Độ lẫn Pakistan, hai nước cùng bị khủng bố đe
dọa. Mà giải quyết xong nạn khủng bố, cả chục năm tới, Hoa Kỳ sẽ phải
đối phó với Trung Quốc, nếu đại cường này không chuyển hóa ôn hòa qua
chế độ dân chủ. Quan hệ tay ba, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Pakistan trở thành một
bài toán và Hoa Kỳ có gắng dàn xếp mâu thuẫn giữa hai nước. Nhưng hồ sơ
hạch tâm vẫn còn đấy.
Ấn Độ không chỉ có một nhu cầu sinh tử là năng lượng và giải pháp "sạch" là năng lượng hạch tâm.
Người
Mỹ bình thường đã quên hoặc chưa học địa dư chính trị nên không hiểu
hết mối lo của Ấn. Người Việt có thể khá hơn một chút - vì đã từng là
nạn nhân. Ấn Độ phải ghim nửa triệu quân bảo vệ an ninh tại Kashmir,
nơi lẩn trốn của nhiều nhóm Hồi giáo cực đoan và muốn Pakistan ngưng
khai thác vết ung thư ấy. Ấn Độ càng khó yên tâm khi nhìn lên Tây Tạng,
vùng chiếm đóng của Trung Quốc từ trên núi nhòm xuống. Bên cạnh là
Nepal sẽ loạn to vì sự khuấy động của Bắc Kinh. Ngoài Kashmir,
Pakistan, Tây Tạng và Nepal, Ấn cũng không yên tâm với Bangladesh, một
nước thân chủ của Bắc Kinh, và Miến Điện, một nước độc tài được Bắc
Kinh kín đáo bênh vực. Suốt dọc biên giới Ấn-Hoa hiểm trở và xa lạ với
dư luận Mỹ là các khóm du kích Maoist và những lực lượng võ trang đòi
tự trị…
Vì vậy, ngoài năng lượng để nuôi dân, mối lo của Ấn Độ
còn là khả năng gián chỉ Pakistan cùng Trung Quốc, cả hai đều có võ khí
hạch tâm!
Trong hoàn cảnh ấy, ta có thể hiểu vì sao chính quyền
New Dehli, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Manmohan Singh, tìm mọi cách
thỏa mãn đòi hỏi của chính quyền Bush về hạch tâm, miễn là vẫn có một
khu vực quân sự nằm ngoài tầm kiểm soát của Nguyên tử lực cuộc IAEA.
Thỏa
thuận Mỹ-Ấn ngày mùng hai tháng Ba tất nhiên chưa được công khai hóa
toàn bộ, nhưng bao gồm một số điều đã bị tiết lộ là 1) Ấn sẽ đưa 14
trong 22 lò hạch tâm vào mục tiêu dân sự; 2) mời IAEA định kỳ giám sát
các nơi ấy; 3) tám lò còn lại vẫn được dùng cho mục tiêu quốc phòng và
không cho người ngoài vào thanh tra; 4) Ấn sẽ ngưng thử nghiệm võ khí
hạch tâm; 5) và được Hoa Kỳ yểm trợ về kỹ thuật hạch tâm dân sự. Ngoài
thỏa ước hạch tâm, Hoa Kỳ còn đồng ý sẽ bán các chiến đấu cơ loại cao
cấp như F-16 và F-18 cho New Dehli, loại chiến đấu cơ đã từng bán cho
Pakistan.
Phía Ấn Độ, đảng Cộng sản trong liên minh cầm quyền
(đảng Quốc đại của bà Sonya Gandhi và ông Singh không đủ đa số) và các
xu hướng Hồi giáo tất nhiên là chống vì truyền thống chống Mỹ. Phía Hoa
Kỳ, nhiều người cũng sẽ chống, từ cánh tả đảng Dân chủ tới cánh hữu
đảng Cộng hòa, vì ông Bush mặc nhiên vi phạm chủ trương Hoa Kỳ đề cao
từ gần 40 năm nay là hạn chế phổ biến võ khí nguyên tử và hạch tâm.
Trong khi đang ép Bắc Hàn và Iran, ông Bush lại mở cửa cho Ấn thì liệu
hai xứ kia nghĩ sao? Đã vậy, Ấn cũng chẳng mặn gì với việc chặn đứng kế
hoạch nguyên tử của Iran - một xứ tiếp giáp với Pakistan!
Vả
lại, nếu đồng ý với Ấn thì sẽ phải đồng ý với Pakistan: Pakistan chưa
dân chủ, từng phổ biến kỹ thuật hạch tâm cho Bắc Hàn và Iran, và Tổng
thống Pervez Musharraf chưa chắc đã tồn tại… Nếu cứ theo thỏa ước này
thì Ấn sẽ giữ nguyên một số lò phản ứng nhanh (fast breeder reactors
FBRs) cho mục tiêu sản xuất nguyên liệu chế tạo bom hạch tâm và sẽ còn
lập thêm lò mới mà khỏi cần thông báo mục tiêu là dân sự hay quân sự,
nhưng vẫn được Mỹ viện trợ kỹ thuật và cả lò phản ứng để sản xuất năng
lương dân sự. Quá nhiều bất trắc!
Trên chính trường Hoa Kỳ, ủng
hộ thỏa ước này là lực lượng vận động của Ấn, trong đó có cả Bill
Clinton - với sự yểm trợ của Do Thái. Và lập luận của chính quyền Bush
cũng có sự hợp lý: Ấn là một nước dân chủ có trách nhiệm, không hề phổ
biến võ khí hạch tâm và còn là một thế lực đối trọng với Trung Quốc,
liên minh với Ấn là một quyết định chiến lược vì quyền lợi của Mỹ.
Thói
thường, mọi thỏa thuận đều là bất toàn vì kết quả thấp hơn mục tiêu tối
đa đề ra, mà vẫn thành thỏa ước vì còn hơn những bất lợi nếu không có.
Nhưng, mọi thỏa ước đều có thể bị đả kích trên cơ sở của những mục tiêu
tối đa, vốn là điều bất khả. Vì vậy, lãnh đạo là phải cân nhắc và chọn
lựa giải pháp tối hảo trong ngần ấy giải pháp bất toàn.
Ông Bush đã chọn và trở về sẽ phải giải thích những cân nhắc lợi hại của mình.
Sau
khi tỷ lệ ủng hộ sa sút nặng nề vì hồ sơ Dubai, ông Bush lỳ lợm mở ra
một hồ sơ cũng gai góc là hạch tâm Ấn Độ. Ông khó tìm ra hậu thuẫn bền
bỉ của đảng Cộng hòa với hồ sơ này vì nhiều chính khách Cộng hòa không
muốn bị lôi vào một cuộc tranh luận phụ trội trong mùa tranh cử. Tìm
mọi cách đạt thỏa thuận với New Dehli xong - một con đường gian nan
chật hẹp - nay ông phải đạt thỏa thuận với Quốc hội và trước tiên với
chính đảng Cộng hòa.
George W. Bush không phải là người thích hưởng nhàn!
Thử xem lần này, hai ông bà Clinton sẽ nói sao, liệu có đặt bạc trên cả hai cửa như trong hồ sơ Dubai hay không?