Theo VNN - Nguyễn Học Tập - 06-07-2006
Thường những điều khoản luật Hiến Pháp được tuyên bố dưới nhiều dạng thức khác nhau.
Được tuyên bố dưới dạng thức diễn tả (descriptif) như: "Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia liên bang, dân chủ và xã hội...", (Điều 20, Hiến Pháp 1949 hiện hành CHLBĐ), dưới dạng thức thời hiệu tính (prescriptif), có tính cách ra lệnh sai khiến: "Các dân biểu Hạ Viện được tuyển chọn với các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín...", hoặc: "Ai lạm dụng tự do phát biểu tư tưởng, nhất là trong lãnh vực báo chí... nhằm phá hoại thể chế, nền tảng dân chủ và tự do, sẽ bị mất các quyền nầy..." (Điều 18, Hiến Pháp 1949, id..), hoặc dưới dạng thức chương trình hành động (Programmsaetze), như điều khoản sau đây của Hiến Pháp Ý:
"Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, là những chướng ngại vật cản trở không cho họ phát triển hoàn hảo con người và tham dự một cách thiết thực của tất cả mọi người làm việc vào tổ chức kinh tế và xã hội của xứ sở" (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Nhưng bản văn đã được các vị soạn thảo viết theo một lối chia động từ đặc biệt của Ý ngữ và La ngữ, hình thức ''gerundio'' để ám chỉ một động tác kéo dài trong thời gian và có tác động nguyên nhân hậu qủa, nên để được chính xác hơn, chúng tôi xin được mạn phép dịch theo hình thức sau đây (Qúy độc giả muốn có nguyên bản Ý ngữ, cũng như đoạn bàn về phân tích văn phạm liên hệ đến lối chia động từ trên, xin liên lạc với chúng tôi. Thành thật cám ơn):
"Bổn phận của Quốc Gia là tước bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, "bởi vì liên tục'' giảm thiểu trên thực tế tự do và bình đẳng của người dân, các chướng ngại vật đó "làm cho họ không thể nào" phát triển được toàn diện con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở".
2- Mô hình tổ chức cộng đồng quốc gia
Đọc những tư tưởng vừa kể, chúng ta thấy rõ tính cách chương trình hành động và khuôn mẫu tổ chức tân quốc gia Ý sẽ được xây dựng trong tương lai.
Quốc Gia tương lai của Ý, mà Hiến Pháp 1947 đang phác họa, là một Quốc Gia Dân Chủ Thực Hữu, đứng ra bảo đảm Tự Do và Bình Đẳng của người dân bằng các cơ chế và phương tiện thiết thực.
Ở điều khoản đang xét đến của Hiến Pháp, Quốc Gia có bổn phận "dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội". Ở một điều khoản khác, Quốc Gia có: "Các bổn phận được kể đến trong các điều khoản nầy sẽ được giao phó cho các cơ quan và tổ chức được thiết lập để thi hành hoặc bổ túc" (Điều 38, đoạn 4 Hiên Pháp 1947 Ý Quốc).
Thể thức hành động đó của Quốc Gia, nhằm mục đích loại trừ ảnh hưởng tai hại đang trói buộc, "giảm thiểu tự do và bình đẳng của người dân".
Ảnh hưởng tai hại đó là bức tường chận đứng khuôn mẫu tổ chức Cộng Đồng Quốc Gia Xã Hội tương lai mà Quốc Gia muốn đem lại cho dân tộc mình: "phát huy làm triển nở toàn vẹn con ngườì và người dân tham dự thiết thực vào cuộc sống quốc gia".
Nói cách khác, trong Quốc Gia Dân Chủ Ý trong tương lai (theo tinh thần Hiến Pháp 1947 đang viết), không những người dân được bảo đảm đối với các quyền bất khả xâm phạm của mình dưới hình thức tiêu cực, trong đó không ai được "lộng quyền tuỳ hỷ" đàn áp, kềm kẹp, bắt bớ, lấn áp, không cho họ được hưởng các quyền con người của mình, được Hiến Pháp "nhận biết và bảo vệ":
"Quốc Gia Dân Chủ Ý nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người.." (Điều 2, id.).
Mà Quốc gia còn tạo các điều kiện thích hợp để ngưới dân hành xử quyền và tự do của mình một cách tích cực, "phát huy làm triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào cuộc sống Quốc Gia".
Tóm lại, điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp Ý diễn tả cho chúng ta khuôn mẫu tổ chức Quốc Gia: Bình Đẳng Dân Chủ Thực Hữu và Tự Do Tích Cực, đề tài chúng tôi đã trình bày qúy đọc giả trước đây.
Một câu hỏi được đặt ra: Chủ trương bình đẳng thực hữu về phương diện kinh tế và xã hội (nhất là kinh tế) có phải là ảo tưởng hay không tưởng đối với khuôn mẫu tổ chức Quốc Gia theo thể chế dân chủ tự do không?
Câu trả lời dĩ nhiên tuỳ thuộc ở ý nghĩa "thế nào là bình đẳng thực hữu về phương diện kinh tế và xã hội?".
Trong một quốc gia tự do dân chủ, Quốc Gia không thể nào cho mình tôn trọng dân chủ, bảo đảm tự do, nếu không đứng ra bảo đảm những phương tiện tối thiểu để thực thi các ước vọng căn bản đó: "Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật bởi vì giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân...".
Nói cách khác, quyền tự do và bình đẳng (đặc điểm thiết yếu của dân chủ) để (liberté à...) mặc nhiên hàm chứa tự do và bình đẳng khỏi (liberté de...).
Quốc gia dân chủ tự do không thể bảo đảm cho người dân được hưởng và hành xử tự do và quyền chính trị "tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở", nếu không "dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội...".
Bởi đó, một học giả nổi tiếng về luật hiến pháp của Cộng Hoà Liên Bang Tây Đức đã xác nhận sự ngưỡng mộ của ông đối với Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý Quốc, khi ông nghiên cứu điều khoản mà chúng ta đang bàn đến: "Trong tinh thần Hiến Pháp Ý, không ai có thể cho rằng sự bình đẳng thực hữu giữa các công dân với nhau là điều không tưởng. Bởi vì lý luận như vậy là lối suy tư ở ngoài đường lối suy tư hữu lý của Hiến Pháp. Các quyền tự do được Hiến Pháp bảo vệ loại bỏ tư tưởng vừa kể. Ngay cả chỉ nội sự bình đẳng thuần túy kinh tế thôi, cũng được hàm chứa trong các quyền căn bản của con người..." (Pier Giorgio Lucifredi, Appunti di Diritto Costituzionale Comparato, Sistema RFT, Giuffré, Milano 1992, 117).
Một vấn đề khác cũng được đặt ra, đó là tư tưởng "bình đẳng thực hữu" (nhứt là bình đẳng kinh tế) có phải là chủ trương của chủ thuyết cộng sản (Cs) không? Nói cách khác, Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý Quốc có phải là Hiến Pháp theo khuôn mẫu các Hiến Pháp Cộng sản hay ít nhứt là chịu ảnh hưởng của tư tưởng Cs.
Việc Cs chủ trương đánh tư sản, ngoại bản, phú ông, cường hào ai trong chúng ta cũng nghe nói đến, nếu không phải chính chúng ta là nạn nhân của những vụ đấu tố đó.
Dĩ nhiên, nếu áp dụng câu tục ngữ "Tam nhân đồng hành ắt hữu ngã sư", thì không ai chối cãi được ảnh hưởng của nhiều tư tưởng thế nào cũng để lại dấu vết trong lối suy tư của chúng ta. Trong câu "Tam nhân đồng hành..." vừa kể, người giỏi hơn chúng ta dĩ nhiên là chúng mà ta có thể học hỏi được những điều hay điều tốt từ bậc trưởng thượng. Ngược lại chúng ta vẫn có thể thấy được những lối suy nghĩ sai trái, những hành động điên rồ để tiên liệu trước, tránh hậu họa cho tương lai.
Karl Marx cho rằng "các điều bất tiện nầy (quyền bình đẳng cần phải thực hiện) là điều không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản, vừa thoát thai, sau một thời gian cưu mang lâu dài, ra khỏi xã hội tư bản" (Biscaretti di Ruffía, La Costituzione dell'Unione Sovietica del 1977, Giuffré, Milano 1994, 218).
Nhận thức được "các điều bất tiện nầy" hiện hữu trong các chế độ tư bản là một chuyện, cho rằng chỉ có khuôn mẫu xã hội cộng sản là phương thức duy nhứt để giải quyết vấn đề là chuyện khác.
Nhứt là phương thức giải quyết của Cs, san bằng mạt rệp hết mọi từng lớp xã hội, trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tố chống tư sản, ngoại bản, cường hào, trí thức, giết hại, đẫm máu đồng bào ruột thịt là hành động điên rồ, chúng ta cần nhận thức để tránh hậu họa cho tương lai.
Xã hội các quốc gia tân tiến Tây Âu hiện nay không phải là mô hình nổi bật trong đầu óc của Marx ở thế kỷ 19 nữa. Nền kinh tế tiến bộ của họ đã biến lối kết cấu xã hội theo mô thức kim tự tháp trong lối suy tư của Marx (với đáy kim tự tháp là đại đa số dân chúng bần cùng nghèo khổ và chóp đỉnh là thiểu số giàu có chiếm lấy hết tài nguyên trong tay).
Hình ảnh xã hội hiện tại của các quốc gia tiến bộ Âu châu được mô tả như một cái ché đựng nước ở Việt Nam. Thành phần vô sản, bần cố nông của Marx ở dưới đáy được thu nhỏ lại. Bụng của ché phình ra, thành phần trung lưu trong xã hội được tăng trưởng gấp bội: nhà cửa có, xe cộ có, công ăn việc làm có, vô số người đậu đạt ở bậc đại học... Thành phần ở chóp đỉnh, tức là ở miệng ché, thành phần tỷ phú vẫn là một số ít không đáng kể trong xã hội.
Các quốc gia dân chủ Tây Âu, trong đó có cả Ý, quốc gia mà chúng ta đang bàn đến là một trong 7 quốc gia kỹ nghệ nhứt thế giới (G-7), đã biến đổi xã hội nghèo nàn của họ trong thế kỷ 19 (xã hội bất công trong tâm thức của Marx), thành xã hội thịnh vượng hiện tại mà không cần đến đấu tố, xương máu, hận thù của Cs. Họ đã biến đổi quốc gia thành thịnh vượng với tiến trình sản xuất của kinh tế tự do và sự can thiệp hiến định trong tinh thần dân chủ, tự do, nhân bản vào kinh tế:
"Sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do".
Không
ai được hoạt động kinh tế ngược lại với lợi ích xã hội hoặc gây tai
hại, thương tổn đến nền an ninh, tự do và nhân phẩm con người.
Pháp
luật xác định chương trình và kiểm soát thích hợp để cho hoạt động kinh
tế công cũng như tư để có thể được định hướng và phối hợp cho mục đích
xã hội" (Điều 41, doạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Song song với thành phần trung lưu trong xã hội Tây Âu được nới rộng, nhu cầu phân phối lại lợi tức cũng thay đổi và cả cơ cấu chính trị kinh tế quốc gia cũng không còn theo mô thức của thế kỷ 19.
Trong xã hội Tây Âu, trung tâm quyền lực quốc gia không phải nằm trong tay thiểu số giàu có nhất của xã hội. Trung tâm quyền lực quốc gia càng không nằm trong tay thành phần "vô sản bần cố nông", thành phần nồng cốt (hay được gán cho là nồng cốt) của tâm thức XHCN hay Cs chủ nghĩa. Vì thành phần vô sản bần cố nông, chỉ là thiểu số trong xã hội. Chính giới trung lưu mới là đa số lãnh đạo quốc gia, nơi tập hợp các chính đảng, đương quyền hay đối lập cũng vậy.
Và trong xã hội Tây Âu hiện nay, không ai cho rằng quan niệm bình đẳng xã hội là tư tưởng độc quyền của chủ thuyết Cs. Có chăng đó là một sự pha trộn lý tưởng của nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, trong đó có lý tưởng dân chủ tự do đặt niềm tin vào khả năng tiến bộ mà sáng kiến cá nhân là yếu tố chính yếu không thể thiếu, lý tưởng nhân bản bắt nguồn từ niềm tin Thiên Chúa Giáo, lý tưởng bảo thủ cổ truyền nhằm củng cố vững mạnh các cơ chế quốc gia, lý tưởng xã hội chủ nghĩa đặt niềm tin vào khả năng tối thượng hơn của cơ chế quốc gia trong việc thăng tiến xã hội.
3- Nội dung của bình đẳng xã hội
Sau khi duyệt xét qua ý nghĩa văn mạch của điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý, chúng ta thử tiến thêm một bước nữa, tìm hiểu nội dung của chính sách "bình đẳng xã hội", mà Quốc Gia muốn đạt được, bằng cách gán cho mình "bổn phận của Quồc gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội".
Nói cách khác: bình đẳng xã hội là gì?
Câu trả lời trước tiên: bình đẳng không phải là "đồng nhứt rập khuôn".
Trong một xã hội bình đẳng không có nghĩa là xã hội trong đó, mọi người
đều đẹp như nhau, nặng ký ngang nhau, chiều cao cùng thước tấc như
nhau, sáng trí như nhau... Xã hội như vừa kể là xã hội đồng nhất rập
khuôn hơn là một xã hội bình đẳng. Và một tổ chức Quốc Gia chủ trương
xã hội đồng nhất rập khuôn là một thể chế quốc gia xuẩn động. Bởi vì
chúng ta khác biệt nhau về nhiều phương diện từ thể xác, năng khiếu đến
trí tuệ, khuynh hướng, sở thích.
Do đó, không ai có thể không tưởng đến chủ trương "mọi người đều bình đẳng về tất cả mọi phương diện". Có lẽ đó chỉ là khuynh hướng xuẩn động XHCN để đi đến "đồng nhất rập khuôn" (identité) thay vì thực hiện ''bình đẳng'' (égalité). Và Gs. Norberto Bobbio, một triết lý gia nổi tiếng của Ý liệt kê một tiến trình từ không tưởng đến hiện thực khả dĩ thực hiện:
- "bình đẳng của tất cả mọi người trong tất cả mọi chuyện",
- "của một vài người trong tất cả mọi chuyện",
- "của tất cả mọi người đối với một vài lãnh vực nào đó",
- "của một vài người đối với một vài lãnh vực" (G. Sartori, Elementi di teoria politica, Il Mulino, Bologna 1986, 205).
Và Gs. A. Cerri, thuộc viện Đai học L'Aquila (trung Ý) cho rằng thái độ không tưởng của XHCN là không chịu dừng lại nơi Gs. N. Bobbio vừa dừng lại ở trên, người cộng sản còn muốn đi xa hơn nữa: "... bình đẳng của không một người nào hết không đối với cái gì hết hay bình đẳng của tất cả mọi người trong lầm than khốn nạn hay trong vô vọng" (G. Sartori, id., 210).
Chúng
tôi nghĩ rằng thái độ khôn ngoan nên có là chúng ta nên dừng lại nơi
hai yếu tố cuối cùng được Gs. N. Bobbio liệt kê ở trên:
- "bình đằng của tất cả mọi người đối với một vài lãnh vực nào đó" - và "bình đẳng của một số người trong một vài lãnh vực".
Trong xã hội thực tại, chúng ta không thể tìm đâu ra nguyên cớ cho việc kỳ vọng vào một nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối. Có chăng chúng ta chỉ có thể chấp nhận một hình thức "giả tạo bình đẳng" nào đó, dựa trên một vài yếu tố tương đồng (để thiết lập ra nguyên tắc hay quyền bình đẳng). Từ đó chúng ta "tuyệt đối hoá" các yếu tố tương đồng đó và làm ngơ đối với các yếu tố dị biệt khác, để kỳ vọng nguyên tắc hay quyền bình đẳng trên như là một thực hữu tuyệt đối. Nói tóm lại, thể chế dân chủ tự do và nhân bản ''nhìn nhận và bảo vệ nhân phẩm con người bất khả xâm phạm", ngang hàng nhau đối với tất cả mọi người, "nhìn nhận và bảo vệ" mọi người đều có cơ hội thuận tiện như nhau để được hưởng các quyền căn bản của mình, kể cả các quyền chính trị, kinh tế, xã hội, "bổn phận của Quốc gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội" để cho mức độ cuộc sống người dân không bao giờ tuột xuống thấp hơn một mức độ tiêu chuẩn nào đó.
Đó là ý nghĩa của nguyên tắc bình đẳng thực hữu xã hội, ý nghĩa mà các vị soạn thảo điều 3, tiểu đoạn 2 Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý muốn nêu lên như là lằn mức để thực hiện.
"Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội" không phải để tạo nên thể chế bình đẳng "của tất cả mọi người đối với mọi lãnh vực", mà là "của tất cả đối với một vài điều nào đó".
Một vài tác giả nhấn mạnh đến "một vài điều nào đó" như là "bình đẳng có được các cơ hội thuận tiện như nhau", kể cả việc được bảo vệ sức khỏe, mức sống khang trang thỏa đáng như nhau.
Một số tác giả khác cho rằng "... đối với một vài điều nào đó'' là bình đẳng đối với "các điều kiện khởi hành" như nhau, vì "mọi người được sinh ra bình đẳng như nhau".
Từ xác tín đó, quyền được học vấn, quyền làm việc, quyền đưọc bảo vệ sức khoẻ nằm trong thể chế bình đẳng xã hội được Hiến Pháp ''nhận biết và bảo vệ". Dù sao đi nữa, thì Quốc Gia không bao giờ thiếu sót bổn phận mình trong việc bảo vệ cho các quyền vừa kể, không bao giờ để cho mức sống của dân chúng hạ xuống dưới mức tối thiểu.
4- Áp dụng
Chúng ta thấy đối với tất cả mọi người Hiến Pháp "nhìn nhận và bảo vệ nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" như nhau, bảo đảm cho mọi người đều có cơ hội như nhau để được hưởng tất cả các quyền căn bản của con người, bằng cách đứng ra nhận lãnh trách nhiệm bảo đảm cho mọi người dân đều có một mức sống và địa vị tối thiểu.
Chắc chắn mức sống và địa vị tối thiểu đó, Quốc gia không có ý bảo đảm cho những thành phần thành đạt trong xã hội. Không phải quốc gia dân chủ tự do và nhân bản Tây Âu nói chung và Ý nói riêng là những tổ chức kỳ thị, phân chia giai cấp, "đánh tư sản, ngoại bản, phú ông, cường hào", mà chính vì những giai cấp đó là nhưng thành phần thành đạt, không cần phải được bảo vệ. Chắc chắn Quốc Gia không cần phải để tâm đến việc kỹ sư, bác sĩ, luật sư, kỹ nghệ gia... có đủ ăn đủ mặc cho bằng chú tâm đến giới công nhân, ở vị thế làm việc thuộc hạ tầng trong hãng xưởng, những người dân chưa bao giờ hội nhập được vào chu kỳ sản xuất hoặc đã bị sa thải. Những hạng người đó được Hiến Pháp dành cho những điều khoản dưới đây:
"Người
công nhân được quyền thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất công
việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng phải đủ để bảo đảm cho
mình va cho gia đình mình một cuộc sống tự do và khang trang" (Điều 36, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
- "Các
công nhân có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ các phương tiện
thích hợp đáp ứng lại các nhu cầu đời sống trong trường hợp tai nạn,
bệnh tật, tàn phế, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" (Điều 38, đoạn 2, id.)..
- "Để
nâng cao vai trò việc làm trong kinh tế và xã hội và đáp ứng thích hợp
với các nhu cầu sản xuất, Quốc Gia Cộng Hoà Dân Chủ Ý nhìn nhận quyền
của công nhân được cộng tác, trong thể thức và giới mức pháp định, vào
việc quản trị xí nghiệp" (Điều 46, id.).
Và nếu Quốc Gia bảo đảm cho mọi người đều có cơ hội thuận tiện như nhau (cơ hội như nhau để khởi hành):
"Học đường được mở cửa cho tất cả mọi người.
Học vấn ở cấp bậc thấp được giảng dạy miễn phí, ít nhứt là tám năm (mười bốn năm với tu chính án mới), bắt buộc và miễn phí.
Những ai có khả năng và đáng được tưởng thưởng, mặc dầu thiếu phương
tiện vẫn được quyền học hành đến trình độ cao nhứt của nền học vấn.
Quốc Gia biến quyền nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình
và các hình thức tiên liệu khác, được cấp cho qua các cuộc thi tuyển" (Điều 34, đoạn 1-4, id.).
hoặc "Quốc Gia bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của mỗi cá nhân và lợi ích của cộng đồng xã hội..." (Điều 32, id.) thì chính Quốc Gia đứng ra bảo đảm, trợ giúp một cách đặc biệt những thành phần cần được nâng đỡ.
Đó
là: "Người nữ công nhân có các quyền và việc làm như nhau cũng được thù
lao như nam công nhân. Các điều kiện làm việc phải thiết định thế nào
để người nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết
yếu của mình trong gia đình, phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ một
sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp"..
"Luật pháp xác định giới hạn tuổi tác tối thiểu cho việc làm có lương bổng".
"Quốc Gia bảo đảm việc làm của vị thành niên bằng những điều khoản luật
đặc biệt và bảo đảm cho vị thành niên cũng được thù lao lương bổng đồng
đều, đối với việc làm như nhau" (Điều 37, đoạn 1-3, id.).
Đối với những người nghèo khổ, tàn tật:
"... (Quốc Gia) bảo đảm sức khoẻ, chữa trị miễn phí đối với những ai thiếu thốn" (Điều 32, id.).
"Mọi công dân không làm việc được và thiếu phương tiện cần thiết để sống có quyền được trợ cấp và cứu tế xã hội" (Điều 38, đoạn 1, id.).
"Quốc Gia nhìn nhận quyền của gia đình như là một xã hội tự nhiên, được xây dựng trên nền tảng hôn nhân" (Điều 29, đoạn 1, id.).
"Cha mẹ có quyền và bổn phận nuôi dưỡng, dạy dỗ và giáo dục con cái, dầu cho con cái sinh ra ngoại hôn cũng vậy" (Điều 30, đoạn 3, id.).
"Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng, pháp luật sẽ tiên liệu để cha mẹ khỏi phải chu toàn bổn phận của mình" (Điều 30, đoạn 2, id.).
"Quốc
Gia dành mọi phương tiện kinh tế và các thể thức tiền liệu khác dễ dãi
để gia đình được thành lập và chu toàn các bổn phận liên hệ, cùng những
biệt đãi đối với những gia đình đông con" (Điều 31, đoạn 1, id.).
"Các công dân bệnh hoạn, tật nguyền và khiếm khuyết cũng có quyền được giáo dục và huấn nghệ để khởi công nghề nghiệp" (Điều 38, đoạn 3, id.).
Nói tóm lại, khuôn mẫu tổ chức cộng đồng xã hội quốc gia được Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý Quốc đề ra là bình đẳng trên "nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" đối với bất cứ ai.
Quốc Gia đứng ra tạo cơ hội, cung cấp phương tiện cho mọi công dân đồng đều nhau để tất cả đều có cơ hội thuận tiện như nhau "phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở".
Nhưng
đặc biệt Hiến Pháp còn quan tâm, chú ý và ưu đãi những thành phần yếu
thế trong xã hội: giới thợ thuyền, gia đình gặp những cản trở khó khăn
để được thành lập, người nữ công nhân và người mẹ, trẻ thơ và thanh
thiếu niên cần được trợ giúp, bảo trợ, nuôi dưỡng và giáo dục, bậc cha
mẹ gặp khó khăn trong việc chu toàn quyền và bổn phận làm cha mẹ của
mình, người nghèo khổ không có phương tiện để sinh sống và chữa trị,
người bị bệnh hoạn, tàn tật, kém cỏi... Tất cả những trường hợp vừa kể,
Quốc Gia có bổn phận phải chăm lo:
"Các bổn phận
(của quốc Gia) được liệt kê (trong các điều khoản trên đây) sẽ được các
cơ quan và tổ chức được thiết lập để chu toàn hoặc bổ túc" (Điều 38, đoạn 4, id.).
Đó là khuôn mẫu tổ chức xã hội bình đẳng trong tinh thần dân chủ thực hữu và nhân bản.
Bình đẳng trong tinh thần dân chủ thực hữu và nhân bản không có nghĩa là "san bằng mạt rệp" hay "mọi người đều bình đẳng trong khốn cùng tuyệt vọng" mà là khuyến khích những thành phần có khả năng nỗ lực sản xuất sinh lợi, tạo thêm phú cường cho Quốc Gia, đồng thời ưu đãi những kẻ yếu thế, giúp họ luôn cải tiến đời sống vượt lên khỏi mức sống cùng cực tối thiểu, bằng các hành động can thiệp trực tiếp của Quốc Gia vào đời sống kinh tế và xã hội, như các điều khoản Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý màchúngta vừa có dịp đọc qua.
5- Ngăn cản không cho họ phát triển toàn vẹn con người...
"Phát triển toàn vẹn con người" như thế nào?
Thế nào là phát triển toàn vẹn và không toàn vẹn? Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý không đưa ra một định nghĩa để xác định.
Phát triển toàn vẹn có nghĩa là con người được hưởng trọn vẹn các quyền được Hiến Pháp "nhìn nhận và bảo vệ..." chăng?
Nhưng nếu "phát triển toàn vẹn con người" chỉ có vậy, thì Hiến Pháp đã lập đến hai lần để nói lên một mục đích duy nhứt.
Hiến Pháp vừa tuyên bố ở mệnh đề trước đó (dưới dạng thức gerundio) là bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, "vì đang giới hạn tự do và bình đẳng của người dân...", với mục đích giải toả để người dân được hưởng tất cả các tự do và bình đẳng đó. Thì không có lý do gì Hiến Pháp lập lại một lần nữa "các quyền tự do và bình đẳng" bằng những ngôn từ khác ở liên hệ mệnh đề kế tiếp "cản trở không cho họ phát triển toàn vẹn con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở".
Đọc điều 3, tiểu đoạn 2 trong tinh thần văn mạch vừa kể, chúng ta thấy rằng Quốc Gia đứng ra tạo điều kiện thuận lợi "tước bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội", để người dân được hưởng "tự do và bình đẳng thực sự".
Nhưng mục đích cuối cùng của Quốc Gia không phải chỉ có vậy, mà là nhờ được hưởng thực sự "tự do và bình đẳng đó", người dân "phát triển được toàn vẹn con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở". Và đó mới là mục đích cuối cùng và cao thượng mà Quốc Gia nhằm đến. Nhưng như trên chúng ta đã nói Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý không đưa ra định nghĩa thế nào là "phát triển toàn vẹn con người".
Có lẽ Hiến Pháp 1949 hiện hành Cộng Hoà Liên Bang Đức, một Hiến Pháp gần như sinh đôi đối với Hiến Pháp 1947 của Ý, xét về thời gian (1947-1949) cũng như về nội dung, có thể giúp cho chúng ta một vài tư tưởng.
Và sau đây là điều khoản tương tự của Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đối với Hiến Pháp 1947 của Ý:
"Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó".
Điều khoản vừa được trích dẫn nói lên tính cách bảo vệ nhân phẩm, như
một thực thể bất biến (statique). Để có quan niệm về tính cách sinh
động (dynamique) của "on người toàn vẹn" trong tư tưởng của Hiến Pháp Ý, chúng ta phải đọc điều khoản kế tiếp của Hiến Pháp 1949 CHLBĐ:
"Mỗi người có quyền phát triển tự do chính con người của mình, miễn là không gây tổn thương đến các quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý" (Điều 2, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Điều khoản vừa kể nêu ra quyền của mỗi cá nhân được Hiến Pháp bảo vệ trong tính cách sinh động (dynamique), sáng kiến (initiative) và hoạt động chuyển biến để đạt tới.
Đọc thoáng qua những lằn mức được Hiến Pháp 1949 quy định trong việc con người hoạt động để phát triển nhân cách của mình "không gây tổn thương quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và luật lệ luân lý"
chúng ta có cảm tưởng như là Hiến Pháp 1949 CHLBĐ không tuyên bố đìều
gì mới lạ, chỉ lập lại những công thức cũ của khuynh hướng tự do đối
với việc lạm dụng quyền và tự do. Thật ra Hiến Pháp 1949 CHLBĐ không
phải chỉ bảo vệ con người bằng những lằn mức bên ngoài vừa kể (quyền
của người khác, thể chế hiến định và lề luật luân lý) mà còn bảo vệ cho
sự phát triển "nội tại" không hạn định của con người:
"mỗi người có quyền phát triển tự do chính con người của mình".
Trở
lại Hiến Pháp 1947 hiện hành Ý mà chúng ta đang bàn, điều 2 của Hiến
Pháp cho chúng ta một nhãn quan trong đó con người năng động (actif)
phát triển nhân cách của mình:
"Quốc Gia nhìn nhận
và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá
nhân hay con người trong cộng đồng xã hội, nơi con người phát triển
nhân cách của mình...".
Còn nữa ở điều 3, tiểu đoạn 2, đoạn văn mạch mà chúng ta đang bàn đến:
''Bổn
phận của Quốc Gia là tước bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện
kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật, vì đang giới hạn thực sự
tự do và bình đẳng của người dân, cản trở không cho phép họ phát triển
toàn vẹn con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính
trị, kinh tế, xã hội của xứ sở''.
Qua hai đoạn vừa trích dẫn của Hiến Pháp Ý, chúng ta thấy rằng ngoài ra tính cách năng động (dynamique) của con người, tức con người luôn đang trên đà phát triển ''phát triển tự do con người của mình" và "... nơi con người phát triển nhân cách của mình... và... cho phép họ phát triển toàn vẹn con người của mình...", Hiến Pháp Ý còn đặt con người trong một bình diện khác, bình diện liên đới xã hội.
Con người trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không phải chỉ là con người được ''phát triển toàn vẹn'' đơn độc, con người được triển nở tột đỉnh, nhưng là con người tròn trịa hoàn hảo như trái banh billard, đơn độc, không tương quan, liên hệ với ai hay có liên hệ với người khác cũng chỉ là mối liên hệ tiêu cực trong lằn mức "miễn là không gây thương tổn đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý".
Con người trong Hiến Pháp 1947 Ý được đặt trong chiều hướng xã hội tích cực.
Khả năng phát triển "toàn vẹn con người" của tôi, chiều kích phát triển "toàn vẹn con người" của tôi cũng được dùng để phục vụ tiến trình và chiều kích "triển nở toàn vẹn con người" của anh.
Đó là ý nghĩa chiều hướng xã hội mà Hiến Pháp 1947 Ý có ý bảo vệ cho con ngưới được "phát triển toàn vẹn":
"... con người như cá nhân hay trong cộng đồng xã hội, nơi con người phát triển nhân cách của mình".
Qua những điều vừa suy tư cũng như tài liệu trích dẫn theo văn mạch mà chúng tôi vừa đề nghị đến qúy bạn đọc. Chiều kích "phát triển toàn vẹn con người" của Hiến Pháp 1947 Ý, chúng ta không thể hiểu được hết ý nghĩa sâu sắc của nó, nếu chúng ta không đặt con người liên hệ với các chiều hướng tự nhiên do bản tính con người đòi buộc: "hướng thiện, hướng Thiên và hướng tha".
Con người luôn đứng trước chiều hướng sâu thẳm của lương tâm mình, luôn luôn bị thu hút bởi nguồn hấp lực từ nguồn gốc nơi mình phát xuất và luôn luôn liên kết với anh em đồng loại mình trong cuộc sống.
Đó là lý do tại sao Hiến Pháp 1947 Ý chỉ giới hạn dẹp bỏ đi các chướng ngại vật để tạo điều kiện thuận lợi cho con người tự "phát triển toàn vẹn con người của mình", chứ Quốc Gia không đứng ra "phát triển toàn vẹn con người" thay cho người dân được.
Bởi lẽ những tầm mức "con người toàn vẹn" như vừa kể, không những không phải là bổn phận của Quốc Gia, mà cũng vượt quá tầm tay và khả năng của quốc gia. Và cũng chính vì lý do đó mà Quốc Gia Ý cũng như Hiến Pháp Ý không đưa ra, cũng như không thể đưa ra định nghĩa thế nào là "phát triển toàn vẹn con người" . Trương độ, cao độ và chiều sâu của "con người toàn vẹn" vượt hẳn khả năng của chính trị và chỉ có tôn giáo mới cho chúng ta câu giải đáp thỏa đáng.
Để kết luận, chúng tôi xin được trích câu định nghĩa về chủ thuyết nhân vị học:
"Chủ
thuyết nhân vị học không có thiên chức làm gác dan (gardien) của viện
bảo tàng, cho dù đó là viện bảo tàng tây phương, viện bảo tàng latinh,
viện bảo tàng nhân chủng học tư bản hay viện bảo tàng của Thiên Chúa
Giáo đã qua cũng vậy... Con người tuyệt đối không bao giờ có thể đụng
phớt qua như là một yếu tố cố định, một sự vật tồn kho... bởi vì con
người tuyệt đối là một toàn phần của cả lịch sử con người... bởi đó
đứng ở một thời điểm nào đó của toàn phần lịch sử, không xác định đối
với quá khứ và mờ mịt hướng về tương lai, một quan sát viên con người
không bao giờ có thể đưa ra một câu định nghĩa thỏa đáng về bản tính
con người" (Jacques Maritain, Umanesimo integrale, Studium, Roma 1946, 218).
Hiểu được như vậy, chúng ta có thể hiểu thế nào là "nhân phẩm cao cả" của con người mà Hiến Pháp Ý 1947 hiện hành Ý Quốc muốn đề nghị với chúng ta trong quan niệm xã hội nhân bản, nhứt là cho những Quốc Gia chưa có được một thể chế Nhân Bản và Dân Chủ như Việt Nam hiện tại.