LTS. Buổi sinh hoạt "Nhạc trong thơ Tuệ Sỹ" sẽ tổ chức tại phòng sinh
hoạt chùa Bảo Quang, 713 N. Newhope St, Santa Ana, CA 92703. Điện
thoại: (714) 554-1287. Vào 2 giờ chiều thứ bẩy 15-4-2006. Trong buổi
này, tuyển tập "Tuệ Sỹ Đạo Sư" sẽ được phát hành, cũng như các CD nhạc
của nhạc sỹ Trần Quan Long phổ nhạc từ thơ của Thiền-sư Tuệ Sỹ. Buổi
này sẽ được trực tiếp truyền thanh và truyền hình qua mạng lưới toàn
cầu trên diễn đàn Paltalk, Room "Thơ nhạc Thích Tuệ Sỹ."
Nơi
đây, Việt Báo xin phép trích đăng một bài trong tuyển tập "Tuệ Sỹ Đạo
Sư" để giới thiệu cùng độc giả. Bài này của thi sĩ triết gia Phạm Công
Thiện viết, nguyên khởi từ năm 1994, nhan đề "Kỷ Niệm 50 Năm Sinh Nhật
Tuệ Sỹ -- Buổi Chiều Nắng Hạ Đọc Thơ Tuệ Sỹ." Đây cũng là một trường
hợp hy hữu, khi thiên tài họ Phạm viết về thiên tài thi sĩ thiền sư Tuệ
Sỹ. Bài viết như sau.
*
Tôi đang ngồi nơi giảng đường của
chùa Diệu Pháp ở California tại Huê Kỳ, chung quanh đầy tiếng chim kêu
trên những cây chanh, những cây bằng lăng và những cây thông, cây tùng
và những bông mộc lan trắng đang nơủ đầy hàng cây trên đồi dọc theo
đường thoải xuống dưới kia thành phố Monterey Park.
Ngồi trên đồi cao nhìn ra xa có những rặng núi "như quáng nắng, như giấc mộng, như thành phố giữa sa mạc"...
Tôi
muốn giành buổi chiều ngày hạ hôm nay để đọc lại thơ cua Tuệ Sỹ, một
người bạn trẻ tài ba mà tôi đã quen biết thân thiết từ lúc Tuệ Sỹ mới
khoảng 19 tuổi; rồi từ năm 1966, từ Paris tôi trở về Sài Gòn và ơủ lại
cho đến năm 1970, trong bốn năm trời, dường như không có ngày nào chúng
tôi không gặp mặt nhau và chia xẻ vui buồn với nhau trên mọi bình diện.
Tôi lìa Việt Nam từ năm 1970 cho đến hôm nay, như thế có nghĩa
rằng 24 năm nay tôi đã xa lìa Tuệ Sỹ và chưa được dịp gặp lại. Trong
thời gian ấy, Tuệ Sỹ bị Cộng Sản nhốt tù từ năm 1979 cho đến năm 1981,
và sau cùng từ năm 1984 cho đến năm nay, mười năm liên tục, Tuệ Sỹ vẫn
bị Cộng Sản nhốt tù và bị xưủ tưủ hình, rồi giảm xuống chung thân hay
hai chục năm cấm cố. Lần cuối cùng tôi gặp Tuệ Sỹ thì Tuệ Sỹ mới 26
tuổi.
Chiều nay, tôi giựt mình chợt nhớ rằng năm nay Tuệ Sỹ đã
50 tuổi rồi. Thế thì không còn là chú tiểu Tuệ Sỹ mà là một đại thượng
tọa Thích Tuệ Sỹ! Dù trong cảnh tù ngục đói khổ trăm điều, thiền sư
thiên tài Tuệ Sỹ vẫn bất khuất và hùng khí vẫn ngùn ngụt cao ngất như
đỉnh Trường Sơn mà nhà thơ Tuệ Sỹ vẫn trọn đời ngưỡng vọng yêu thương
trên những con đường oanh liệt khai mở cho Sử Tính quê hương được vượt
thoát ra ngoài chế độ Cộng Saủn, cái chế độ hoang phế tàn tạ mà Tuệ Sỹ
gọi là "tha ma mộ địa". Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ "Ngục Tối" của
Tuệ Sỹ:
Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế
Một kiếp người ray rứt bụi tro bay
Tôi ngồi mãi giữa tha ma mộ địa
Lạnh trăng tà lụa trắng trải rừng cây
Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỉ
Quì run run hôn mãi lóng xương gầy
Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã
Để hồn ta theo đốm lửa ma trơi.
Bốn câu thơ cuối đã nói hết tất ca thế giới điêu tàn cua Cộng Sản Việt Nam hiện nay:
Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỉ
Quì run run hôn mãi lóng xương gầy
Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã
Để hồn tan theo đốm lửa ma trơi
Hai câu thơ cuối cùng của bài "Ngục Tối" nói lên ý chí hực lưa đốt cháy tất cả gỗ mục của tâm thức hạ liệt:
Khi tâm tư vẫn chưa là gỗ mục
Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời
Bốn câu thơ cuối của bài "Giao Hưởng Bóng Tối" rực sáng lên đôi mắt trí huệ "đáo bỉ ngạn" của Tuệ Sỹ:
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỉ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao
Tuệ Sỹ còn có những bài thơ ngắn mà âm vang phơi phới như ngọn gió rừng:
Lận đận năm chầy nữa
Sinh nhai ngọn gió rừng
Hàng cà phơi nắng lụa
Ngần ngại tiếng tha phương
(Năm Tàn)
Bài
Trầm Mặc đưa chúng ta đi vào sự trầm mặc ung dung, không hẳn bi quan và
không hẳn lạc quan, coi cuộc đời "như quáng nắng, như giấc mộng, như
thành phố giữa sa mạc: tất cả sự hiện khởi, tồn tục và biến mất đều như
vậy" (như câu kệ của Long Thọ mà Tuệ Sỹ đã trích dịch trong quyển Triết
Học Về Tánh Không của mình):
Anh ôm chồng sách cũ
Trầm mặc những đêm dài
Xót xa đời khách lữ
Mệnh yểu thế mà hay
(Trầm Mặc)
Bài
Thoáng Chốc ửng hiện lên âm hưởng thơ mộng, huyễn, bào, ảnh cuủa Kim
Cương Kinh, phối hợp bình đẳng với lòng Đại Bi sâu thẳm:
Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.
(Thoáng Chốc)
Tình
yêu chỉ thực sự tình yêu, tình người chỉ thực sự là tình người, vì trực
thức rằng tất cả đều là khoảnh khắc chiêm bao. Mỗi khi mình trực nhận
rằng chính mình cũng là "khoảnh khắc chiêm bao" thì sự bừng dậy tỉnh
thức toàn diện vụt chợt tới và từ đó mình đứng dậy lao thân vào hành
động thuần túy của một bậc Bồ Tát để giải thoát con người ra khỏi tất
cả lao lung của đời sống. Tuệ Sỹ đã sẵn sàng đi vào tù để chuyển y tâm
thức khả dĩ phá tung tất cả tù ngục nhân sinh.
Chúng ta hãy đọc bài "Tôi vẫn đợi" cua Tuệ Sỹ:
Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khoé miệng rưng rưng
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sư
Dài con sông tràn máu lệ quê cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái bình dương
Người ở lại với bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bong
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về Cõi Mộng
Như sương mai như bóng chớp mây chiều.
(Tôi vẫn đợi)
Một bài thơ lục bát của Tuệ Sỹ có những câu khó quên:
... Sầu trên thế kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa nắng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời Đông
Trời ơi tóc trắng rũ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Đêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh.
Bài thơ của Tuệ Sỹ mà tôi yêu thích nhất là bài "Một bước đường":
Một bước đường thôi nhưng núi cao;
Trời ơi, mây trắng đọng phương nào?
Đò ngang neo bến đầy sương sớm;
Cạn hết ân tình nước lạnh sao?
Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi.
Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa.
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng Thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh
Tôi
không thể làm việc phê bình thơ; tôi chỉ muốn cho Thơ của Tuệ Sỹ tự
hiện diện từ chính nơi tự tánh cuủa Thi Ca, không cần sự can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp cuủa một cái gì khác bên ngoài, như chính Tuệ Sỹ đã
tự nói trong hai câu đầu một bài thơ chữ Hán do Tuệ Sỹ làm:
Tự tâm tự cảnh tự thành chương
Tự đối bi hoan diệc tự thưởng
(Tác Thi Sự)
và Thi sĩ Vân Nguyên đã dịch:
Cô độc cảnh tâm thơ tự xuất
Tự ngắm buồn vui tự thưởng thức
hay dịch sát nghĩa:
Từ lòng mình, tự cảnh vật, tự thành chương cú
Tự đối mặt với những buồn vui rồi tự mình thưởng thức
Thay
vì "chương cú" như Vân Nguyên đã dịch sát nghĩa, tôi muốn dịch thoát
trùng khơi là "chương khúc"... Nhưng Vân Nguyên đã tài tình chuyển là
"THƠ TỰ XUẤT".
Mấy chục năm qua, Tuệ Sỹ đã làm rất nhiều thơ,
nhưng Ni Cô Tuệ Hạnh chỉ thu nhặt được mấy chục bài và cho in lại với
nhan đề thi tập là Ngục Trung Mị Ngữ, do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản.
Đặc biệt trong thi tập này có 18 bài thơ mà Tuệ Sỹ làm thẳng bằng chữ
Hán, có một bài làm xúc động tâm hồn tôi đến cực điểm, bài Cúng Dường:
Phụng thử ngục tù phạn
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian trường huyết hận
Bỉnh bát lệ vô ngôn
Thượng Tọa Viên Lý dịch lại như sau:
Hai tay nâng chén cơm tù
Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên
Thế gian huyết hận triền miên
Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào.
Nhà thơ Vân Nguyên cũng có dịch như sau:
Dâng chén cơm tù lên
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian tràn oán hận
Ôm chén lòng khóc thầm.
Tất
cả hành động chính trị thường tình đều phiến diện; ý thức chính trị
toàn diện chỉ được thể hiện nơi một con người vừa là thi sĩ vừa là
thiền sư đạo sĩ vừa là nhà hành động nhập thế với tinh thần "vô công
dụng hạnh" của bậc Bồ Tát, hành động tích cực mãnh liệt toàn triệt mà
vẫn giữ cảm thức viễn ly và viễn mộng. Vì không tham vọng ích kỷ mù
quáng cho nên mới nuôi dưỡng cảm thức viễn ly, vì không bị kẹt dính vào
tham, sân và si của thế tục cho nên mới hàm dưỡng viễn mộng. Làm chính
trị mà biết mơ mộng và sống thơ mộng, biết viễn ly và viễn mộng, khó
thấy lắm trong lòng thực tại bi đát cuủa quê hương hiện nay.
Tuệ
Sỹ là một trong số ít đạo sĩ thi nhân với pháp khí phi thường là Trí
Huệ Bát Nhã cùng với lòng Đại Bi Thơ Mộng, Tuệ Sỹ là một trong số ít
thể hiện được ý nghĩa trọn vẹn của Ý thức chính trị toàn diện, ý thức
hành động Bi Trí Dũng dẫn đường soi sáng Thế Mệnh của Sử tính quê
hương.
Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật 50 năm của Tuệ Sỹ, qua đài
phát thanh Nhà Nước Úc Châu SBS, và nhờ lời mời của nhà thơ Ngọc Hân,
vị phụ trách chương trình Việt ngữ của đài SBS, tôi xin thân yêu gửi
một quà tặng bí mật đến thiền sư thi sĩ Tuệ Sỹ: tất cả năng lực tâm
linh và tinh thần của vũ trụ được súc tích cô đọng trong câu đại thần
chú đạo sư Tây Tạng Liên Sinh Bồ Tát: OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI
HUM!
California, ngày 20 tháng 6, 1994.