Làm sao bỏ được thói chuộng bằng cấp?

Theo Người Việt - Ngô Nhân Dụng - 16-08-2006

Một người bạn tôi đã làm việc cho một công ty ngoại quốc ở Việt Nam, sau lại về Việt Nam tính kinh doanh riêng trong ngành điện toán. Anh mới than rằng sinh viên Việt Nam hầu hết không biết cách viết bản tiểu sử (résumé) khi nộp đơn xin việc. Trong bản tiểu sử, họ chỉ cho biết họ tên với bằng cấp và kê khai lý lịch, chú trọng rất nhiều đến lý lịch; chứ không mô tả các kinh nghiệm trong công việc đã làm, như các sinh viên Việt Nam sống ở Mỹ thường vẫn được huấn luyện.

Một sinh viên ở Mỹ trước khi ra trường đã biết cách viết bản “resume” để đi xin việc. Trong khi làm việc, họ vẫn gửi resume đi tới các công ty, xí nghiệp khác để tính chuyện đổi chỗ làm cho được điều kiện tốt hơn. Trong bản resume người xin việc kê khai các chức vụ cũ mình đã đảm nhận. Nhưng cái tên gọi một chức vụ không có nghĩa gì cả, cho nên bao giờ người ta cũng kê khai trong chức vụ đó mình có những trách nhiệm nào, nhân viên dưới quyền mình có mấy người, họ làm những việc gì. Bằng cấp chỉ là một dòng chữ trong mấy trang tiểu sử. Và người ta không cần phải kê khai tên cha mẹ, quê quán gốc ở đâu, cũng không kể thành tích trong cuộc đời song thân mình.

Người tuyển mộ đến nước Việt Nam thấy nhiều người xin việc, phần lớn đã ra trường từ lâu chứ không phải sinh viên mới tốt nghiệp, chỉ chú trọng tới bằng cấp và lý lịch. Nếu kê khai kinh nghiệm cũ thì cũng chỉ nói mình đã làm ở cơ quan nào, công ty nào, với chức phận gì, thế thôi. Nhận được mấy ngàn lá đơn xin việc không biết nên lọc lựa (screening) như thế nào để chọn lấy một số người mời tới phỏng vấn. Mà mời tất cả những người cùng bằng cấp như nhau, cùng có “lý lịch tốt” như nhau thì công ty tuyển mộ không có đủ thời giờ phỏng vấn họ.

Trên đây chỉ là kinh nghiệm của một nhà kinh doanh, nhưng chúng ta cũng có thể thấy những dấu hiệu của tình trạng một xã hội. Thứ nhất là bệnh lý lịch, đã trở thành một cố tật mà các nhà phê bình trong nước đã than phiền nhiều lắm. Một thời dân ta đã có thành ngữ “Học tài, thi lý lịch.” Tại sao người ta coi trọng lý lịch như vậy? Bắt đầu là do đảng Cộng Sản muốn tạo nên một giai cấp gồm những người tận trung với Ðảng, sống chết với Ðảng, dành các quyền ưu tiên cho giai cấp này để họ chia nhau quyền lợi trong việc quản trị cả xã hội. Mặc dù các xí nghiệp tư và công ty ngoại quốc không quan tâm đến lý lịch của nhân viên, nhưng nhiều người đi xin việc vẫn lo sợ rằng ở chỗ nào cũng có con mắt giám sát của Ðảng; đừng hòng chạy đâu thoát. Cho nên tốt nhất nên khai rõ mình có một “lý lịch tốt.” Ông bạn tôi nói rằng có những điều về lý lịch trong các đơn xin việc không liên quan gì tới công việc đang tuyển người, mà còn có thể vi phạm vào việc bảo vệ đời tư nữa. Ở Bắc Mỹ, một xí nghiệp không được quyền hỏi tên cha mẹ nhân viên, không được hỏi tới nguồn gốc gia đình, quê quán của người ta, vi phạm điều đó có thể bị kiện. Ở Pháp, nhiều công ty cho phép người xin việc không viết cả tên họ đầy đủ, vì không muốn những người trong ủy ban tuyển lựa bị ảnh hưởng do thành kiến đối với các sắc dân thiểu số. Vì đọc tên một người có thể biết ngay đó là người Algérie, Iran, Việt Nam hay người Trung Hoa, người lựa lọc có thể gạt bỏ ngay một sắc dân mà mình không thích! Vậy mà các thanh niên ở Việt Nam đi xin việc lại sẵn lòng kê khai lý lịch cha mẹ, gia đình, quê quán của mình!

Bệnh thứ nhì là quý trọng bằng cấp. Cái này thì không phải do đảng Cộng Sản đem căn bệnh cấy vào cơ thể dân ta; nhưng đã tiêm nhiễm ít nhất từ đời Lê, đời Nguyễn. Tôn trọng văn học, khuyến khích giáo dục là một truyền thống tốt của Nho Giáo. Nhưng đề cao bằng cấp, coi mảnh bằng là một mục tiêu lớn nhất trong đời, thì đó là sản phẩm của một định chế xã hội, từ Trung Hoa sang Việt Nam cũng như Hàn Quốc. Những người bài xích Khổng Giáo thường lấy căn bệnh chuộng bằng cấp này làm nhược điểm để tấn công các cụ Khổng, cụ Mạnh. Nhưng các ông Khổng Tử, Mạnh Tử có đậu bằng cấp nào đâu? Các môn đệ của họ, Nhan Hồi, Tử Lộ, Công Tôn Sửu, vân vân, nếu được thầy khen cũng nhờ đức hạnh hoặc tài năng chứ có ai được đề cao vì họ đậu bằng cấp nào đâu? Nước Nhật Bản cũng thấm nhuần Nho Giáo từ thời Ðường, Tống; nhưng ngay từ đầu đã không nhập cảng chế độ thi cử. Người Nhật Bản lập trường học để dạy đạo nghĩa Khổng Mạnh cho con cái các sứ quân, các võ sĩ, các thương gia, nhưng họ học để sống tu thân, tề gia, trị quốc chứ không phải để đi thi lấy mảnh bằng tiến sĩ.

Chế độ thi cử có một ưu điểm là tính chất dân chủ, điều này các giáo sĩ Âu Châu từ thế kỷ 16 tới Trung Hoa đã công nhận là hay. Ở Nhật Bản thì khác, các vua chúa tuyển mộ những người cai trị chỉ căn cứ vào các liên hệ cá nhân, gia đình, bộ tộc. Trong khi đó ở Việt Nam, Hàn Quốc hoặc Trung Quốc thì hầu như bất cứ ai cũng có thể làm quan nếu vượt qua được các kỳ thi với chương trình học được công bố mọi người đều biết, không có gì bí mật cả. Hậu quả là có một tầng lớp Nho sĩ với những hiểu biết, quy tắc sống, quy tắc tuyển lựa độc lập đối với những người cầm quyền. Phạm Ðình Hổ kể chuyện ông Chúa Trịnh muốn cho em trai của một ái phi thi đậu, nhưng cũng thất bại trong tổ chức gian lận thi cử. Ðiều đó chế độ thi cử cũng có điều hay, tầng lớp Nho sĩ có thể độc lập với chính quyền. Nhưng định chế xã hội nào dù là ưu điểm cũng có nhược điểm. Coi trọng thi cử, bằng cấp đã đưa tới thói chuộng hư danh, coi thường kinh nghiệm cụ thể. Thanh niên sẽ không đi tìm những hiểu biết khả dụng nhưng không có trong chương trình học để đi thi.

Ở nước ta, thế hệ các nhà Nho đầu thế kỷ 20 đã có nhiều người cổ động phá bỏ óc nô lệ bằng cấp. Phan Tây Hồ cười chê các nhà Nho “Bát cổ văn chương túy mộng trung!” Nhưng một tật xấu chung của xã hội phải mất nhiều công, nhiều thời gian mới xóa đi được. Một điều bất ngờ là những người cộng sản, tự nhận là làm “cách mạng” mà vẫn bảo vệ cái hủ tục cũ, ngay trong cơ chế và trong đời sống của họ. Chuộng hư danh, quý trọng mảnh bằng, không chú trọng đến thực học; đó là một hủ tục từ thời Trịnh Nguyễn mà đến nay nhiều người ở nước ta vẫn còn nhiễm nặng. Ðã nhiều người trong nước than về nạn bằng cấp giả, bằng giả mua được ở nước ngoài càng quý vì khó kiểm tra, khó bị lộ! Trong số báo Người Việt vừa qua, có câu chuyện những “thí sinh” ở tỉnh Tiền Giang đã mời ông chánh chủ khảo hội đồng thi đi ăn nhậu trước ngày thi, mà ông chủ khảo vui vẻ tham dự. Sau đó, có những thí sinh trúng tuyển rồi bị tước bỏ bằng cấp vì khi coi lại thấy họ làm bài giống hệt nhau, giống cả những chỗ viết sai! Tại sao người ta quý mảnh bằng đến nỗi phải tổ chức gian lận thi cử như vậy? Cũng vì chế độ tuyển mộ và thăng thưởng nhân viên coi trọng bằng cấp quá.

Ai nêu gương xấu để cả xã hội duy trì hủ tục này? Hãy coi trong xã hội Việt Nam từ nửa thế kỷ nay, những chỗ nào đóng vai tuyển một và thăng thưởng người làm việc nhiều nhất? Ðầu tiên là các cơ quan nhà nước, rồi đến các xí nghiệp quốc doanh. Khi chọn người làm việc, khi thẩm lượng để thăng thưởng, họ coi trọng lý lịch, họ đề cao bằng cấp, từ đó cả xã hội tiêm nhiễm các thói xấu này. Cho nên người bạn tôi về Việt Nam kinh doanh mới than phải đọc những đơn xin việc chủ yếu là nêu bằng cấp và lý lịch.

Nói cho công bằng, anh bạn tôi công nhận có những nơi liệt kê những bản tiểu sử người tìm việc theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, như khi đọc trong một địa điểm mạng lưới của Bộ Lao Ðộng chẳng hạn. Nhưng mạng lưới này chú trọng cung cấp công nhân cho các xí nghiệp nước ngoài theo chương trình xuất khẩu lao động! Các bạn trẻ khác khi đi xin việc ở Việt Nam, chắc hẳn họ phải biết cái địa chỉ mạng lưới trên mà vào coi, tại sao họ không bắt chước để viết các bản tiểu sử cho chính mình theo tiêu chuẩn quốc tế? Chỉ có thể giải thích là họ đã tập nhiễm một thói quen không thể bỏ được; vì nghĩ rằng làm việc ở trong nước, dù làm cho một xí nghiệp tư, cũng vẫn phải theo đúng các quy ước lâu đời và bền chặt mà đảng Cộng Sản đã ấn định! Phải nêu cao bằng cấp và chứng minh lý lịch tốt!

Bệnh trọng bằng cấp cũng là một phần trong những căn bệnh của nền giáo dục nước ta. Trong mục này đã đề cập tới bệnh tranh đua nêu “thành tích” mà các nhà giáo trong nước đã vạch ra. Trên dưới đua nhau báo cáo thành tích lên lớp của học sinh trong lớp mình, trong trường mình mà không chú trọng tới việc giáo dục thật. Nếu chỉ nhìn vào thống kê số học sinh tốt nghiệp trung học ở Việt Nam thì không ai biết tình trạng học vấn của các học sinh đó như thế nào. Một nhà giáo ở thị xã Bắc Ninh nói với tôi rằng nếu một học sinh lớp 12 mà làm được bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia đã là một điều may mắn rồi! Tôi không muốn tin nhưng vẫn phải tin, vì đây là một đảng viên trên 20 tuổi đảng. Trên giả vờ dạy, dưới giả bộ học, trên dưới đều nói dối lẫn nhau, cả hai cùng nói dối cả xã hội chung quanh mình. Mà điều buồn cười là cả xã hội biết như vậy nhưng vẫn chấp nhận các màn dối trá đó. Trong tuần báo The Economist số tuần trước có một bài viết về thành tích kinh tế của Việt Nam, nêu ra nhiều con số phấn khởi, dù không bằng Trung Quốc. Tuy Việt Nam nói chung vẫn là một nước nghèo nhất Á Châu, lợi tức bình quân vẫn thua Ấn Ðộ, nhưng tuần báo này nêu một thành tích là có ba phần tư trẻ em trong lớp tuổi trung học đang được đi học, tỷ lệ này gần bằng Thái Lan và Phi Luật Tân và hơn cả Trung Quốc lẫn Ấn Ðộ. Ðọc con số này thì chúng ta phải bật cười. Vì nhà báo chỉ biết các con số thống kê nhưng không biết cái “bệnh thành tích” trong các trường học trầm trọng như thế nào! Các học sinh trung học đó được học những cái gì?

Cái bệnh suy tôn thành tích đó bắt nguồn từ “chính sách thi đua” tạo thói quen giả dối mà các đảng Cộng Sản đã tập cho cả nước, từ Nga Xô, Trung Quốc đến Việt Nam. Nó cũng là sản phẩm của một chế độ coi việc nói dối giỏi là một thành tích lớn, vì nói dối là một lợi khí tuyên truyền từng đưa tới thắng lợi. Khi những người miền Bắc Việt Nam vào Sài Gòn để gặp những họ hàng mới “được giải phóng” năm 1975, người ta mới biết tất cả những gì đảng Cộng Sản tuyên truyền về cảnh “chính quyền ngụy” áp bức các đồng bào miền Nam trong cảnh đói khổ, là nói dối. Nhưng không ai đặt vấn đề phải lật mặt nạ cái chế độ dối trá đó cả. Ông Krutchev bên Nga dám lật mặt nạ của Stalin từ nửa thế kỷ nay, nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam thì vẫn che đậy. Những người Việt tỉnh ngộ thì bị gán cho tội “xét lại,” đến bây giờ vẫn phải mang nhãn hiệu đó không bỏ được!

Muốn cho thanh niên Việt Nam bỏ được cái óc nô lệ bằng cấp mà những Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đã đả phá từ trăm năm trước, cần phải hủy bỏ cái chế độ chuộng dối trá. Phải tập tính thật thà. Thật thà là cha quỷ quái. Cần giảm bớt bộ máy quan quyền. Cần thay thế các doanh nghiệp nhà nước bằng các xí nghiệp tư. Cần thiết lập các đại học tư để đào tạo những sinh viên có thực học, chứ không phải chỉ sản xuất bằng cấp. Ðó đều là những việc có thể làm được. Và cần làm ngay!


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_lam_sao_bo_duoc_thoi_chuong_b.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.