Nhân
ngày 30 Tháng Tư, tôi viết bài này để kính tặng đồng bào tôi, đặc biệt
các bậc trưởng thượng, bậc đàn anh của tôi là những người đã từng hy
sinh tuổi thanh xuân, xương máu, trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự chủ
cho miền Nam đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975, và cuối cùng tiếp tục chiến
đấu đến khi vào tù, để cho người khác đủ thì giờ lên phi cơ, xuống tàu
di tản ra hải ngoại lánh nạn Việt Cộng. Bài viết này cũng là một hình
thức tôi dành để tâm tình với những anh chị em cùng niềm tin trong Chúa
với tôi, là những người từng hưởng đời êm ấm, tự do thờ phượng Chúa tại
các thành phố, dưới sự bảo vệ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Trong
cuộc đời của mỗi chúng ta, ngoài những kỷ niệm đẹp, ai cũng có những kỷ
niệm buồn không quên được. Người ta gọi đó là dấu ấn sâu đậm trong cuộc
đời. Có người thời thơ ấu vì bị ngược đãi, hoặc chứng kiến cảnh tượng
hãi hùng, đến khi về già vẫn còn nhớ như in trong trí, và mỗi khi gặp
cảnh tương tự như thế thì tinh thần bị chấn động. Có người lúc còn trẻ
dại bị người lớn nhồi nhét vào đầu những hình ảnh tiêu cực không đúng
sự thật, liên quan đến đấng sanh thành mà mình không được gần gũi. Khi
lớn lên, dù nạn nhân có đủ bằng chứng là những gì mình biết trước đó là
sai sự thật, nhưng vẫn không làm sao bôi xóa những điều đáng quên đã in
đậm trong tâm trí của nạn nhân... Ðó là lý do tại sao, trong ngành sư
phạm người ta khuyến cáo các bậc thầy cô phải tránh tối đa để không vô
ý viết sai trên bảng, trên sách, dù sau đó được lập tức sửa lại. Trong
phạm vi gia đình, có những người con bị cha mẹ, anh em ruồng bỏ, hoặc
những bậc cha mẹ bị các con đối xử tệ bạc... Dù họ tìm cách bỏ qua,
không trách hờn, cố lãng quên nhưng không dễ gì phai nhòa những hình
ảnh phũ phàng mà họ từng chứng kiến.
Trong
tình yêu, có người bị người tình, người phối ngẫu phản bội, dù không
chủ trương thù hằn nhưng mỗi khi có ai vô tình hay cố ý nhắc đến, thì
lòng họ quặn đau... Văn chương Việt
Tôi
viết bài này trong giai đoạn mọi người tưởng niệm biến cố 30 Tháng Tư.
Ðối với người Việt Nam tự do, ngày 30 Tháng Tư là một ngày đau thương,
ngày miền Nam Việt Nam bị quân Cộng Sản Bắc Việt thôn tính trọn vẹn,
ngày mà cả hai miền Nam-Bắc hoàn toàn rơi vào ách thống trị bạo tàn của
những kẻ vô thần. Tại hải ngoại, hằng năm, người Việt khắp nơi tổ chức
ngày 30 Tháng Tư trong tinh thần “Quốc Hận 30 Tháng Tư” để kỷ niệm biến
cố lịch sử đau thương của dân tộc, hoặc tổ chức ngày “Quốc Kháng 30
Tháng Tư” để lên tiếng tranh đấu chống lại những bất công và đàn áp tàn
bạo do chế độ Việt Cộng áp đặt lên nhân dân Việt Nam.
Trong
các sinh hoạt có tính cách đấu tranh, sinh hoạt cộng đồng, thì người ta
thấy hầu hết những người nhận mình là “Ðạo Tin Lành” thường không muốn
tham dự vì ngại dính dấp đến chính trị. Ðây cũng là sự chọn lựa rất
bình thường trong phạm vi sinh hoạt tự do, dân chủ. Thế nhưng, những
người phản ứng như thế cũng đều biết là: Nếu xét đến bổn phận căn bản
của một người công dân bình thường, thì dù là ai, cũng phải làm tròn
trách nhiệm của mình đối với quê hương, dân tộc trên trần gian này. Là
một Cơ Ðốc Nhân, tôi biết trong Thánh Kinh có dạy: Con dân Chúa là phải
tuân phục những chính quyền biết lo cho hạnh phúc người dân, kính kẻ
đáng kính, phục kẻ đáng phục (Rô-ma 13); phải lên tiếng bênh vực cho
những người thấp cổ bé miệng (Châm-ngôn 31:8-9); kẻ nào làm chứng dối,
nói tốt cho kẻ ác sẽ bị dân tộc rủa sả và gớm ghiếc, còn ai quở trách
kẻ ác sẽ được đẹp lòng Chúa và phước hạnh sẽ giáng lên người đó
(Châm-ngôn 24: 24-25); kẻ biết điều lành mà chẳng làm là phạm tội
(Gia-cơ 4:17). Ngoài ra, tôi cũng biết rằng Chúa Jesus khi còn ở trần
gian, Ngài từng cầu nguyện với Ðức Chúa Trời rằng: “Con chẳng cầu Cha
cất họ ra khỏi thế gian, nhưng con xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác”
(Giăng 17:15)
Căn
cứ vào những gì tôi đề cập, vậy thì câu hỏi được đặt ra là: Vào những
ngày mọi người kỷ niệm 30 Tháng Tư thì Cơ Ðốc Nhân phải phản ứng thế
nào? Ðây là một câu hỏi khá hóc búa liên quan đến một vấn đề hết sức
gai góc mà hàng giáo phẩm Tin Lành thường không muốn nhắc đến. Nếu có
nhắc, cũng chỉ trong tinh thần: khuyên mọi người nên tìm cách lãng
quên, tha thứ cho kẻ thù; phải có tình yêu thương; phải nhịn nhục, nhân
từ; người cộng sản cũng cần được cứu ra khỏi tội lỗi... Ðây là những
lời dạy đã được chép bàn bạc trong Thánh Kinh. Thế nhưng, thiết nghĩ
chúng ta cũng cần áp dụng đúng đối tượng, đúng lúc và đúng nơi, chứ
không thể nói chung chung hay nói một chiều. Chúng ta không thể nói hay
dạy người khác những điều mà chính chúng ta không bao giờ áp dụng vào
đời sống của mình, hoặc có khi còn làm ngược lại. Câu nói “người Tin
Lành không làm chính trị...” chỉ là câu nói khôn ngoan của một số vị
trong hàng lãnh đạo Tin Lành ngày xưa đã phản ứng khi phải khước từ hợp
tác với Hồ Chí Minh và đảng Việt Cộng mời gọi góp phần áp đặt Chủ Nghĩa
Cộng Sản lên đất nước Việt Nam lúc bấy giờ, chứ không phải đây là những
lời bất di bất dịch của Thánh Kinh để chúng ta dựa vào đó mà né tránh
trách nhiệm.
Trước
khi chúng ta đi sâu vào những điều có liên quan đến tiêu đề của bài
viết. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa đích thực của hai chữ “tha thứ” để
chúng ta thấy rõ những gì mình đang quan tâm. Trọn bộ Thánh Kinh, hai
chữ “tha thứ” được nhắc đến tất cả 43 lần trong 37 trường hợp khác
nhau. Ý nghĩa tha thứ trong Thánh Kinh được đề cập về sự tha thứ mà
Thiên Chúa dành cho con người, và chính con người dành cho nhau. Tôi
xin nói ngay: Tha thứ tức là bỏ qua, chứ không phải vì khiếp nhược mà
không dám nhắc đến, hoặc dung dưỡng những điều sai trái bằng những mỹ
từ: tình yêu thương, lòng nhịn nhục, nhân từ, hay lấy câu Kinh Thánh
“khôn như rắn, đơn sơ như chim bồ câu” để làm cái vỏ bọc cho sự né
tránh trách nhiệm bằng lối giả hình mà Chúa Jesus từng lên án những tập
đoàn thầy thông giáo của Do Thái ngày xưa. Liên quan đến ý nghĩa “tha
thứ”, Kinh Thánh chép: “Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng
thương xót, tha thứ nhau như Ðức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Ðấng
Christ vậy. (Ê-phê-sô 4:32)
Chúng
ta thường nghe giảng dạy trong các nhà thờ là “hãy quên và tha thứ ”.
Chúng ta cũng thường nghe một số người chủ trương và kêu gọi “quên quá
khứ, xóa bỏ hận thù” nhưng cảnh người dân vô tội bị chế độ Việt Cộng
đàn áp cũng không hề thuyên giảm bên cạnh những tiếng kêu lạc điệu về
những chủ trương trông có vẻ hài hòa, đạo đức nửa vời này. Người ta tìm
cách bao che tội lỗi của những kẻ gây ra bao nhiêu tội ác tại Việt Nam
rằng: “Kẻ thù của dân tộc Việt Nam là nạn nghèo đói và lạc hậu” và
người ta kêu gọi chất xám hải ngoại về giúp nước, thế nhưng người ta
không đủ công bằng và liêm sỉ để nhìn nhận nguyên nhân nào đã gây ra
nạn nghèo đói và lạc hậu tại Việt Nam?
Chúa
Jesus từng khuyến cáo các môn đệ của Ngài rằng: “Các ngươi hãy giữ lấy
mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ, và nếu họ ăn năn,
thì hãy tha thứ.” (Lu-ca 17:3)
Áp
dụng cách tha thứ, chúng ta thấy Chúa Jesus dạy chúng ta là: Hãy giữ
lấy chính bản thân mình, đừng phạm tội. Nếu biết anh em nào đã phạm
tội, hãy quở trách họ, (Biết chắc và có bằng chứng là họ phạm tội, chứ
không phải nghe những lời đồn đãi vu vơ) nếu người phạm tội biết ăn
năn, thì hãy tha thứ. Chúa không dạy chúng ta là cứ làm tội, rồi sử
dụng quyền lực, vây cánh để chễm chệ xét tội người khác. Chúa dạy đối
với kẻ gây ra tội ác, phải lên tiếng tố cáo, quở trách họ. Và nếu những
người phạm tội thật lòng ăn năn thì chúng ta mới tha thứ, chứ Chúa
không dạy tha thứ cho những kẻ ngoan cố, hay dạy chúng ta ngu khờ trước
sự gian manh của những con cáo già đội lốt cừu non. Theo tôi, thay vì
kêu gọi “quên và tha thứ” một cách chung chung, chúng ta cần tìm cách
giúp đỡ nạn nhân của các loại tội ác, có một cuộc sống ổn định để bù
đắp lại những ngày khốn nạn mà họ từng trải qua.
Thay
vì kêu gọi “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù”, chúng ta cần tiếp tay để
chấm dứt các tội ác, bất công, tàn bạo, được chế độ Việt Cộng tiếp tục
áp đặt lên những người dân vô tội. Nếu chúng ta không làm được những
điều đó, mà chỉ biết hùng hồn dạy mọi người phải “quên và tha thứ” một
cách thiếu thực tế, là đạo đức giả, là trốn tránh trách nhiệm, là lừa
dối chính mình. Chỉ kêu gọi “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù” mà không dám
ngăn chận những nghịch lý đã và đang xảy ra tại Việt Nam là bất công,
là dung dưỡng tội ác, là chiêu bài của những kẻ gian manh, là lối ngụy
biện của những kẻ mơ hồ về Chủ Nghĩa Cộng Sản, là hành động dối trá,
chứ không phải đạo đức.
Làm
sao mà quên được hình ảnh thân nhân của mình bi mang ra đấu tố, chôn
sống trong cái gọi là cải cách ruộng đất năm 1954 tại miền Bắc, hoặc bị
quân Việt Cộng tàn sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968. Làm sao mà quên
được những năm tháng dài, bị hành hạ, bị tra tấn, bị đối xử như một con
vật trong các nhà tù mà chế độ Việt Cộng gọi là “trại cải tạo”. Làm sao
mà quên được khi con em, chồng cha của họ bị giam cầm hằng chục năm
trong tù, hay phải gục ngã ở những vùng rừng thiêng nước độc, trong khi
nhà cửa bị tịch thu, tài sản bị chế độ Việt Cộng cướp giựt một cách
công khai, khiến cho họ phải sống lê la trên vỉa hè hay những vùng kinh
tế mới dành cho những người của “chế độ cũ”.
Những
người đàn bà Việt Nam có chồng bị tù, phải nuôi cha mẹ mình, cha mẹ
chồng và đàn con dại, chịu những bất công ngược đãi của công an khu
vực; sự tàn bạo, nhẫn tâm của những tên cai tù tại các trại giam chồng
của họ, thì làm sao mà quên được? Làm sao những phụ nữ Việt Nam mảnh
khảnh có thể quên được cảnh bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp trên đường
vượt biên, vượt biển, vì không thể tiếp tục sống với chế độ Việt Cộng
độc tài? Làm sao những người con gái thời xuân sắc phải bấm bụng bán
thân để nuôi đàn em nhỏ dại đang cần được no lòng khi cha mẹ bị cầm tù,
có thể quên được những quá khứ tủi nhục đó? Làm sao những người được
trưởng thành trong đau khổ, từng bị ngược đãi, khinh miệt, có thể quên
được quá khứ đau thương của họ?
Chẳng
những chúng ta không quên những đau thương mà người khác tạo ra, nhưng
còn phải nhớ để dặn chính mình đừng bao giờ phạm những điều ấy. Nhắc
đến những tội ác không phải để thù hằn, nhưng để giúp mọi người hiểu rõ
sự thật và để thế hệ mai sau biết mà tránh. Cơ Ðốc Nhân phải góp phần
ngăn chận tội ác bằng những lời cầu nguyện và những hành động cụ thể.
Cơ Ðốc Nhân không thể hối lộ kẻ gian để được yên thân còn ai chết mặc
ai.
Cơ
Ðốc Nhân không thể làm chứng dối về những điều “thật nhưng không thật”,
về những ưu đãi mà kẻ gian dành cho mình để mờ mắt người nhẹ dạ, che
đậy những tội ác mà họ đối với anh em mình, với đồng bào mình. Cơ Ðốc
Nhân không cường điệu trong lời làm chứng, hay làm cho người khác hiểu
sai giữa kịch tính, và ơn phước thật của Chúa...
Nói
tóm lại, ngày nào những bất công còn, chúng ta còn nói đến những điều
đó. Ngày nào nhà thờ còn bị đóng cửa, bị cào sập, con dân Chúa còn bị
Việt Cộng đàn áp thì ngày đó chúng ta còn kêu gọi thế giới can thiệp.
Ngày nào đồng bào Việt Nam chúng ta còn sống trong cảnh đói nghèo và
lạc hậu thì ngày đó chúng ta còn tranh đấu và còn nhớ đến tội ác của
Việt Cộng... nhưng không phải để thù hằn như đã nói. Chúng ta không nhớ
để rủa sả, hay nhớ bằng cử chỉ hít hà, tắc lưỡi theo kiểu giả hình,
nhưng nhớ để góp phần chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam. Vậy thì, nếu
đồng bào ta, anh em ta vẫn còn bị chế độ Việt Cộng đọa đày thì chúng ta
không “làm sao mà quên được”?
Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361
Salem, OR 97307
(503) 949-8752
E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |