Họ
là một hình thức sở hữu huyết thống, nguồn gốc, sở hữu tổ tiên của con
người. Con người mang cái sở hữu ấy suốt đời, truyền từ đời này sang
đời sau. Bắt đầu một kiếp người, cùng với việc đặt tên, mỗi người liền
có “họ”. Sở hữu nòi giống đảm bảo an toàn cho quá trình tiến hóa, tránh
bị thoái hóa. Thứ sở hữu này ở loài người có lẽ có trước cả ngôn ngữ.
Bằng chứng là ở một số loài khỉ, những con có chung huyết thống cũng
biết không bao giờ giao phối lẫn nhau. Cùng với việc hình thành ngôn
ngữ, khái niệm “họ” (tính) liền được thiết lập, đồng thời với việc phân
biệt các cá thể bằng cách đặt tên. Từ đó, “họ” và “tên” luôn luôn đi
kèm với nhau. Trong đó “họ” chỉ huyết thống, còn “tên” chỉ cá thể.
Khó
ai thống kê cho hết thiên hạ có bao nhiêu họ. Thời phong kiến gọi là
“bách tính” (trăm họ), cũng như bây giờ gọi “nhân dân”. Vua ngày trước
vì “bách tính” mà (miễn cưỡng?) ngự trên ngai vàng. Bây giờ cũng vì
nhân dân mà (đành?) phải... quên mình...?
Họ
bên Tàu phức tạp, rắc rối hơn ta nhiều. Có khi lấy họ đặt tên cho đất
(ví dụ đất Ðường, đất Ngu...) Có khi lấy tên đất đặt cho họ (ví dụ họ
Ðào, họ Tiết...) Lại có khi lấy quách chức quan mà làm họ (ví dụ họ Tư
Mã...)
Dù
thế nào thì bên Tàu cũng không dùng họ của vua để đặt tên cho triều
đại, mà dùng tên đất (nơi phát tích - quê hương của kẻ lập nên triều
đại ấy) để gọi (ví dụ nhà Minh, nhà Thanh...) Khác hẳn với bên ta dùng
họ của vua để đặt tên triều đại (ví dụ nhà Lý, nhà Trần...) Ðây chính
là một trong những ý thức độc lập, tự chủ (về mặt chính trị) của ông
cha ta ngày trước, quyết không chịu nhất nhất cứ phải bắt chước theo
“thiên triều”. Tên triều đại không có nghĩa là tên nước (quốc hiệu). Ðó
là hai danh từ riêng hoàn toàn khác nhau, một đằng chỉ “nhà” (tên triều
đại), một đằng chỉ “nước” (quốc hiệu). Chẳng ai gọi nước Lý, nước
Trần... mà vẫn cứ là nước Ðại Việt. Cũng như chẳng ai gọi nước Minh,
nước Thanh... mà vẫn cứ là... nước Tàu.
Tuy
nhiên, nước ta (hình như) có một ngoại lệ duy nhất là vào thời Hồ Quý
Ly ngắn ngủi (vỏn vẹn bảy năm 1400-1407). Hồ Quý Ly vốn có tổ tiên là
người đất Ngu bên Tàu xiêu dạt sang ta. Sau khi cướp ngôi nhà Trần, ông
bèn rập khuôn theo cách của Tàu để đặt tên cho triều đại mình, gọi là
triều Ðại Ngu. Các nhà sử học xưa nay liệu có lầm không khi cho rằng
“quốc hiệu” của nước ta khi đó cũng là... “Ðại Ngu”?. Gọi là nhà “Ðại
Ngu”, thì cũng giống như việc gọi là nhà “Lý”, nhà “Trần”... trước đó
thôi chứ. Sao tên nước lại cũng đồng thời là “Ðại Ngu” được? Người chép
sử chép như thế, phải chăng đã (vô tình?) đánh đồng tên triều đại với
tên nước? (cũng chẳng khác gì kiểu đánh đồng “chế độ” với... Tổ quốc,
với Dân tộc như hiện nay, nhằm dạy cho học trò rằng yêu Tổ quốc, yêu
Dân tộc tức là yêu... chế độ). Nếu quả như vậy thì chẳng lẽ trước đó,
tên nước ta cũng có thể gọi là nước “Lý”, nước “Trần”... hay sao? Nếu
“Ðại Ngu” (rõ ràng) chỉ là cái tên “nhà” (triều đại), thì tên “nước”
(quốc hiệu) ta thời ấy vẫn cứ là “Ðại Việt” đấy chứ?. Nghĩa là, hiểu
một cách chính thống (theo cách đặt tên của chính Hồ Quý Ly) thì không
có nhà “Hồ”, mà chỉ có nhà “Ðại Ngu” (của họ Hồ), tương tự nhà “Minh”
(của họ Chu) bên Tàu lúc bấy giờ. Cũng như chưa bao giờ có tên nước là
“Ðại Ngu”, mà trước sau, nước ta vẫn tên là “Ðại Việt”. Xin các vị sử
gia “đèn giời” minh xét. Người viết không phải ngại gì cái nghĩa nôm na
của chữ “Ngu” to tổ bố kia mà lý sự nhập nhằng đâu.
Cũng
xin mở ngoặc thêm một tí (gọi là lan man mà). Các nhà sử học đã từng
làm cho dân ta tự hào về một nhánh của họ Lý, do một hoàng tử đời nhà
Lý dẫn đầu, xiêu dạt sang Triều tiên từ thế kỉ 12, có đời đã từng làm
tới chức tể tướng ở bên ấy. Vậy tưởng cũng nên công bằng với một vị
hoàng tôn lừng lẫy đời nhà Trần sau đây. Ấy là vào khoảng những năm
1360-1366, con trai vị “Quốc vương” bán nước Trần Ích Tắc, tên là Trần
Hữu Lượng theo người cha (hèn) chạy sang Tàu. Vào cuối đời nhà Nguyên,
Trần Hữu Lượng đã dám chiêu tập binh mã, đường đường tranh nước với
đích danh Chu Nguyên Chương - vị vua lập nên triều đại nhà Minh (mà ông
suýt thắng Chu Nguyên Chương nếu không bị phản bội). Người viết không
hiểu tại sao Trần Hữu Lượng khi lập nước (ở bên Tàu) lại đặt tên cho
triều đại mình là nhà “Hán”? Trần Hữu Lượng đâu phải người đất Hán? Lại
cũng không gọi theo họ (là nhà “Trần” phẩy chẳng hạn?). Ðiều này phải
chăng có liên quan đến giấc mơ của vua Trần Thái Tông trước khi sinh
hoàng tử Trần Ích Tắc, cho rằng Ích Tắc là người phương Bắc đầu thai?
Mặc dù nhà “Hán” của Trần Hữu Lượng tồn tại ngắn ngủi có bảy năm. Song
cũng phải công nhận ông là một bậc anh hùng cái thế. Ðó gọi là “cẩu
phụ” mà vẫn sinh “hổ tử” đấy. Xin các nhà sử học hãy đừng vì “cẩu phụ”
mà lờ tịt vị “hổ tử” ấy đi. Nói (dại) chứ nếu (chẳng may) mà ông đánh
bại Chu Nguyên Chương, chiếm lấy ít ra thì cũng từ phía nam sông Dương
Tử, hoặc thậm chí toàn cõi Trung Hoa, thì lịch sử cũng như cương thổ
giữa nước ta với nước Tàu ngày nay hẳn sẽ khác đi rất nhiều.
Khái
niệm “họ” từ chỗ chỉ dùng để ghi nhớ gốc gác, tổ tiên, cũng dần dần bị
nhuốm màu sắc khác. Ngày xưa, họ của vua là cao quý nhất, gọi là “quốc
tính”. Vua dùng nó để “ban” cho các bậc công thần. Trần Bình Trọng với
câu nói khảng khái bất hủ: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm
vương đất Bắc” chính là một người được ban “quốc tính”. Ông vốn họ Lê,
dòng dõi Lê Ðại Hành (Lê Hoàn). Vị danh nhân văn hóa thế giới thời Lê
sơ là Nguyễn Trãi cũng được ban “quốc tính”. Các văn bia ông soạn còn
lại cho đến nay đều khắc “bút danh” là Lê Trãi. Ðến đời Lê Thánh Tông
(1460-1497), vị vua anh minh này thấy cái “trò” ban quốc tính ấy càng
ngày càng trở nên phiền toái (đại khái dần dần, nó cũng tệ lậu tương tự
như vấn nạn... “sùng bái lãnh tụ” thời bây giờ). Không những thế, điều
đó chỉ tổ làm cho những kẻ được ban... mất gốc mà thôi. Lê Thánh Tông
bèn xuống chiếu bãi bỏ việc đó, cho phép những ai đã trót “bị” ban quốc
tính được trở về họ cũ. Thế là Lê Trãi lại trở về Nguyễn Trãi.
Ngược
lại với cái thứ “ân huệ” ban quốc tính trên, vì những lý do nhất định,
vua có khi còn bắt bề tôi phải đổi sang họ khác. Như Trần Kiện cùng đám
con cháu hèn nhát chạy theo quân Nguyên, về sau không cho mang họ Trần
nữa, bắt đổi sang họ Mai (thật là oan ức cho những nhà họ Mai vốn vẫn
có từ trước đó). Riêng Trần Ích Tắc vì là chỗ máu mủ ruột thịt nên vua
(Trần Nhân Tông) không nỡ xóa họ. Nhưng gọi là “Ả Trần” (ngụ ý như đàn
bà) cho nó... nhục nhã luôn thể. Lại còn cái thứ kị “húy” mà bắt người
ta phải đổi sang họ khác. Ví dụ thời Lê sơ, vì tránh tên bà mẹ đẻ ra Lê
Thái Tông là Phạm Thị Trần mà bắt những người họ Trần phải đổi sang họ
Trình...
Việc
đổi họ cổ kim còn vô vàn lý do. Nhà thờ họ Bùi ở một làng nọ thờ ông Tổ
là... Trần Thủ Ðộ. Vị Thái sư danh tiếng với câu nói bất hủ trước họa
giặc Nguyên tám thế kỉ về trước: “đầu thần còn chưa rơi xuống đất - xin
bệ hạ đừng lo”. Không phải vì “thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà họ
Bùi làng ấy tôn thờ ông đâu. Ông chính là ông Tổ của dòng họ Bùi ấy
đấy. Nhưng Trần Thủ Ðộ họ Trần. Cớ sao lại là ông Tổ của họ Bùi?
Người
viết bèn đem điều thắc mắc ấy hỏi một cụ cao tuổi họ Bùi. Té ra họ Bùi
làng ấy vốn gốc từ họ Trần thật. Vào thời xa xưa, trong họ sinh chuyện
bất hòa. Một nhánh của họ Trần bèn tách ra lập họ riêng, song vẫn không
muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình. Các cụ thời ấy
bèn đi từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là... ở trần, là không
mặc áo. Không mặc áo thì là phi y (không áo). Chữ phi (Á) và chữ y ghép
lại thành chữ Bùi. Thế là được một cái tên họ. Trần = phi+y = Bùi. Thật
là một cách cấu tạo họ độc đáo.
Có
nhiều câu chuyện tương tự về cái sự cải họ ấy. Ví dụ họ Mạc. Sau khi
Trịnh Tùng (con thứ của Trịnh Kiểm) phò vua Lê dẹp tan nhà Mạc, lập ra
triều đại gọi là Lê Trung hưng. Triều đình Lê Trịnh bắt đầu một cuộc
khủng bố đại quy mô nhằm vào con cháu nhà Mạc. Họ Mạc chạy tứ tán khắp
nơi, phải thay tên, cải họ để tránh những cuộc truy sát. Tuy nhiên, để
ngầm nhắc cho con cháu sau này không quên cái gốc (là họ Mạc) của mình,
các cụ Tổ Mạc thời ấy quy ước với nhau giữ lại bộ thảo đầu trong chữ
Mạc, thành ra các dòng họ Phạm; họ Hoàng... mà chữ viết đều có bộ thảo
đầu ấy.
Lan
man chuyện “họ” tưởng không bao giờ dứt. Trước khi kết thúc, xin “ghé”
một chút sang chuyện... cái chỗ ngồi. Có người hỏi tại sao ngày xưa gọi
vua là “bệ hạ”? “Bệ” là cái chỗ ngồi, “hạ” là dưới “hạ giới”. Vua tự
cho mình là “thiên tử” (con giời), tất có một suất (chỗ ngồi) nơi
thượng giới (chắc phải gọi là... “bệ thượng”). Còn “bệ hạ” là cái chỗ
ngồi của “thiên tử” ở nơi hạ giới. Không dám gọi họ tên vua, chỉ dám
gọi cái chỗ ngồi của vua để tỏ sự kính sợ tuyệt đối. Tập quán ấy bây
giờ vẫn còn đấy. Ðặc biệt đối với các ông “lớn”, cực “lớn”. Ví dụ trong
một cuộc họp có ông Tổng... tên là “M...” tham dự chẳng hạn. Thử hỏi
các đệ tử, lâu la có dám gọi thẳng cổ: “thưa đồng chí “M...” hay không?
Chắn chắn chỉ dám xưng hô: “kính thưa đồng chí Tổng...”. Ô hay!
“Tổng...” chẳng qua chỉ là cái “ghế” thôi chứ?. Thế là cũng không dám
gọi họ tên, mà chỉ dám gọi cái “ghế” của “Tổng...” thì... chẳng phải
cũng để tỏ sự kính sợ là gì? Mới hay tàn dư của chế độ phong kiến (thối
nát) quả là “quét” mãi không sạch.
Lại
“ghé” xin tí nữa sang chuyện... món ăn. Có người thắc mắc sao một số
món ăn cũng mang tên danh nhân, ví dụ chả cá “Lã Vọng”, bò Na pô lê
ông, dê Minh Mạng...?
Không
phải vì danh nhân ấy là người “phát minh”, hoặc “chế” ra cách làm món
ăn đó đâu. Ðơn giản vì tên của danh nhân ấy trước tiên được dùng để làm
tên đường, tên phố. Thế rồi ở cái đường ấy, cái phố ấy bỗng có một
(hoặc vài) quán làm cái món (chả cá, bò, dê...) ấy ăn rất chi là khoái
khẩu, mùi vị đặc biệt không lẫn vào đâu được. Tiếng lành đồn xa, dần
dần, người ta dùng ngay tên đường, phố (cũng tức là tên danh nhân) có
cái quán ấy làm tên của món ăn.
Ở
xứ sở này có một luật bất thành văn(?) Ðó là dù danh nhân, hoặc chức to
cỡ mấy thì cũng phải đợi chết rồi mới được (xem xét) đặt tên đường, tên
phố... Người viết những dòng này khuyên các vị danh nhân, các vị chức
to nếu có cái “phúc” là họ tên mình (trước sau gì) cũng sẽ được ngự
trên các bảng tên đường, tên phố... thì trước khi chết, các vị hãy di
chúc lại rằng trên con đường, con phố ấy, phải đề biển cấm dân gian
không được mở quán... thịt cầy! Kẻo tên mình đến lúc lại trở thành tên
một món ăn gắn liền với cái giống... ăng ẳng kia thì sung sướng cái nỗi
gì mà... lưu danh muôn thuở.
3/2006 (trích DCV)
| Những Bài Liên Quan: |
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |